THỰC TRẠNG VỆ SINH BỂ MẶT THƯỜNG XUYÊN TIẾP XÚC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 05 KHOA TRỌNG ĐIỂM CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024

Vệ sinh môi trường bề mặt là rào cản quan trọng nhằm ngăn chặn sự khu trú và phát tán của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV). Nghiên cứu thực hiện năm 2024 tại 5 khoa trọng điểm cho thấy một thực trạng cần lưu tâm: tỷ lệ mẫu bề mặt không đạt yêu cầu vẫn còn cao, với sự hiện diện của các chủng vi khuẩn nguy hiểm như Acinetobacter baumannii và Staphylococcus aureus. Mặc dù ý thức của nhân viên y tế tại các khoa hồi sức đạt mức tuyệt đối (100%), nhưng tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh chung và thời gian tiếp xúc của hóa chất chỉ dừng lại ở mức 62,7%. Kết quả này chỉ ra rằng, bên cạnh nhận thức, việc chuẩn hóa thao tác thực hành và giám sát kỹ thuật làm sạch bề mặt (đặc biệt là khu vực giường bệnh và thiết bị y tế) là yếu tố sống còn để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm chéo trong môi trường bệnh viện.

TÓM TÁT

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng vệ sinh bề mặt thường xuyên tiếp xúc và xác định một số yếu tố liên quan tại 5 khoa trọng điểm của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2024.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2024. Tổng cộng 65 mẫu bề mặt thường xuyên tiếp xúc được nuôi cấy vi sinh và 51 nhân viên y tế tham gia được khảo sát về tuân thủ vệ sinh môi trường.

Kết quả: Tỷ lệ mẫu đạt yêu cầu cao nhất ở khoa Gây mê hồi sức (66,6%). Trong 33 mẫu không đạt, phân lập được 12 chủng vi khuẩn có khả năng gây nhiễm khuẩn bệnh viện như: Acinetobacter baumannii, Acinetobacter Iwoffii, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae. Bề mặt có nguy cơ cao nhất là giường,ga, tủ đầu giường và thiết bị y tế. Tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh chung đạt 62,7%; tuân thủ nỗng độ hóa chất đạt 78,4%; tuân thủ thời gian tiếp xúc đạt 62,7%. Tỷ lệ NVYT được đào tạo là 78,4%; ý thức vệ sinh đạt cao nhất tại khoa Gây mê hồi sức và Hồi sức tích cực (100%).

Kết luận: Môi trường bề mặt đóng vai trò quan trọng trong lan truyền NKBV. Việc làm sạch kết quả có thể hạn chế sự lây nhiễm chéo và giảm nguy cơ bùng phát dịch trong bệnh viện.

ABSTRACT

Objective: To assess the current status of frequently touched surface hygiene and identify associated factors in five key departments at Duc Giang General Hospital in 2024.

Methods: A cross-sectional analytical study was conducted from January to September 2024. A total of 65 environmental surface samples were microbiologically cultured,and 51 healthcare workers were surveyed on surface hygiene compliance.

Results: The highest rate of qualified cultures was in the Anesthesia and Resuscitation Department (66.6%). Among 33 unqualified samples, 12 pathogenic strains capable of causing hospital-acquired infections were isolated, including Acinetobacter baumannii, Acinetobacter Iwoffii, Staphylococcus aureus, and Klebsiella pneumoniae. High-risk surfaces included beds, linens, bedside tables,and medical devices. Compliance with standard cleaning procedures was 62.7%; chemical concentration compliance was 78.4%; and contact time compliance was 62.7%. Healthcare workers'training rate was 78.4%,with the highest awareness observed in the Anesthesia and ICU departments (100%).

Conclusion: Surface environment plays a key role in the transmission of hospital-acquired infections. Effective cleaning reduces cross-contamination and helps control infection outbreaks in hospitals.

Keywords: surface hygiene, infection control, key departments, hospital.Từ khóa: vệ sinh môi trường bề mặt, kiểm soát nhiễm khuần, khoa trọng điểm, bệnh viện.

