HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH TỰ CHĂM SÓC CỦA OREM ĐỐI VớI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI LớN MẮC BỆNH HEN PHẾ QUẢN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC SƠN TRÀ VÀ HẢI CHÂU, ĐÀ NẴNG

Đánh giá hiệu quả của mô hình tự chăm sóc Orem đối với chất lượng cuộc sống ở người lớn mắc hen phế quản và so sánh sự thay đổi chất lượng cuộc sống giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng.

I. TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của mô hình tự chăm sóc Orem đối với chất lượng cuộc sống ở người lớn mắc hen phế quản và so sánh sự thay đổi chất lượng cuộc sống giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng, theo dõi trước–sau, được thực hiện trên 66 người lớn mắc hen phế quản tại Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà và Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2022. Người bệnh được phân vào hai nhóm: nhóm can thiệp (n = 33) được áp dụng chương trình giáo dục – hỗ trợ tự chăm sóc dựa trên mô hình Orem và nhóm đối chứng (n = 33) được chăm sóc thông thường. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bộ câu hỏi gồm 69 mục với 5 khía cạnh: tình trạng hô hấp, chức năng cảm xúc, hoạt động xã hội, hoạt động thể chất và hiểu biết chung về sức khỏe. Số liệu được xử lý bằng SPSS 20.0 với các kiểm định thống kê phù hợp.

Kết quả: Sau 3 tháng can thiệp, nhóm can thiệp cải thiện có ý nghĩa thống kê ở các khía cạnh: tình trạng hô hấp (44,09 lên 47,18; p = 0,001), chức năng cảm xúc (37,21 lên 39,03; p = 0,012), hoạt động xã hội (41,70 lên 43,09; p = 0,008), hoạt động thể chất (55,82 lên 58,67; p = 0,002), hiểu biết chung về sức khỏe (74,21 lên 76,88; p = 0,002) và điểm chất lượng cuộc sống chung (253,03 lên 264,85; p < 0,001). Nhóm đối chứng không có thay đổi có ý nghĩa thống kê. So sánh mức thay đổi sau can thiệp giữa hai nhóm cho thấy nhóm can thiệp cải thiện tốt hơn ở tình trạng hô hấp, chức năng cảm xúc, hoạt động xã hội, hoạt động thể chất và chất lượng cuộc sống chung (p < 0,05); riêng khía cạnh hiểu biết chung về sức khỏe chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p = 0,638).

Kết luận: Chương trình can thiệp dựa trên mô hình tự chăm sóc Orem có thể góp phần cải thiện một số khía cạnh của chất lượng cuộc sống ở người lớn mắc hen phế quản. Mô hình này có tiềm năng ứng dụng trong thực hành điều dưỡng tại tuyến y tế cơ sở, tuy nhiên cần thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để khẳng định hiệu quả bền vững.

Từ khóa: Hen phế quản, chất lượng cuộc sống, mô hình Orem, tự chăm sóc, điều dưỡng, nghiên cứu can thiệp.

ABSTRACT

Objective: To evaluate the effect of Orem’s selfcare model on quality of life among adults with bronchial asthma and to compare quality-of-life changes between the intervention and control groups.

Methods:Acontrolled intervention study with a pre–post design was conducted among 66 adults with bronchial asthma at Son Tra and Hai Chau Regional Health Centers, Da Nang, fromApril toAugust 2022. Participants were allocated into two groups: an intervention group (n = 33) receiving an Orem-based self care education and support program, and a control group (n = 33) receiving usual care. Quality of life was assessed using a 69-item questionnaire covering five domains: respiratory status, emotional functioning, social activity, physical functioning, and general health knowledge. Data were analyzed using SPSS 20.0 with appropriate statistical tests.

Results: After 3 months, the intervention group showed statistically significant improvements in respiratory status (44.09 to 47.18; p = 0.001), emotional functioning (37.21 to 39.03; p = 0.012), social activity (41.70 to 43.09; p = 0.008), physical functioning (55.82 to 58.67; p = 0.002), general health knowledge (74.21 to 76.88; p = 0.002), and total qualityof-life score (253.03 to 264.85; p < 0.001). No significant changes were observed in the control group. Comparison of change scores between groups showed greater improvements in the intervention group for respiratory status, emotional functioning, social activity, physical functioning, and total quality of life (p < 0.05), whereas no statistically significant between-group difference was found for general health knowledge (p = 0.638).

