TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT TẠI KHOA NGOẠI - GÂY MÊ HỒI SỨC BỆNH VIỆN ĐA KHOA MEDIC BÌNH DƯƠNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng thuốc giảm đau và đánh giá diễn biến mức độ đau sau phẫu thuật (PT) tại Khoa Ngoại – Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 140 bệnh nhân được phẫu thuật và điều trị tại Khoa Ngoại – Gây mê hồi sức từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2024. Mức độ đau được đánh giá bằng thang điểm NRS. Các thông tin về đặc điểm bệnh nhân, loại phẫu thuật và phác đồ giảm đau được thu thập và phân tích bằng các phương pháp thống kê mô tả.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 47,51 ± 18,15; nữ chiếm 51,43%. Phẫu thuật nộisoi cắt ruột thừa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,14%), tiếp theo là cắt trĩ (20%) và kết hợp xương (15%). Điểm đau trung bình giảm rõ rệt từ 6,17 ± 1,28 ở ngày thứ nhất xuống 3,86 ± 0,58 ở ngày thứ ba sau phẫu thuật. Trong ngày đầu sau phẫu thuật, phác đồ giảm đau đa mô thức đường tĩnh mạch được sử dụng phổ biến, trong đó phối hợp Nefopam + Paracetamol chiếm 37,14%. Đến ngày thứ ba, điều trị chủ yếu chuyển sang đơn trị liệu đường uống với Paracetamol 500 mg (56,43%). Tác dụng không mong muốn ghi nhận ở mức thấp, chủ yếu là đau thượng vị (15%) và buồn nôn (7,86%).
Kết luận: Việc sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại Khoa Ngoại – Gây mê hồi sức Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương phù hợp với chiến lược giảm đau đa mô thức, mang lại hiệu quả giảm đau rõ rệt và tỷ lệ tác dụng phụ thấp.
Từ khoá: Giảm đau sau phẫu thuật, giảm đau đa mô thức, thang điểm NRS, Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương.
ABSTRACT
Objectives: To describe postoperative analgesic use and assess the progression of postoperative pain among patients at the Department of Surgery and Anesthesiology, Medic Binh Duong General Hospital.
Subjects and Methods:Aprospective cross-sectional descriptive study was conducted on 140 patients undergoing surgery at the Department of Surgery and Anesthesiology from September to November 2024. Pain intensity was assessed using the Numeric Rating Scale (NRS). Patient characteristics, types of surgery, and analgesic regimens were collected and analyzed using descriptive statistical methods.
Results: The mean age of participants was 47.51 ± 18.15 years, and females accounted for 51.43%. Laparoscopic appendectomy was the most common procedure (32.14%), followed by hemor rhoidectomy (20%) and osteosynthesis (15%). The mean pain score decreased significantly from 6.17 ± 1.28 on postoperative day 1 to 3.86 ± 0.58 on postoperative day 3. Intravenous multimodal analgesia was primarily used on the first postoperative day, with the combination of Nefopam and Paracetamol accounting for 37.14%. By the third postoperative day, treatment was mainly switched to oral monotherapy, predominantly Paracetamol 500 mg(56.43%). The incidence of adverse effects was low, mainly epigastric pain (15%) and nausea (7.86%).
Conclusion: Postoperative analgesic management at Medic Binh Duong General Hospital follows a multimodal analgesia strategy, providing effective pain control with a low rate of adverse effects.
Keywords: postoperative analgesia, multimodal analgesia, NRS pain scale, Medic Binh Duong General Hospital.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau sau phẫu thuật được coi là “dấu hiệu sinh tồn thứ 5”, là một thách thức lớn trong ngoại khoa với hơn 80% bệnh nhân phải trải qua, trong đó 50-75% chịu đựng mức độ đau từ trung bình đến nặng theo báo cáo của IASP năm 2020 [2]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận tỷ lệ đau dao động từ 80,2% đến 100% [4]. Việc kiểm soát đau không hiệu quả không chỉ gây rối loạn tâm sinh lý mà còn gia tăng nguy cơ biến chứng hô hấp, tim mạch, làm chậm quá trình phục hồi và dẫn đến đau mạn tính [11]. Dù chiến lược giảm đau đa mô thức được khuyến cáo rộng rãi [10], thực tế lâm sàng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân được giảm đau thỏa đáng vẫn chưa tối ưu [5].