1.ĐẠT VÁN ĐỀ

Trong môi trường bệnh viện – nơi tập trung đông người bệnh và thực hiện nhiều can thiệp y tế – kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) đóng vai trò then chốt nhằm đảm bảo an toàn người bệnh và nhân viên y tế. Một trong những mắt xích quan trọng trong KSNK là vệ sinh bể mặt (VSBM), đặc biệt là các bề mặt thường xuyên tiếp xúc. Nhiều nghiên cứu cho thấy các bể mặt này có thể chứa tác nhân gây bệnh, dẫn đến nguy cơ lây truyền chéo trong bệnh viện [3].

Việc tuân thủ quy trình làm sạch và khử khuẩn bề mặt theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế [1-3] có thể giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), tiết kiệm chỉ phí điều trị và giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, hiện chưa có nghiên cứu chính thức nào đánh giá thực trạng tuân thủ vệ sinh bề mặt của nhân viên y tế và kết quả thực tế của hoạt động này. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Thực trạng vệ sinh bề mặt và một số yếu tố liền quan tại 05 khoa trọng điểm của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2024", với hai mục tiêu:

1. Mô tả thực trạng kết quả vệ sinh bề mặt tại các khoa trọng điểm trong bệnh viện.

2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả vệ sinh bể mặt tại các khoa trọng điểm.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên những nhân viên y tế tham ra vệ sinh bề mặt và mẫu bể mặt thường xuyên tiếp xúc tại năm khoa trọng điểm của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. Tiêu chuần lựa chọn: Nhân viên y tế tham ra vệ sinh bể mặt và toàn bộ mẫu bề mặt thường xuyên tiếp xúc (bề mặt giường, bề mặt vật tư thiết bịy tế, xe tiêm, tủ đầu giường, tay nắm cửa) và nhân viên y tế làm công tác vệ sinh bề mặt tại 05 khoa trọng điểm từ tháng 1/2024 đến tháng 9 năm 2024.

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2024 đến tháng 09/2024 triển khai tại năm khoa trọng điểm: Khoa Gây mê hồi sức, khoa Hồi sức tích cực chống độc, khoa Nội Thận – Tiết niệu, khoa sản, khoa Thẩm mỹ của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang.

2.3. Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích kết quả.

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn toàn bộ các mẫu bề mặt được đánh giá là tiếp xúc thường xuyên trong suốt thời gian nghiên cứu.

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu.

Sử dụng bộ câu hỏi tự điển khảo sát kiến thức về vệ sinh bề mặt và báo cáo giám sát vệ sinh bề mặt.

2.6. Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu thu thập trong nghiên cứu được nhập liệu và xử lý theo phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả nghiên cứu được trình bày theo số lượng và tỷ lệ % của các biến số.

3. KÉT QUÀ

3.1.Thực trạng hiệu quả vệ sinh bề mặt tại 5 khoa trọng điểm

3.1.1. Thựctrạng vệ sinh bề mặt dựatrên kết quả cấykhuẩn

Biểu đồ 3.1. Phân bố số lượng mẫu cấy bề mặt theo khoa (n=65)

Khoa HSTC-CĐ có số lượng mẫu cấy bề mặt nhiều nhất chiếm 40%

Bảng 3.1. Kếtquả nuôi cấy mẫu bề mặttheo khoa (n=65)

Khoa

Đạt - Số lượng (N)

Đạt - Tỷ lệ (%)

Không đạt - Số lượng (N)

Không đạt - Tỷ lệ (%)

Gây mê hồi sức (n=21)

14

66,6

7

33,4

Hồi sức tích cực - CĐ (n=26)

12

46,2

14

53,8

Sản (n=4)

1

25

3

75

PTTH - Thẩm mỹ (n=9)

4

44,4

5

55,6

Nội Thận - Tiết niệu (n=5)

1

20

4

80

Kết quả cấy có tỷ lệ đạt cao nhất tại khoa Gây mê hồi sức 66,6%

Bảng 3.2. Phân bố vi khuẩn gây bệnh phân lập được theo vị trí bề mặt (n = 65)

Tên bề mặt

Loại vi khuẩn

Số lượng (N)

Tỷ lệ (%)

Bề mặt giường, ga, đệm

Acinetobacter lwoffii

2

14,3

 

Staphylococcus aureus

2

14,3

 

Acinetobacter baumannii

4

28,6

 

Klebsiella pneumoniae

1

7,1

 

Staphylococcus spp.