Conclusion: An intervention based on Orem’s self-care model may improve several domains of quality of life in adults with bronchial asthma. This model has potential for application in nursing practice at primary care level; however, larger studies with longer follow-up are needed to confirm its sustained effectiveness.

Keywords: Bronchial asthma; quality of life; Orem’s self-care model; self-management; nursing intervention; controlled intervention study.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phếquản (HPQ) là một bệnh có đặc điêm̉ là viêm mạn tính niêm mạc phếquản làm tăng phản ứng của phếquản thường xuyên với nhiêù tác nhân kích thích, dâñ đêń co thăt́ lan tỏa cơ trơn phếquản [2]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có khoảng 400 triệu người mắc vào năm 2025 [10]. Tại Việt Nam, trung bình có 5% dân số là người bệnh HPQ, tương đương với 4 triệu người bệnh HPQ và số người tử vong hàng năm không dưới 3.000 người [3]. Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống (CLCS) có liên quan chặt chẽ với mức độ kiểm soát bệnh.Theo hiểu biết của chúng tôi, tại Việt Nam, các bằng chứng về việc ứng dụng mô hình tự chăm sóc theo Orem trong quản lý bệnh mạn tính, đặc biệt là HPQ, còn hạn chế, nhất là liên quan đến cải thiện CLCS người bệnh. Trước thực tế này, nghiên cứu được thiết kế nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình tự chăm sóc theo Orem đối với chất lượng cuộc sống ở người lớn mắc hen phế quản tại hai Trung tâmYtế khu vực Sơn Trà và Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là người bệnh được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoánmắc HPQ và đang khám, điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà và Trung tâmYtế khu vựcHảiChâu,thành phốĐàNẵng. Tiêu chuẩn chọn vào: Từ 18 tuổi trở lên. Được chẩn đoán HPQ theo hướng dẫn chuyên môn hiện hành. Có khả năng giao tiếp, sử dụng điện thoại và tham gia đầy đủ các buổi hướng dẫn. Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: Mắc đồng thời bệnh mạn tính nặng khác có thể ảnh hưởng rõ đến CLCS. Đang tham gia chương trình can thiệp hoặc giáo dục sức khỏe khác liên quan đến HPQ. Không hoàn thành đầy đủ các đợt đánh giá trước và sau can thiệp.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp có đối chứng, không ngẫu nhiên, theo dõi trước - sau.

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà và Trung tâm Y tế khu vực Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2022.

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu được xác định cho nghiên cứu so sánh hai nhóm độc lập dựa trên tham khảo từ nghiên cứu tương tự, với mức ý nghĩa α = 0,05 và Z = 1,96. Cỡ mẫu tối thiểu 25 người bệnh cho mỗi nhóm. Để dự phòng mất mẫu trong quá trình theo dõi, nhóm nghiên cứu mời 70 người bệnh tham gia; thực tế thu nhận được 66 người bệnh, gồm 33 người bệnh ở nhóm can thiệp và 33 người bệnh ở nhóm đối chứng. 

Người bệnh được tuyển chọn theo phương pháp thuận tiện từ danh sách người bệnh đủ tiêu chuẩn tại hai cơ sở nghiên cứu. Sau khi tuyển chọn, người bệnh được phân vào nhóm can thiệp và nhóm đối chứng theo kế hoạch của nghiên cứu.

2.5. Nội dung can thiệp

Nhóm can thiệp được áp dụng chương trình giáo dục – hỗ trợ tự chăm sóc dựa trên mô hình Orem. Trước can thiệp, người bệnh được đánh giá nhu cầu tự chăm sóc, bao gồm sử dụng thuốc và dụng cụ, phòng ngừa cơn hen cấp, và kế hoạch hành động khi xuất hiện triệu chứng. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu xây dựng kế hoạch và tài liệu hướng dẫn phù hợp. Can thiệp được triển khai qua 4 buổi hướng dẫn trực tiếp, mỗi buổi 2 giờ, kết hợp hỗ trợ cá nhân khi cần và theo dõi qua điện thoại trong quá trình thực hiện. Nhóm đối chứng được chăm sóc thông thường theo quy trình tại cơ sở y tế.

