THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VẾT MỔ NHIỄM KHUẨN CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA PHẪU THUẬT THẦN KINH 2, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng khoa Phẫu thuật thần kinh 2 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, nghiên cứu thực trạng hoạt động chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của 36 điều dưỡng viên với 14 người bệnh có nhiễm khuẩn vết mổ tại Khoa phẫu thuật thần kinh 2 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2024, 2 quan sát viên sẽ quan sát trực tiếp hoạt động chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng bằng bảng kiểm đã được thiết kế sẵn và thống nhất kết quả. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ quy trình thay băng vết mổ nhiễm khuẩn, quy trình vệ sinh tay thường quy của Bộ Y Tế. Kết quả: Tỷ lệ thực hành đạt về chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn chiếm 52,6%, cao hơn tỷ lệ thực hành không đạt là 47,4%. Kết luận: Thực hành đạt về chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn còn chưa cao.

Từ khoá: Vết mổ nhiễm khuẩn, Điều dưỡng

 

ABTRACST

 Objective: To describe the situation of nursing care for infected surgical wounds at the department of neurosurgery 2 – Viet duc hospital university in 2024. Subjects and methods: Cross-sectional description, Study on the sitution of surgical wound infection care of 36 nurses with 14 patients with surgical site infections at Department of Neurosurgery 2 - Viet Duc Hospital university from February to September 2024, two observers directly observe[HH1] d the nursing practice of caring for infected surgical wounds using a pre-designed checklist and agree on the results. The study used the Ministry of Health's toolkit for changing infected surgical wound dressings and routine hand hygiene procedures. Results: The rate of good practice in caring for infected surgical wounds was 52.6%, higher than the rate of unsatisfactory practice of 47.4%. Conclusion: The practice of caring for infected surgical wounds was not high.

 Keywords: Infected surgical wound, Nursing

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn vết mổ là một trong những nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp. Theo Bộ Y tế, nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới 1 năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả [1]. Nhiễm khuẩn vết mổ làm tăng chi phí điều trị, ảnh hưởng xấu đến tâm lý người bệnh và người nhà. Bên cạnh đó, nhiễm khuẩn vết mổ kéo dài thời gian nằm viện, tăng khả năng nhiễm trùng chéo, kháng thuốc, tăng tỉ lệ tái nhập viện và làm tăng đau đớn cho người bệnh [2]. Có nhiều nguyên nhân gây ra nhiễm khuẩn vết mổ, trong đó những nguyên nhân liên quan đến quá trình chăm sóc, điều trị, sử dụng kháng sinh…có thể được hạn chế tối đa khi hoạt động của cán bộ y tế theo đúng các qui trình kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cao trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc. Theo một nghiên cứu tại Mỹ năm 2012, có khoảng hơn 5,7 triệu người bệnh có vết thương mãn tính có thể ngăn ngừa được biến chứng và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn [7]. Chăm sóc vết thương là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng (ĐD) và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị [3]. Nhận thấy vai trò quan trọng của người điều dưỡng trong chăm sóc vết mổ, đặc biệt là vết mổ nhiễm khuẩn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đề tài với mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng khoa phẫu thuật thần kinh 2 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2024, nhằm khảo sát tình trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng, nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị vết mổ nhiễm khuẩn.

 

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
  •  Đối tượng nghiên cứu: Điều dưỡng đang làm việc tại khoa Phẫu thuật thần kinh 2

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2024 đến tháng 09/2024 tại khoa Phẫu thuật thần kinh 2 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Tiêu chuẩn chọn: Điều dưỡng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn tại khoa phẫu thuật thần kinh 2

Tiêu chuẩn loại trừ: Hoạt động thực hành chăm sóc được thực hiện bởi học viên.