5

35,7

Bề mặt tủ đầu giường, bình phong

Acinetobacter baumannii

2

50

 

Staphylococcus aureus

1

25

 

Staphylococcus spp.

1

25

Bề mặt máy móc thiết bị y tế

Staphylococcus spp.

6

75

 

Acinetobacter baumannii

2

25

Bề mặt xe tiêm

 

0

0

Bề mặt phân lập được nhiều vi sinh vật gây bệnh nhất là bề mặt giường, ga đệm, vi sinh vật gây bệnh phân lập được nhiều nhất trong các bề mặt này là Acinetobacter baumannii.

Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ vi khuẩn có khả năng gây bệnh theo khoa (n=65)

Trong thời gian nghiên cứu, phân lập được 12 chủng vi khuẩn có khả năng gây NKBV từ 33 mẫu cấy bề mặt không đạt, kháng nhiều loại kháng sinh, chủ yếu là Acinetobacter baumanii, Acinetobacter lwoffi. Staphylococcus aureus. Klebsiella pneumoniae. Trong đó ở khoa HSTC - CĐ chiếm tỉ lệ 70,5%.

3.1.2. Thực trạng vệ sinh bề mặt được đánh giá qua điều tra giám sát bằng bảng kiểm

Bảng 3.3. Tỷ lệ tuân thủ quy trình và sử dụng khăn khi vệ sinh bề mặt theo đối tượng nghiên cứu (n=51)

 

Đối tượng

Tuân thủ các bước trong quy trình - Đạt N (%)

Tuân thủ các bước trong quy trình - Không đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Không đạt N (%)

Tổng N (%)

Điều dưỡng, hộ sinh

25 (62,5)

15 (37,5)

23 (57,5)

17 (42,5)

40 (100)

Hộ lý

7 (63,6)

4 (36,4)

7 (63,6)

4 (36,4)

11 (100)

Tổng

32 (62,7)

19 (37,3)

30 (58,8)

21 (41,2)

51 (100)

Đối tượng

Tuân thủ các bước trong quy trình - Đạt N (%)

Tuân thủ các bước trong quy trình - Không đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Không đạt N (%)

Tổng N (%)

Điều dưỡng, hộ sinh

25 (62,5)

15 (37,5)

23 (57,5)

17 (42,5)

40 (100)

Hộ lý

7 (63,6)

4 (36,4)

7 (63,6)

4 (36,4)

11 (100)

Tổng

32 (62,7)

19 (37,3)

30 (58,8)

21 (41,2)

51 (100)

Đối tượng

Tuân thủ các bước trong quy trình - Đạt N (%)

Tuân thủ các bước trong quy trình - Không đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Đạt N (%)

Tuân thủ sử dụng khăn lau - Không đạt N (%)

Tổng N (%)

Điều dưỡng, hộ sinh

25 (62,5)

15 (37,5)

23 (57,5)

17 (42,5)

40 (100)

Hộ lý

7 (63,6)

4 (36,4)

7 (63,6)

4 (36,4)

11 (100)

Tổng

32 (62,7)

19 (37,3)

30 (58,8)

21 (41,2)

51 (100)

Tỷ lệ tuân thủ quy trình chung của điều dưỡng/ hộ sinh và hộ lý là 62,7%; trong đó tỷ lệ tuân thủ quy trình của hộ lý đạt 63,6%, cao hơn tỷ lệ tuân thủ quy trình của điều dưỡng/ hộ sinh. Tỷ lệ tuân thủ sử dụng khăn lau ở điều dưỡng/ hộ sinh và hộ lý là 63,6 ở hộ lý, đạt 57,5%.