2.6. Biến số và công cụ nghiên cứu

Biếnkếtquả chính: CLCScủa người bệnhHPQ.

Biến nền: tuổi, giới, thời gian mắc bệnh, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và các đặc điểm nhân khẩu học khác. CLCS được đo bằng bảng câu hỏi gồm 69 mục do Marks và cộng sự phát triển [11], gồm 5 khía cạnh: tình trạng hô hấp, chức năng cảm xúc, hoạt động xã hội, hoạt động thể chất và hiểu biết chung về sức khỏe. Câu trả lời cho mỗi mục trong bảng câu hỏi được tính theo thang điểm Likert 5 điểm. Đối với các mục tích cực, điểm 5 được cho là luôn luôn và 1 là không bao giờ, và đối với các mục tiêu cực, điểm 1 được cho là luôn luôn và 5 là không bao giờ. Do đó, điểm tối thiểu và tối đa được tính là tình trạng hô hấp (14 đến 70 điểm), chức năng cảm xúc (11 đến 55 điểm), hoạt động xã hội (10 đến 50 điểm), hoạt động thể chất (16 đến 80 điểm) và hiểu biết chung về sức khỏe (18 đến 90 điểm).

2.7. Phương pháp thu thập số liệu

Người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc sẵn tại thời điểm trước can thiệp. Sau 3 tháng, cả nhóm can thiệp và nhóm đối chứng được đánh giá lại bằng cùng một bộ công cụ để xác định sự thay đổi về CLCS. 2.8. Phân tích số liệu Dữ liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả được sử dụng để trình bày tần số, tỷ lệ, trung bình và độ lệch chuẩn. So sánh giữa hai nhóm tại thời điểm trước can thiệp được thực hiện bằng các kiểm định t-test độc lập hoặc Chi-square. So sánh trước - sau trong từng nhóm sử dụng paired t-test. So sánh mức thay đổi giữa hai nhóm sử dụng independent t-test. Mức ý nghĩa thống kê được xác định là p<0,05. 2.9. Đạo đức nghiên cứu Người bệnh được giải thích mục đích, nội dung nghiên cứu và quyền từ chối tham gia bất kỳ lúc nào. Tất cả thông tin cá nhân được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của người tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh HPQ trong hai nhóm

Nhận xét: Tuổi trung bình là 55.79 (±15.01) tuổi ở nhóm thử nghiệm và 55.88 (±14.55) tuổi ở nhóm đối chứng. Thời gian mắc bệnh HPQ là 11.03 (±7.07) năm ở nhóm thử nghiệm và 11.58 (±7.82) năm ở nhóm đối chứng. Trình độ học vấn mức trung học phổ thông là 45,5% nhóm thử nghiệm và 57,6% trong nhóm đối chứng.

3.2. Chất lượng cuộc sống của người bệnh HPQ đến khám và điều trị.

Bảng 3.2. Kết quả khảo sát đầu vào (trước can thiệp) của 2 nhóm (thử nghiệm và đối chứng)

Các giá trị được biểu thị bằng giá trị trung bình ± SD

Nhận xét: Tại thời điểm trước can thiệp, hai nhóm không có sự khác biệt ở một số khía cạnh như tình trạng hô hấp và hoạt động xã hội (p>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở các khía cạnh chức năng cảm xúc, hoạt động thể chất, hiểu biết chung về sức khỏe và điểm CLCS chung (p<0,05), cho thấy hai nhóm chưa hoàn toàn tương đương tại thời điểm ban đầu. Do đó, phân tích hiệu quả can thiệp tập trung vào so sánh mức thay đổi giữa hai nhóm.

3.3. Hiệu quả của biện pháp can thiệp điều dưỡng dựa trên mô hình tự chăm sóc của Orem đối với CLCS ở người lớn mắc bệnh HPQ

3.3.1. Các khía cạnh CLCS trong nhóm thử nghiệm trước và sau can thiệp

Bảng 3.3. So sánh điểm trung bình của CLCS trong nhóm thử nghiệm trước và sau can thiệp

Các giá trị được biểu thị bằng giá trị trung bình ± SD.