Lựa chọn người bệnh: Lựa chọn người bệnh có vết mổ nhiễm khuẩn

  • Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho mô tả cắt ngang

 

Trong đó n là cỡ mẫu ước lượng. Z = 1,96. α= 0,05

P: tỉ lệ thực hành đạt về chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn. p = 0,72. Theo kết quả thực hành đạt trong nghiên cứu của Phạm Văn Dương (2017) là 71,8%

d là độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d = 0,06

Thay các chỉ số vào công thức trên, tính được n = 215. Cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi là khoảng 215 lần quan sát.[HH2] 

Công cụ nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu

Bộ công cụ gồm 2 phần:

Phần 1: Thông tin chung: Tuổi, giới tính.

Phần 2: Quy trình thay băng vết mổ nhiễm khuẩn gồm 18 bước của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐBYT ngày 27 tháng 9 năm 2012. Mỗi câu ĐD thực hành đúng được 1 điểm, không thực hành/ thực hành sai 0 điểm. Tổng điểm tối đa 18 điểm. Sau đó, phân làm 2 mức độ: Mức độ thay băng đạt khi ĐD thực hành đúng 18 bước, không đạt khi ĐD thực hành sai/không thực hành ít nhất 1 bước. Chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn đạt là kỹ thuật thay băng vết mổ nhiễm khuẩn của ĐDV đạt, Chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn không đạt là kỹ thuật thay băng vết mổ nhiễm khuẩn của ĐDV không đạt

Phần 3: Quy trình vệ sinh tay thường quy gồm 6 bước của Bộ y tế ban hành theo quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 [9]. Mỗi bước ĐD thực hành đúng được 1 điểm, không thực hành/thực hành sai 0 điểm. Tổng điểm tối đa 6 điểm. Sau đó, phân loại thực hành kỹ thuật vệ sinh tay thường quy thành 2 mức độ: Vệ sinh tay thường quy đúng khi ĐDV thực hành đúng tất cả 6 bước. Vệ sinh tay thường quy sai khi ĐDV thực hành ít nhất 1 bước sai/ hoặc không thực hiện.

Các bước tiến hành thu thập số liệu:

Nhóm nghiên cứu quan sát trực tiếp hoạt động chăm sóc người bệnh của ĐD. Với mỗi quy trình, hai điều tra viên sử dụng cùng một mẫu phiếu. Sau mỗi lần quan sát một cơ hội thực hành, 2 điều tra viên đối chiếu kết quả đánh giá ở từng bước của quy trình trên 2 phiếu vừa quan sát. Nếu số liệu quan sát của 2 điều tra viên trùng nhau thì được tính là kết quả quan sát thực hành của điều dưỡng đó. Nếu có một bước nào đó trong quy trình có sự khác nhau về kết quả đánh giá, 2 điều tra viên thảo luận và thống nhất với nhau. Nếu một bước nào đó không thống nhất được thì hủy kết quả quan sát đó và quan sát lại cơ hội chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng đó.

Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu được nhập và phân tích trên phần mềm SPSS 22.0.

  1. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của điều dưỡng viên

 Bảng 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính (n=36[HH3] )

Đặc điểm

Số lượng

%

Tuổi

30 tuổi

6

16,7

31 – 40 tuổi

24

66,7

41 đến 50 tuổi

6

16,7

Giới

Nam

7

19,4

Nữ

29

80,6

Nhận xét: Đa số điều dưỡng ở độ tuổi 31 – 40 chiếm 66,7%, từ dưới 30 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ 16,7%; từ 41 – 50 tuổi với tỷ lệ 16,7%. Có 29 điều dưỡng nữ chiếm 80,6% nhiều hơn điều dưỡng nam với 19,4%.

3.2. Thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn

Bảng 2. Thực hành quy trình vệ sinh tay thường quy (n=215)

 

Thực hành vệ sinh tay thường quy

SL

%

B1

Làm ướt tay bằng nước và xà phòng. Chà hai lòng bàn tay vào nhau

201

93,5

B1

Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại

201

93,5

B3

Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay

201

93,5

B4

Chà mặt ngoài các ngón tay này vào lòng bàn tay kia

201

93,5

B5

Xoay ngón tay cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (làm sạch ngón tay cái)

161

74,9

B6

Xoay các đầu ngón tay của tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Làm sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và lau khô