Hiện nay, các nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc giảm đau tại các cơ sở y tế còn hạn chế, đặc biệt tại Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương nơi thực hiện số lượng lớn phẫu thuật ở nhiều chuyên khoa nhưng chưa có nghiên cứu nào trước đó đánh giá việc dùng thuốc giảm đau hậu phẫu. Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá và quản lý đau hậu phẫu nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại Khoa Ngoại – Gây mê hồi sức Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương” với các mục tiêu: khảo sát đặc điểm bệnh nhân, đánh giá mức độ đau thực tế và phân tích thực trạng sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại khoa.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu.
2.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu
BN có chỉ định, được can thiệp phẫu thuật và điều trị tại khoa ngoại - GMHS Bệnh viện Đa khoa MedicBình Dương từ ngày 01/09/2024- 30/11/2024. Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.3. Tiêu chuẩn loại trừ
Không đồng ý tham gia nghiên cứu. BN < 15 tuổi, điều trị < 3 ngày, có tai biến hay biến chứng về PT và gây mê, dị ứng với thuốc giảm đau trong nghiên cứu, BN có hồ sơ bệnh án ghi nhận tình trạng: nghiện hoặc phụ thuộc các opioid, heroin..., không thể trả lời đầy đủ các câu hỏi.
2.4. Cỡ mẫu
Trong 3 tháng nhóm nghiên cứu thu thập được 140 BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin đối tượng nghiên cứu Thu thập các thông tin nhằm thống kê các đặc điểm lâm sàng về BN gồm: Tuổi, giới tính, bệnh kèm theo, thu thập chẩn đoán PT, loại PT, phương pháp vô cảm theo hồ sơ bệnh án. Thông tin chỉ định dùng thuốc Tỷ lệ từng nhóm thuốc, loại thuốc, đường dùng (IV,IM, PO, Đặt hậu môn), liều lượng, tỷ lệ phối hợp. Đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật:
+ Hình thức: phỏng vấn trực tiếp BN.
+ Bộ công cụ: thang điểm số NRS (hình 1.1).
.png)
+ Quy trình thu thập số liệu về đau của BN sẽ được tiến hành:
ngày thứ nhất sau phẫu thuật đến khi BN xuất viện. Ngay ngày phẫu thuật, khảo sát BN 1 lần trước khi chuyển bệnh nhân về khoa phòng; ngày kế tiếp, khảo sát 2 lần trong ngày, lần 1 vào khoảng khung giờ 9-11h, lần 2 vào khoảng 17-18h trong ngày.
+ Nội dung: điểm theo thang NRS, bao gồm 3 câu hỏi về mức độ đau lúc đau nặng nhất, đau nhẹ nhất và tại thời điểm khảo sát.
2.6. Xử lý thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS 27 và Microsoft Office Excel. Đạo đức nghiên cứu Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Bệnh viện thông qua (số 220 QĐGĐ-BVMEDICBD). Mọi số liệu trong nghiên cứu bảo đảm trung thực, chính xác. Thông tin về người bệnh được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi và giới tính (n=140)
.png)
Nhận xét: Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 47,51 ± 18,15, trong đó độ tuổi hay gặp nhất là 18 – 39 tuổi chiếm tỷ lệ 41%. Nữ giới (51,43%) cao hơn nam giới (48,57%).
Bảng 3.2. Phân bố bệnh kèm theo (n=140)
.png)
Nhận xét: Các bệnh lý kèm theo phổ biến nhất trong nhóm nghiên cứu là tăng huyết áp (21,43%), viêm dạ dày (15%) và đái tháo đường (7,86%).
Bảng 3.3. Mức độ đau sau phẫu thuật

Nhận xét: Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt ruột thừa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,14%), tiếp theo là phẫu thuật cắt trĩ (20%) và phẫu thuật kết hợp xương (15%). Về phương pháp vô cảm, gây tê tủy sống (45%) và gây mê nội khí quản (42,14%) là hai phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Theo phân loại phẫu thuật, nhóm loại 1B chiếm tỷ lệ cao nhất (27,14%), tiếp theo là loại 1C (25,71%).