Nhận xét: Sau can thiệp, điểm trung bình ở các khía cạnh chất lượng cuộc sống của nhóm thử nghiệm đều cải thiện có ý nghĩa thống kê: Tình trạng hô hấp (p=0,001), chức năng cảm xúc (p=0,012), hoạt động xã hội (p=0,008), hoạt động thể chất (p=0,002), và hiểu biết chung về sức khỏe (p=0,002), điểm chất lượng cuộc sống chung (p=0,000) trước và sau khi can thiệp.

3.3.2. Các khía cạnh CLCS trong nhóm đối chứng trước và sau can thiệp

Bảng 3.4. So sánh điểm trung bình của CLCS trong nhóm đối chứng trước và sau can thiệp

Các giá trị được biểu thị bằng giá trị trung bình ± SD.

Nhận xét: Kết quả phân tích cho thấy không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về điểm trung bình của các mục: Tình trạng hô hấp, chức năng cảm xúc, hoạt động xã hội, hoạt động thể chất, hiểu biết chung về sức khỏe trong chất lượng cuộc sống và điểm số CLCS chung trước và sau can thiệp ở nhóm đối chứng (p>0,05). 3.3.3. CLCS của nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau can thiệp

Bảng 3.5. Sự thay đổi CLCS sau can thiệp (CT) giữa 2 nhóm.

Các giá trị được biểu thị bằng giá trị trung bình ± SD.

Nhận xét: Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm về điểm trung bình của CLCS gồm: tình trạng hô hấp, chức năng cảm xúc, hoạt động xã hội, hoạt động thể chất và CLCS chung với p0,05).

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các đặc điểm nhân khẩu học của hai nhóm trước can thiệp. Về độ tuổi, tuổi trung bình của người tham gia là 55,79 tuổi (nhóm thử nghiệm) và 55,88 tuổi (nhóm đối chứng), thấp hơn so với nghiên cứu của Hồ Thị Minh Anh và cộng sự (2021), ghi nhận độ tuổi trung bình là 60,69 (±14,31) tuổi [1]. Điều này có thể lý giải bởi đặc điểm của địa điểm nghiên cứu là các bệnh viện tuyến khu vực – nơi tiếp nhận chủ yếu là người cao tuổi. Về thời gian mắc bệnh, trung bình ở nhóm đối chứng là 11,58 (±7,82) năm và nhóm thử nghiệm là 11,03 (±7,07) năm tương đồng với nghiên cứu của Samah Said Sabry (2021), trong đó có tới 60% người tham gia có thời gian mắc bệnh trên 5 năm [7]. Thời gian mắc bệnh kéo dài thường dẫn đến chi phí điều trị cao hơn và CLCS suy giảm. Về trình độ học vấn, đa số có trình độ trung học phổ thông (45,5% và 57,6%). Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Cao Thị Hồng Quyên (2021), ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông là 81,7% [4]. So sánh đặc điểm nhân khẩu học giữa 2 nhóm cho thấy không có sự khác biệt đáng kể (p>0,05). Do đó, đặc điểm nhân khẩu học của hai nhóm đưa vào nghiên cứu là tương đồng nhau.

4.2. Chất lượng cuộc sống giữa hai nhóm trước can thiệp

Kết quả cho thấy vẫn tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở một số khía cạnh CLCS tại thời điểm ban đầu. Điều này cho thấy hai nhóm chưa hoàn toàn tương đương. Kết quả chỉ ra không có sự khác biệt nhiều giữa 2 nhóm về điểm số ở khía cạnh tình trạng hô hấp và hoạt động xã hội với p>0,05. Tuy nhiên, lại có sự khác biệt đáng kể về điểm số cho 2 nhóm ở các khía cạnh: chức năng cảm xúc, hoạt động thể chất, hiểu biết chung về sức khỏe và điểm số CLCS chung (p<0,05). Sự khác biệt này có thể liên quan đến việc chọn mẫu và phân nhóm không ngẫu nhiên. Điều này phù hợp với nhận định rằng HPQ có thể hạn chế hoạt động xã hội và làm suy giảm CLCS của người bệnh [6].