Bảng 3.4. Tỷ lệ tuân thủ pha nồng độ hóa chất, và tuân thủ thời gian hóa chất tiếp xúc với bề mặt theo loại hóa chất cho vệ sinh bề mặt (n=51)

Tên hóa chất

Tuân thủ pha nồng độ hóa chất - Đạt N (%)

Tuân thủ pha nồng độ hóa chất - Không đạt N (%)

Tuân thủ thời gian hóa chất tiếp xúc với bề mặt - Đủ thời gian N (%)

Tuân thủ thời gian hóa chất tiếp xúc với bề mặt - Không đủ thời gian N (%)

Tổng N (%)

Cloramin B

21 (75)

7 (25)

16 (57,1)

12 (42,9)

28 (100)

Fandious

19 (82,6)

4 (17,4)

16 (69,6)

7 (30,4)

23 (100)

Tổng

40 (78,4)

11 (21,6)

32 (62,7)

19 (37,3)

51 (100)

Tỷ lệ tuân thủ nồng độ hóa chất cho vệ sinh bề mặt là 78,4%; trong đó tỷ lệ tuân thủ nổng độ với pha Surfanios là 82,6% cao hơn so với Cloramin B. Tỷ lệ tuân thủ thời gian hóa chất tiếp xúc với bề mặt chung là 62,7%.

3.2. Các yếu tố liên quan đến thực trạng hiệu quả vệ sinh bề mặt tại 5 khoa trọng điểm

Bảng 3. 5. Tỷ lệ điều dưỡng/hộ sinh, hộ lý được đào tạo và ý thức thực hành vệ sinh bề mặt theo khoa (n=51)

Khoa

Đào tạo - Được đào tạo N (%)

Đào tạo - Không được đào tạo N (%)

Về ý thức - Đạt N (%)

Về ý thức - Không đạt N (%)

Tổng N (%)

Gây mê hồi sức

20 (100)

0 (0)

10 (100)

0 (0)

20 (100)

Hồi sức tích cực – CĐ

12 (92,3)

1 (7,7)

13 (100)

0 (0)

13 (100)

Sản

9 (69,2)

4 (30,8)

10 (76,9)

3 (23,1)

13 (100)

PTTH – Thẩm mỹ

4 (66,7)

2 (33,3)

5 (83,3)

1 (16,7)

6 (100)

Nội Thận TN

5 (55,6)

4 (44,4)

5 (55,6)

4 (44,4)

9 (100)

Tổng

40 (78,4)

11 (21,6)

43 (84,3)

8 (15,7)

51 (100)

Tỷ lệ điều dưỡng/ hộ sinh, hộ lý được đào tạo tại 5 khoa trọng điểm là 78,4%; trong đó khoa GMHS đạt 100%, thấp nhất là khoa Nội Thận – TN đạt 55,6%. Tỷ lệ đạt về ý thức vệ sinh bề mặt cao nhất tại khoa Gây mê hồi sức và khoa Hồi sức tích cực- chống độc (100%), thấp nhất tại khoa Nội Thận -TN đạt 55,6%.

4. BÀN LUẬN

4.1.Thực trạng hiệu quả vệ sinh môi trường bể mặt tại 05 khoa trọng điểm

4.1.1. Kết quả vệ sinh bề mặt đánh giá dựa trên nuôi cấy vi sinh vật

Nghiên cứu được thực hiện trên 65 mẫu bể mặt thường xuyên tiếp xúc được lấy tại 5 khoa trọng điểm của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, bao gồm: Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Gây mê hồi sức, Sản, Nội Thận – Tiết niệu và Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ. Đồng thời, 51 nhân viên y tế có tham gia công tác vệ sinh bể mặt tại các khoa này cũng được khảo sát. Kết quả từ Biểu đồ 3.1 cho thấy, khoa Hồi sức tích cực – Chống độc và khoa Gây mê hồi sức là hai đơn vị có số lượng mẫu cấy vi sinh nhiều nhất, chiếm tỷ lệ lần lượt là 40% và 32% tổng số mẫu.

Đáng chú ý, khoa Hồi sức tích cực - Chống độccũng là nơi có tỷ lệ mẫu bề mặt phân lập được vi khuẩn gây bệnh cao nhất trong số 5 khoa, chiếm 70,5%. Điều này có thể lý giải bởi đặc thù chuyên môn của khoa, nơi tiếp nhận nhiều bệnh nhân nặng, nằm viện kéo dài, thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn, đồng thời có tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến cao – vốn đã mang sẵn các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các vị trí có nguycơ ô nhiễm cao nhất bao gồm: bề mặt giường, ga đệm, tủ đầu giường và bể mặt máy móc, thiết bị y tế.