159

74

Nhận xét: Tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt bước làm sạch ngón tay cái và xoay đầu các ngón tay của tay này vào lòng bàn tay kia chiếm tỉ lệ thấp nhất, chỉ đạt 74,9% và 74%

Bảng 3. Phân loại vệ sinh tay thường quy (n=215)

Phân loại vệ sinh tay thường quy

SL

%

Đạt

126

58,6

Không đạt

89

41,4

 

Nhận xét: Tỷ lệ thực hành vệ sinh tay thường quy đạt chiếm 58,6%, cao hơn tỷ lệ thực hành vệ sinh tay thường quy không đạt với 41,4%

Bảng 4. Thực trạng thay băng vết mổ nhiễm khuẩn (n=215)

 

Kỹ thuật tiến hành

Thực hiện đúng

SL

%

B1

Rửa tay hoặc khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn

201

93,5

B2

Mang khẩu trang che kín mũi, miệng

211

98,1

B3

Trải săng vải/giấy không thấm nước dưới vùng thay băng

213

99,1

B4

Tháo băng bằng tay trần. Nếu băng ướt, tháo băng bằng tay mang găng sạch

213

99,1

B5

Đánh giá tình trạng vết mổ

210

97,7

B6

Khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn

154

71,6

B7

Mở gói dụng cụ, sắp xếp dụng cụ thuận tiện cho việc thay băng. Đổ dung dịch rửa và sát khuẩn vết mổ vào bát kền

168

78,1

B8

Vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn và mang găng vô khuẩn

157

73

B9

Dùng kẹp phẫu tích loại có mấu gắp gạc cầu và lau rửa xung quanh vết mổ bằng nước muối sinh lý từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài

213

99,1

B10

Sau khi đã làm sạch xung quanh vết mổ, gắp gạc cầu để thấm dịch và loại bỏ chất bẩn tại vết mổ bằng ô xy già, sau đó rửa lại bằng nước muối sinh lý

210

97,7

B11

Thấm khô và ấn kiểm tra vết mổ bằng gạc cầu hoặc gạc vuông với vết mổ có nhiều dịch

213

99,1

B12

Sát khuẩn vết mổ: Thay kẹp phẫu tích mới loại không mấu để gắp gạc cầu sát khuẩn vết mổ

175

81,4

B13

Lấy miếng gạc bông vô khuẩn kích thước 8 cm x 15 cm (hoặc kích thước phù hợp) đặt lên trên vết mổ, băng kín các mép vết mổ bằng băng dính.

210

97,7

B14

Thu gom bông gạc thừa (nếu có) vào hộp thu gom bông gạc để hấp sử dụng lại

200

93

B15

Thu gom dụng cụ bẩn vào chậu đựng dịch khử khuẩn sơ bộ

211

98,1

B16

Thu gom bông, băng, gạc bẩn vào túi ni lon riêng hoặc thu gom vào túi/thùng thu gom chất thải lây nhiễm trên xe thủ thuật

210

97,7

B17

Gấp mặt bẩn của săng vào trong và cho vào túi thùng đựng đồ vải bẩn

213

99,1

B18

Rửa tay hoặc khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn ngay sau khi kết thúc quy trình thay băng.

213

99,1

Nhận xét: Tỉ lệ điều dưỡng thực hành không đạt các bước khử khuẩn tay chiếm tỉ lệ cao nhất. Khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn trước khi làm thủ thuật đạt là 71,6%, vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn trước khi xỏ găng đạt 73%.  Rửa tay trước khi làm thủ thuật đạt 93,5%, rửa tay sau khi làm xong thủ thuật đạt 99,1%.

Bảng 5. Phân loại thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn (n=215)

Phân loại thực hành

SL

%

Đạt

113

52,6

Không đạt

102

47,4

 

Nhận xét: Tỉ lệ điều dưỡng thực hành thay băng đạt chiếm 52,6%, cao hơn điều dưỡng thực hành thay băng không đạt: 47,4%.