4.3. Chất lượng cuộc sống trong nhóm đối chứng trước và sau can thiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự khác biệt ở tất cả các khía cạnh trong nhóm đối chứng trước và sau khóa đào tạo với p>0,05. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Zeinab Hemati cùng cộng sự (2015), họ cũng không tìm thấy sự khác biệt (p>0,05) trước và sau đào tạo ở nhóm đối chứng [9].

4.4. Chất lượng cuộc sống trong nhóm thử nghiệm trước và sau can thiệp

Sau can thiệp, CLCS của nhóm thử nghiệm cải thiện rõ rệt ở tất cả các khía cạnh so với trước can thiệp. Trong đó, CLCS chung đạt từ 253.03 điểm đã tăng lên 264.85 điểm (p<0,05). Đồng thời, kết quả nghiên cứu ở nhóm thử nghiệm cho thấy sự cải thiện CLCS sau can thiệp ở tất cả các khía cạnh khác nhau, điều này có thể là do khóa đào tạo được xây dựng dựa trên mô hình tự chăm sóc của Orem. Vì không có sự khác biệt đáng kể về dữ liệu nhân khẩu học trước khi đào tạo giữa 2 nhóm nên kết quả nghiên cứu CLCS hiện tại phù hợp với kết quả nghiên cứu của Altay và cộng sự về tác dụng của mô hình Orem đối với việc tự chăm sóc bản thân ở người mắc bệnh HPQ [5] và Zeinab Hemati và cộng sự về ảnh hưởng của mô hình tự chăm sóc của Orem đến Chất lượng cuộc sống ở Thanh thiếu niên bị HPQ [9].

4.5. Chất lượng cuộc sống giữa hai nhóm sau can thiệp

Sau can thiệp đối với nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng kết quả đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm về điểm số CLCS với p0,05). Điểm trung bình CLCS cho thấy những người tham gia nghiên cứu ở nhóm thử nghiệm có điểm CLCS ở các khía cạnh được cải thiện hơn so với nhóm đối chứng ở thời điểm sau khi can thiệp. Kết quả này tương đồng với kết quả của Zeinab Hemati cùng cộng sự, (2017), tác giả phát hiện ra có sự thay đổi đáng kể về điểm sốtrung bình của các thứ nguyên CLCS khác nhau trước và sau khi đào tạo ở nhóm thử nghiệm(p<0,05),nhưng không có sự khác biệt đáng kể về điểm trung bình của các kích thước CLCS khác nhau trước và sau khi đào tạo ở nhóm đối chứng (p>0,05) [8]. Cũng kết quả này, chúng tôi đồng ý với Zeinab Hemati cùng cộng sự, (2015), có sự khác biệt đáng kể về điểm số trung bình của cảm nhận căng thẳng trong nhóm thử nghiệm (25,46 ± 5,31) và nhóm đối chứng (28,90 ± 5,27) sau khóa đào tạo. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể về điểm trung bình của cảm nhận căng thẳng giữa trước (29,18 ± 5,27) và sau (25,46 ± 5,31) đào tạo và báo cáo rằng người tham gia của họ đã cải thiện CLCS sau can thiệp do đã hiểu rõ hơn về tình trạng hoặc cảm thấy thoải mái hơn về tâm lý hoặc kiểm soát triệu chứng của họ [9]. Việc tự chăm sóc của người bệnh, dựa trên mô hình của Orem, có thể góp phần thúc đẩy khả năng chủ động vận dụng kiến thức đã được đào tạo, từ đó có khả năng giúp giảm lo lắng. Mô hình này cũng có thể hỗ trợ nhận diện những hạn chế trong tự chăm sóc. Các can thiệp điều dưỡng (như hướng dẫn, hỗ trợ và giáo dục) được xây dựng theo mô hình Orem được ghi nhận là có tiềm năng cải thiện các thiếu hụt trong tự chăm sóc.