Đây là các khu vực thường xuyên tiếp xúc gần với người bệnh, do đó có nguy cơ cao trong việc lan truyền mầm bệnh. Ngược lại, các vị trí như tay nắm cửa và xe tiêm không ghi nhận phân lập vi khuẩn gây bệnh. Điều này cho thấy việc ưu tiên làm sạch và khử khuẩn tại khu vực xung quanh người bệnh là hết sức cần thiết để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm chéo giữa người bệnh, thân nhân và nhân viên y tế. Trong số các vi sinh vật phân lập được, Acinetobacter baumannii là chủng vi khuẩn gây bệnh được phát hiện phổ biến nhất trên các bề mặt. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đào Hải Nam thực hiện tại khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City [9].

4.1.2. Kết quả vệ sinh bề mặt được giám sát bằng bảng kiểm

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn nhân viên y tế tham gia nghiên cứu đã thực hiện vệ sinh môi trường bệnh viện đạt yêu cầu theo đánh giá bằng bảng kiểm.

Tỷ lệ tuân thủ các bước trong quy trình vệ sinh môi trường bề mặt (VSBM) ở nhóm điều dưỡng và hộ sinh đạt 62,7%, thấp hơn một chút so với nhóm hộ lý (63,6%). Tỷ lệ này tương đối phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bích và Phạm Thị Ngọc Hương (2019), được thực hiện trên 131 điều dưỡng và hộ sinh tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh, với tỷ lệ đạt yêu cầu là 61,1% [6]. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Lý (2021) tại Bệnh viện Mắt Trung ương, với tỷ lệ tuân thủ đạt 75% [7].

Sự chênh lệch này có thể xuất phát từ sự khác biệt về trình độ đào tạo, nhận thức và thói quen thực hành của nhân viên y tế giữa các tuyến bệnh viện. Tại các cơ sở y tế tuyến trung ương, công tác đào tạo và giám sát thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) thường được tổ chức bài bản, liên tục hơn, từ đó giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành của nhân viên y tế.

Về kết quả giám sát vệ sinh bể mặt, tỷ lệ tuân thủ pha đúng nổng độ hóa chất đạt mức chung là 78,4%. Trong đó, tỷ lệ tuân thủ đối với hóa chất Surfanios đạt 78,3%, cao hơn so với Cloramin B (75%). Nguyên nhân có thể do thiết kế bao bì của Surfanios giúp nhân viên y tế dễ dàng đong đo chính xác lượng hóa chất cần pha, từ đó nâng cao khả năng tuân thủ nỗng độ đúng chuần.

Ngoài ra, tỷ lệ tuân thủ thời gian tiếp xúc hóa chất với bề mặt của Surfanios cũng cao hơn so với Cloramin B. Điều này có thể liên quan đến khoảng thời gian yêu cầu ngắn hơn của Surfanios (5–10 phút) so với Cloramin B (15-30 phút), giúp nhân viên y tế thuận tiện hơn trong quá trình thực hành. Về việc sử dụng khăn lau trong vệ sinh bề mặt, 63,6% hộ lý tuân thủ đúng quy định, tỷ lệ này cao hơn so với nhóm điều dưỡng và hộ sinh. Bộ Y tế khuyến cáo nên sử dụng khăn lau dùng một lần tại các khu vực chăm sóc người bệnh nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm chéo [1, 2]. Khi so sánh với nghiên cứu của Trần Hữu Luyện, tỷ lệ tuân thủ sử dụng hóa chất và khăn lau trong nghiên cứu hiện tại đều cao hơn [8].

4.2. Các yếu tố liên quan đến kết quả vệ sinh bề mặt tại 05 khoa trọng điểm

Kết quả nghiên cứu tại 5 khoa trọng điểm của Bệnh viện cho thấy, tỷ lệ nhân viên y tế được đào tạo về vệ sinh môi trường bề mặt (VSBM) cao nhất tại khoa Gây mê hồi sức (100%) và thấp nhất tại khoa Nội Thận – Tiết niệu (55,6%). Tại khoa Gây mê hồi sức, toàn bộ nhân viên y tế đều đã được tham gia đào tạo về VSBM. Khoa cũng đã xây dựng và ban hành quy trình vệ sinh cụ thể, phân công rõ trách nhiệm cho từng vị trí công việc. Hầu hết nhân viên tại đây thực hiện vệ sinh bề mặt hàng ngày theo đúng hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế [4].