Bảng 6. Mối liên quan giữa [HH4] thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn đạt với rửa tay đạt (n=215)

 

 

Rửa tay

Tổng

 

 

Đạt

Không đạt

Thay băng

Đạt

113

0

113

89,7%

0%

52,6%

Không đạt

13

89

102

10,3%

100%

47,4%

Tổng

126

89

215

100%

100%

100%

 

 

  1. BÀN LUẬN

4.1 Thông tin chung điều dưỡng: Về tuổi của điều dưỡng khoa phẫu thuật thần kinh 2, phần lớn trong độ tuổi 31-40 chiếm 66,7%, dưới 30 tuổi chiếm 16,7% và từ 41-50 chiếm 16,7%. Đây là giai đoạn khoa phòng có ưu thế về nhân lực, tập trung ở độ tuổi trẻ dồi dào nhiệt huyết, năng động mà lại có nhiều kinh nghiệm chăm sóc người bệnh. [HH5] 

4.2 Thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng

Trong một nghiên cứu của Huynh T [HH6] về đánh giá vai trò của ĐD trong quá trình liền thương tại Canada cho thấy điều dưỡng có liên quan đến các bước chăm sóc vết thương bao gồm: Đánh giá người bệnh, xử lý VT, đánh giá tình trạng của vết thương và điều trị vết thương [8]. Trong trường hợp vết thương có dấu hiệu nhiễm trùng, việc chăm sóc của điều dưỡng rất cần thiết để ngăn ngừa sự xâm nhập của các vi khuẩn từ môi trường; loại bỏ mô chết, chất tiết từ vết thương;che chở hạn chế sự tổn thương thêm cho vết thương; thấm hút các dịch tiết, giữ vết thương sạch, ẩm giúp vết thương mau lành. Rất nhiều vết mổ nhiễm khuẩn được đánh giá và xử trí tốt giúp hạn chế những cuộc phẫu thuật làm sạch vết mổ, giảm chi phí điều trị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thực hành đạt chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn là 52,6%, cao hơn tỷ lệ thực hành không đạt (47,4%). Tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một số nghiên cứu khác. Theo Trịnh Văn Thọ, trong nghiên cứu ”Thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021” tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn là 43,5% [4]. Theo Lê Thị Huệ (2017): có 43% Điều dưỡng thực hiện được đầy đủ các bước của quy trình thay băng vết mổ nhiễm khuẩn [5]. Trong nghiên cứu “Đánh giá thực hành chăm sóc vết thương và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2012” của tác giả Ngô Thị Huyền, tỉ lệ điều dưỡng thực hành đúng toàn bộ quy trình thay băng chỉ đạt 38,9%. Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu từ năm 2012. Sau 12 năm, qua nhiều chương trình đào tạo liên tục và chất lượng chăm sóc người bệnh ngày càng được nâng lên, kỹ năng thực hành của điều dưỡng đã tốt hơn.

Tỷ lệ thực hành đạt chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn thường không cao như các tỉ lệ đạt về các câu hỏi kiến thức. Theo nghiên cứu của Geraldine (2012) tại  Anh, qua phỏng vấn câu hỏi với 150 ĐD cho thấy kiến thức của ĐD về đánh giá vết thương rất tốt [6]. Khi thực hành một quy trình bao gồm nhiều bước, việc thực hành đúng tất cả các bước là điều khó. Trong khi đánh giá thực hành đạt là người điều dưỡng phải tuân thủ thực hành đúng tất cả các bước của quy trình đó. Lê Đại Thanh (2008) cho thấy trên 200 lần thay băng, không có lần nào điều dưỡng thực hiện đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá trong quy trình thay bang. Đỗ Thị Hương Thu (2005) chỉ ra 200 lần thực hành, có 21% điều dưỡng thực hành chưa đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng.

Tỷ lệ điều dưỡng thực hành đạt từng bước riêng lẻ trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối cao. Trong 18 bước của quy trình thay băng, có tới 14 bước điều dưỡng thực hành rất tốt, tỉ lệ đạt gần như 100%.