Bảng 3.4. Phối hợp thuốc điều trị (n=140)

Nhận xét: Kết quả đánh giá theo thang điểm NRS cho thấy mức độ đau giảm rõ rệt theo thời gian sau phẫu thuật. Điểm đau trung bình ở mức cao nhất giảm từ 6,17 điểm ở ngày thứ nhất xuống còn 3,86 điểm ở ngày thứ ba. Tương tự, điểm đau trung bình ở mức thấp nhất cũng giảm từ 4,46 điểm ở ngày thứ nhất xuống 2,59 điểm ở ngày thứ ba, cho thấy hiệu quả cải thiện đau trong quá trình điều trị.
Bảng 3.5. Phối hợp thuốc điều trị (n=140)

Nhận xét: Trong ngày đầu sau phẫu thuật, chiến lược giảm đau đa mô thức được ưu tiên nhằm kiểm soát hiệu quả cơn đau cấp tính, trong đó phối hợp Nefopam và Paracetamol được sử dụng phổ biến nhất (37,14%). Tỷ lệ sử dụng opioid rất thấp (<3%). Từ ngày thứ hai đến ngày thứ ba sau phẫu thuật, xu hướng điều trị chuyển dần sang đơn trị liệu, trong đó Paracetamol 500 mg trở thành thuốc được sử dụng chủ yếu và chiếm tỷ lệ cao nhất vào ngày thứ ba (56,43%).
Bảng 3.6. Đường dùng thuốc giảm đau (n=140)

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chuyển dịch hợp lý về đường dùng thuốc giảm đau từ xâm lấn sang ít xâm lấn theo quá trình hồi phục của người bệnh. Trong ngày đầu sau phẫu thuật, đường tĩnh mạch được ưu tiên sử dụng (74,04%) nhằm kiểm soát hiệu quả cơn đau cấp tính. Đến ngày thứ ba, đường uống trở thành phương thức điều trị chủ yếu (55,81%), phù hợp với sự cải thiện khả năng dung nạp của người bệnh. Đường tiêm bắp được duy trì tương đối ổn định (khoảng 20– 25%) với vai trò hỗ trợ, trong khi đường đặt hậu môn được sử dụng với tỷ lệ thấp
Bảng 3.7. Phản ứng có hại của thuốc (n=140)

Nhận xét: Tỷ lệ ghi nhận tác dụng không mong muốn (ADR) trong nghiên cứu tương đối thấp và chủ yếu ở mức độ nhẹ. Cụ thể, buồn nôn và nôn chiếm 7,86%, trong khi đau thượng vị chiếm 15%. Các trường hợp này đều được xử trí hiệu quả thông qua điều chỉnh tốc độ truyền thuốc và phối hợp điều trị hỗ trợ, không ghi nhận biến cố nghiêm trọng.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và các yếu tố liên quan
Trong nghiên cứu này, tổng số 140 bệnh nhân (BN) được khảo sát, với tuổi trung bình 47,51 ± 18,15, trong đó nhóm 18–39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (41%). Kết quả phân tích cho thấy tuổi không liên quan đến mức độ đau sau phẫu thuật. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Xuân Trường và cộng sự [6] và Đinh Thị Thu Hương và cộng sự [3], nhưng khác với nhận định của Barrington JW [8], cho rằng bệnh nhân trẻ tuổi có xu hướng trải nghiệm mức độ đau cao hơn.
Về giới tính, tỷ lệ nữ (51,43%) cao hơn nam (48,57%), tuy nhiên không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ đau giữa hai giới. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Xuân Trường và cộng sự [6]. Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy phụ nữ có xu hướng trải nghiệm đau nhiều hơn. Cụ thể, A. Tiruneh và cộng sự [13] ghi nhận tỷ lệ đau sau phẫu thuật từ trung bình đến nặng cao hơn ở nữ, đặc biệt trong các trường hợp có đau trước phẫu thuật hoặc vết mổ da lớn.