Về ý thức thực hành, nhân viên y tế tại khoa Gây mê hối sức và Hồi sức tích cực – Chống độc có tỷ lệ đạt yêu cầu cao nhất, trong khi thấp nhất là tại khoa Nội Thận – Tiết niệu. Kết quả này phản ánh mối liên hệ rõ ràng giữa việc được đào tạo đầy đủ và ý thức tuân thủ trong thực hành vệ sinh bề mặt. Đồng thời, điều này cũng phù hợp với kết quả cấy vi sinh cho thấy mức độ ô nhiễm tại các khoa tương ứng. Nhìn chung, phần lớn nhân viên y tế trong nghiên cứu đã có nhận thức đúng và ý thức cao về vai trò quan trọng của vệ sinh bề mặt trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.

5. KÉT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu cho thấy, kết quả làm sạch bề mặt tại một số khoa trọng điểm của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang còn chưa đồng đều. Khoa Gây mê hồi sức có tỷ lệ mẫu đạt chuẩn cao nhất (66,6%), trong khi khoa Nội Thận – Tiết niệu thấp nhất (20%). Nhiều bề mặt quanh giường bệnh như đệm, ga, tủ đầu giường và thiết bị y tế là nơi thường xuyền phân lập được vi khuẩn gây bệnh như Acinetobacter baumannii, Staphylococcus aureus. Tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh đạt 62,7%; tuân thủ hóa chất và thời gian tiếp xúc cũng còn hạn chế. Các yếu tố như đào tạo, ý thức nhân viên và đặc điểm khoa phòng có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả VSBM. Do đó, cần tăng cường đào tạo định kỳ, giám sát chặt chẽ, chuần hóa quy trình và nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế nhằm nâng cao kết quả kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện.

TÀI LIÊU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2012), Tài liệu đào tạo liên tục Kiểm soát nhiễm khuần cho nhân viên y tế tuyến cơ sở. Hà Nội, 2012.

2. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám chữa bênh, chữa bệnh, Hà Nội. 2012

3. Bộ Y tế (2015), Quyết định số 4290/QĐ-BYT về Hướng dẫn vệ sinh môi trường bề mặt khu phẫu thuật.

4. Bộ Y tế (2017), Hướng dẫn Vệ sinh môi trường bề mặt trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế).

5. Bộ Y tế (2018), Thông tư 16/2018/TT-BYT quy định về kiểm soát nhiễm khuần trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành ngày 20/7/2018.

6. Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Thị Ngọc Hương (2021), Kiến thức, thực hành quy trình vệ sinh bề mặt thiết bị y tế của điều dưỡng và nữ hộ sinh các khoa lâm sàng bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí y học Việt Nam tập 504 – tháng 7-số 1-2021.

7.Trần Thị Lý (2023),Thực trạng kiến thức và thực hành vệ sinh môi trường của nhân viên y tế bệnh viện Mắt Trung ương năm 2021. Tạp chí y học cộng đồng, 2023. 64, tr.173-180.

8. Trần Hữu Luyện (2024), Đánh giá quy trình vệ sinh của các công ty vệ sinh công nghiệp và đề xuất áp dụng quy trình mới vệ sinh bệnh viện năm 2024. Hics.org.vn.

9. Đào Hải Nam, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Anh, Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thu Vinh – và cộng sự Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City (2019), Thực trạng ô nhiễm bề mặt và so sánh hiệu quả các biện pháp vê sinh bề mắt tại khoa Hồi sức tích cực của bênh viên đa khoa quốc tế Vinmec Times City. Thaisonlab.com.

 

NGUYỄN THỊ HOA, LƯƠNG THỊ THU THỦY, TẠ THỊ THỦY, TƯỞNG THÚY HẰNG, ĐÀO VĂN MINH'


Tin mới