Các bước có tỉ lệ thực hành đạt thấp là:

Bước 6: Khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn, tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt là 71,6%. Đây là bước khử khuẩn tay sau khi đánh giá tình trạng vết mổ và trước khi mở hộp dụng cụ.

Bước 7: Mở gói dụng cụ, sắp xếp dụng cụ thuận tiện cho việc thay băng. Đổ dung dịch rửa và sát khuẩn vết mổ vào bát kền, tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt là 78,1%.

Bước 8: Vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn và mang găng vô khuẩn, tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt là 73%.

Bước 12: Sát khuẩn vết mổ: Thay kẹp phẫu tích mới loại không mấu để gắp gạc cầu sát khuẩn vết mổ, tỉ lệ điều dưỡng thực hành đạt là 81,4%. Lỗi sai là điều dưỡng không thay kẹp phẫu tích mà dùng một kẹp phẫu tích trong suốt quá trình thay băng.

Ở bước 7, những lỗi sai thường gặp là điều dưỡng không sắp xếp dụng cụ, thứ tự gạc miếng và gạc cầu tiện cho việc thay băng, không đổ dung dịch sát khuẩn vào bát kền mà khi thực hành thao tác gắp gạc cầu thì mới đổ dung dịch sát khuẩn vào từng miếng gạc cầu một. Việc không sắp xếp dụng cụ sẽ dẫn tới bất tiện, thậm chí mắc lỗi vô khuẩn do tay đang thực hiện thủ thuật thì cầm nắm vào những dụng cụ vô khuẩn khi chưa dùng tới. Việc sắp xếp gạc cũng rất cần thiết. Những loại gạc dùng sau thì nên được đặt xuống dưới, những loại gạc dùng trước thì đổ lên trên, để đảm bảo việc gắp gạc được dễ dàng và tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc vô khuẩn. Việc đổ dung dịch sát khuẩn vào gạc nên được chuẩn bị từ trước, để khi thao tác gắp gạc sát khuẩn vết thương, điều dưỡng không phải cầm nắm tay vào chai dung dịch rửa, vỏ chai dung dịch không phải dụng cụ vô khuẩn.

Ở bước 12, lỗi sai là điều dưỡng không thay kẹp phẫu tích/panh mới. Trên thực tế, số lượng người bệnh thay băng thường nhiều hơn số lượng hộp dụng cụ. Vì vậy, để tiết kiệm dụng cụ mới, điều dưỡng để dành lại kẹp phẫu tích hoặc panh mới vô khuẩn cho người bệnh tiếp theo. Bước 12 là bước sát khuẩn vết mổ lần cuối cùng để đặt băng gạc vô khuẩn lên vết thương, sau khi toàn bộ quá trình bên trên là sát khuẩn, ép dịch thừa, dịch mủ, cắt lọc, loại bỏ chất bẩn. Vậy nên việc thay kẹp phẫu tích/panh vô khuẩn là rất cần thiết, ngăn ngừa vi khuẩn, dịch bẩn tái lại trên vết mổ vừa làm sạch.

Trong suốt quá trình thay băng, có 4 bước rửa tay, trong đó có 2 bước rửa tay thường quy: trước và sau khi làm thủ thuật, 2 lần khử khuẩn tay nhanh: trước và sau khi mở hộp dụng cụ. Điều dưỡng thường mắc lỗi không khử khuẩn tay nhanh trước và sau khi mở hộp dụng cụ, hoặc có khử khuẩn tay nhanh nhưng không thực hiện đủ các bước rửa tay (6 bước), điều dưỡng thường bỏ qua bước làm sạch ngón cái và các đầu ngón tay. Tỷ lệ thực hành đạt các bước rửa tay: bước 1, bước 6, bước 8, bước 18 lần lượt là: 93,5%, 71,6%, 73%, 99,1%. Kết quả này có điểm tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Trịnh Văn Thọ tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021 [4], tỉ lệ thực hành đạt rửa tay ở 4 bước lần lượt là: 90,3%; 85,6%; 79,6% và 90,3%. Trong nghiên cứu này, điều dưỡng cũng mắc lỗi sai nhiều nhất ở 2 bước sát khuẩn tay nhanh trước và sau khi mở hộp dụng cụ. Kết quả thực hành đạt các bước rửa tay trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên cứu của Phạm Văn Dương: 77,5%; 67,6; 43,7 và 33,8%; và cao hơn trong nghiên cứu của Vũ Ngọc Anh: 79,9%; 77,6%; 89,7% và 97,1%.