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Can thiệp dựa trên mô hình tự chăm sóc theo Orem có thể hỗ trợ cải thiện một số khía cạnh của CLCS. Khi so sánh mức thay đổi giữa hai nhóm, nhóm can thiệp cải thiện tốt hơn ở đa số khía cạnh của CLCS; riêng khía cạnh hiểu biết chung về sức khỏe chưa cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng mô hình tự chăm sóc Orem có tiềm năng hỗ trợ cải thiện CLCS ở người lớn mắc HPQ. Từ kết quả của nghiên cứu chúng tôi khuyến nghị: (i) Cần tăng cường giáo dục và hỗ trợ tự chăm sóc cho người bệnh HPQ, ưu tiên người mới mắc, người cao tuổi và người có trình độ học vấn thấp; nội dung tập trung vào sử dụng thuốc đúng, nhận biết và xử trí sớm cơn hen, xây dựng kế hoạch hành động cá nhân và duy trì theo dõi sau tư vấn; (ii) Các cơ sở y tế nên xem xét áp dụng mô hình tự chăm sóc Orem trong điều dưỡng ngoại trú, kết hợp hỗ trợ định kỳ như gọi điện hoặc tư vấn cá thể hóa. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có một số hạn chế. Thứ nhất, phương pháp chọn mẫu thuận tiện và không ngẫu nhiên có thể dẫn đến sai lệch chọn mẫu. Thứ hai, sự khác biệt giữa hai nhóm tại thời điểm ban đầu ở một số khía cạnh CLCS có thể ảnh hưởng đến khả năng suy luận quan hệ nhân quả. Thứ ba, cỡ mẫu nhỏ và thời gian theo dõi ngắn có thể chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả lâu dài can thiệp. Do đó, cần có các nghiên cứu với thiết kế ngẫu nhiên, cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn trong tương lai.n

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Thị Minh Anh, Nguyễn Thị Xuân Liễu, Phạm Anh Tuấn, và Nguyễn Thị Thu Thủy (2021), Phân tích ngưỡng chi trả trên mỗi năm sống có chất lượng tăng thêm của người bệnh hen phế quản tại Bệnh viện Khu vực 11, Vietnam Medical Journal N02 - August – 2021.

2. Bộ Y tế (2020), Quyết định số 1851/QĐ-BYT ngày 24/4/2020, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen phế quản người lớn và trẻ em ≥ 12 tuổi, tr.1-48.

3. Phan Quang Đoàn, Tôn Kim Long (2006), Độ lưu hành hen phế quản trong học sinh một số trường học ở Hà Nội và tình hình sử dụng Seretide dự phòng hen trong cać đối tượng này, Tạp chí Y học thực hành, tr.1-547.

4. Cao Thị Hồng Quyên (2020). Thực trạng chăm sóc người bệnh COPD và mộtsố yếu tố liên quan đến chăm sóc tại khoa hồi sức cấp cứu trung tâm y tế Gò Quao-Kiên Giang (Doctoral dissertation, TLU).

5. Altay, N & Cavusoglu, H. (2013), Using Orem’s self-care modelfor asthmatic adolescents,OriginalArticle, 18(3),P.233-242.

6.ArabM,NassehiA,BorhaniF,ZadehAA.TheEffects ofthe Compliance Based Education on Asthmatic Patients’Quality of Life. SciJ Hamadan Nurs Midwifery Faculty. 2012;20(2):32–42.

7. Said Sabry, S., Abdelrazek Mahmoud, A., & Abdallah Abdel-Mordy, M. (2021). Effect of Orem’s Self-Care Behavior Model on Quality of Life of Elderly Patients with Chronic Obstructive Pulmonary Disease. Egyptian Journal of Health Care, 12(2), 1126-1151.

8. Hemati, Z; Abasi, S; Mosaviasl, F; Shakerian, B & Kiani, D. (2016), Effect of Orem’s Self-Care Model on Perceived Stressin Adolescents with Asthma Referring the Asthma and Allergy Clinic, Isfahan, Original Article, 4(3), P.247-255.

9. Hemati, Z; Shakerian, B; Shirani, F; Mosaviasl, F, S & Kiani, D. (2017), Effect of the Orem Self-care Model on Quality of Life in Adolescents with Asthma, ResearchArticle, 8(2), P.1-5.

10. Horak, F; Doberer, D; Eber, E; et al, (2016), Diagnosis and management of asthma–Statement on the 2015 GINA Guidelines, Wiener KlinischeWochenschrift,128(15-16),P.541-554.

11. Marks, G. B., Dunn, S. M., & Woolcock,A.J. (1992). A scale for the measurement of quality of life in adults with asthma. Journal of Clinical Epidemiology, 45(5), 461–472.


Tin mới