Các bệnh lý kèm theo phổ biến nhất trong nghiên cứu là tăng huyết áp (21,43%) và viêm dạ dày (15%). Sự hiện diện của các bệnh lý này đòi hỏi sự thận trọng trong lựa chọn thuốc giảm đau, đặc biệt là NSAIDs và opioid, do nguy cơ ảnh hưởng đến huyết áp, hệ tim mạch và đường tiêu hóa [1, 9, 12]. Về chỉ định phẫu thuật, phẫu thuật nội soi ổ bụng – cắt ruột thừa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,14%), tiếp theo là phẫu thuật cắt trĩ (20%) và phẫu thuật kết hợp xương (15%). Hai phương pháp vô cảm được sử dụng phổ biến nhất là gây tê tủy sống (45%) và gây mê nội khí quản (42,14%), trong đó phẫu thuật loại 1B và 1C chiếm tỷ lệ cao nhất theo phân loại phẫu thuật.
4.2. Mức độ đau sau phẫu thuật
Nghiên cứu sử dụng thang điểm Numeric Rating Scale (NRS) cho thấy mức độ đau sau phẫu thuật giảm dần theo thời gian. Điểm đau trung bình giảm từ 6,17 điểm (mức đau nặng nhất) và 4,46 điểm (mức đau nhẹ nhất) ở ngày thứ nhất xuống còn 3,86 điểm (mức đau nặng nhất) và 2,59 điểm (mức đau nhẹ nhất) ở ngày thứ ba. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Xuân Trường và cộng sự [6], và Nguyễn Tứ Sơn và cộng sự, trong đó điểm đau giảm từ 7,39 ở ngày thứ nhất xuống 5,34 ở ngày thứ ba sau phẫu thuật [5].
Về thời điểm xuất hiện đau, trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật, cơn đau thường đạt đỉnh khoảng 3 – 4 giờ sau phẫu thuật. Ở các ngày tiếp theo, mức độ đau thường tăng vào buổi tối hoặc ban đêm, trùng với thời điểm tác dụng giảm đau của thuốc bắt đầu suy giảm. Mô hình phân bố này gợi ý cần điều chỉnh thời điểm và phác đồ sử dụng thuốc giảm đau nhằm bảo đảm kiểm soát đau liên tục, đặc biệt tại các thời điểm tác dụng thuốc giảm dần, qua đó đáp ứng đầy đủ nhu cầu giảm đau của người bệnh trong suốt quá trình hồi phục sau phẫu thuật.
4.3. Thực trạng sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật
Phác đồ điều trị cho thấy sự chuyển dịch hợp lý từ giảm đau đa mô thức sang đơn trị liệu tương ứng với quá trình hồi phục của người bệnh sau phẫu thuật. Trong ngày đầu hậu phẫu, phối hợp thuốc giảm đau được ưu tiên nhằm kiểm soát hiệu quả cơn đau cấp, trong đó Nefopam kết hợp Paracetamol 1 g chiếm 37,14% và Paracetamol kết hợp Diclofenac chiếm 15,71%. Tỷ lệ sử dụng opioid rất thấp (<3%), phù hợp với xu hướng hiện nay trong kiểm soát đau hậu phẫu là hạn chế sử dụng opioid nhằm giảm nguy cơ tác dụng phụ và phụ thuộc thuốc [5, 11].
Từ ngày thứ hai đến ngày thứ ba sau phẫu thuật, xu hướng điều trị chuyển dần sang đơn trị liệu, với Paracetamol 1 g chiếm 37,14% ở ngày thứ hai và Paracetamol 500 mg tăng lên 56,43% ở ngày thứ ba, trong khi tỷ lệ phối hợp thuốc giảm đáng kể. Sự thay đổi này phản ánh hiệu quả kiểm soát đau tốt và tuân thủ nguyên tắc giảm dần cường độ điều trị khi mức độ đau giảm [10]. Về đường dùng thuốc, nghiên cứu ghi nhận sự chuyển đổi từ các phương thức xâm lấn sang các phương thức thuận tiện hơn: đường tĩnh mạch (IV) giảm từ 74,04% ở ngày thứ nhất xuống còn 20,35% ở ngày thứ ba, trong khi đường uống (PO) tăng từ 0,35% lên 55,81%, phù hợp với mục tiêu an toàn điều trị và thúc đẩy phục hồi sớm sau phẫu thuật.