4.3. Yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng

Kiểm định Chi-square đã được dùng để kiểm tra mối liên quan giữa thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng với việc rửa tay. Có mối liên quan chặt chẽ giữa thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng với việc rửa tay với p < 0,01. Trong 102 lần quan sát điều dưỡng không đạt thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn, có tới 89 lần điều dưỡng không đạt bước rửa tay. Tuy nhiên, điều dưỡng cũng có thể vừa mắc lỗi không đạt rửa tay vừa mắc lỗi không đạt các bước khác. Như vậy, lỗi không rửa tay hoặc rửa tay không đạt là lỗi chiếm tỉ lệ cao nhất, ảnh hưởng nhiều nhất tới kết quả thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn không đạt của điều dưỡng.[HH7] 

  1. KẾT LUẬN

Tỷ lệ thực hành đạt chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn là 52,6%, cao hơn tỷ lệ thực hành không đạt (47,4%).

Có mối liên quan giữa thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng với việc rửa tay (p < 0,01). Trong 102 lần quan sát điều dưỡng không đạt thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn, có tới 89 lần điều dưỡng không đạt bước rửa tay.

  1. KHUYẾN NGHỊ

Cần tăng cường việc kiểm tra nhắc nhở việc rửa tay của điều dưỡng trong quy trình chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn

Sắp xếp thời gian chăm sóc vết mổ hoặc thời gian hấp sấy dụng cụ phù hợp để việc sử dụng hộp dụng cụ hấp sấy không bị thiếu trong quá trình thực hành.

Những khóa đào tạo liên tục về thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn là cần thiết để điều dưỡng thường xuyên cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng và thái độ với thực hành chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bộ Y Tế, Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ. Ban hành kèm theo Quyết định số : 3671/QĐ -BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012.

2.Nguyễn Thị Hồng Nguyên (2019), Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ trên bệnh nhân phẫu thuật tại Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô, 2019(Số 06).

3.Phan Thị Dung (2016), Đánh giá kết quả chương trình đào tạo chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực cho điều dưỡng tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2013-2015. Luận án tiến sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng.

4.Trịnh Văn Thọ (2021), Thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021. Khoa học Điều dưỡng, Tập 05(Số 03): p. 109-120.

5.Lê Thị Huệ (2017), Thực trạng thay băng vết mổ nhiễm khuẩn tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Thị xã Phú Thọ năm 2017. Chuyên đề tốt nghiệp điều dưỡng chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

6.Geraldine  Mccarthy (2012), Nurse's  knowledge  and competence  in wound management. Wound UK8:37-47.

7.Yvonne Osborne (2012), Template for Competency Based Curriculum: Aguide for Curriculum Development.

8.Huynh T and Forget Falcicchio (2005), Assessing the primary nurse role in the wound healing process. J Wound care.


 [HH1]Dùng động từ quá khứ

 [HH2]Cỡ mẫu là số lần quan sát thì tiêu chuẩn chọn mẫu phải là tiêu chuẩn chọn quan sát --> cần viết lại phần đối tượng nghiên cứu và tiêu chuẩn chọn mẫu

 [HH3]Cần làm rõ, mỗi điều dưỡng quan sát bao nhiêu lần?

Có ai quan sát nhiều lần hoặc ít lần hơn những người còn lại không?

 [HH4]Nếu “mối liên quan” thì phải chạy test thống kê giữa 2 biến; nên bỏ bảng này đi do ko liên quan đến mục tiêu nghiên cứu hiện tại

 [HH5]Đây là tóm tắt kết quả, không phải bàn luận

 [HH6]Viết đầy đủ tên

 [HH7]Không liên quan đến mục tiêu nghiên cứu hiện tại


Tin mới