Đối với tác dụng không mong muốn (ADR), tỷ lệ buồn nôn và nôn ghi nhận là 7,86%, thấp hơn so với 15,6% trong nghiên cứu của Phan Tôn Ngọc Vũ và cộng sự [7], CácADR chủ yếu ở mức độ nhẹ và thường cải thiện sau khi điều chỉnh tốc độ truyền hoặc áp dụng các biện pháp hỗ trợ. Tỷ lệ đau thượng vị là 15%, tương đồng với dữ liệu trong Dược thư Quốc gia (5–15%) về tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa của Diclofenac, và các triệu chứng thường giảm khi phối hợp điều trị với thuốc ức chế bơm proton (PPI) [1].
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại Khoa Ngoại - Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đa khoa Medic Bình Dương nhìn chung phù hợp với nguyên tắc giảm đau đa mô thức và cá thể hóa điều trị. Phác đồ giảm đau được sử dụng linh hoạt theo thời gian hậu phẫu, với ưu tiên phối hợp thuốc đường tĩnh mạch trong giai đoạn sớm để kiểm soát đau cấp tính, sau đó chuyển dần sang các đường dùng ít xâm lấn hơn khi tình trạng người bệnh ổn định. Mức độ đau của bệnh nhân giảm rõ rệt theo thời gian theo thang điểm NRS, đồng thời tỷ lệ tác dụng không mong muốn ghi nhận thấp và chủ yếu ở mức độ nhẹ. Từ kết quả nghiên cứu, cần tiếp tục duy trì và chuẩn hóa các phác đồ giảm đau đa mô thức sau phẫu thuật, kết hợp đánh giá đau thường quy bằng các thang điểm chuẩn hóa nhằm tối ưu hiệu quả kiểm soát đau. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo và cập nhật kiến thức cho nhân viên y tế về quản lý đau sau phẫu thuật, đặc biệt về lựa chọn phác đồ và theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc. Ngoài ra, các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng cỡ mẫu và phân tích sâu hơn mối liên quan giữa phác đồ giảm đau và kết quả lâm sàng, nhằm cung cấp thêm bằng chứng cho việc tối ưu hóa chiến lược giảm đau sau phẫu thuật.n
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2022), Dược thư quốc gia Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.
2. Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu về Đau (2020), IASP President President onAcute Pain, truy cập ngày 11/04/2025, tại trang web www.iasp-pain.org.
3. Đinh Thị Thu Hương và các cộng sự. (2022), “Tình trạng đau, mất ngủ sau phẫu thuật ổ bụng bằng phương pháp mổ mở và mộtsố yếu tố liên quan”, Tạp chí Y học Việt Nam, 519(1), tr. 69-73.
4. Nguyễn Đình Ký và các cộng sự. (2025), “Nghiên cứu tổng quan hệ thống về gánh nặng triệu chứng sau mổ tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 192(7), tr. 609-620.
5. Nguyễn Tứ Sơn và các cộng sự. (2023), “Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau trên bệnh nhân phẫu thuật tại khoa chấn thương chỉnh hình và kỹ thuật cao Bệnh Viện Xanh Pôn”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 526(1A), tr. 267-272.
6. Trần Xuân Trường và các cộng sự. (2023), “Khảo sát mức độ đau trước và sau phẫu thuật của bệnh nhân khoa điều trị theo yêu cầu 9B1”, Tạp chí Y học ViệtNam, DB1, tr. 320-328.
7. Phan Tôn Ngọc Vũ và Đỗ Như Thương (2023), “Đánh giá hiệu quả giảm đau cấp sau mổ của nefopam kết hợp diclofenac trong phẫu thuật nội soi khớp gối”, Tạp chí Y học Việt Nam, 530(2), tr. 92-96.
8. Barrington, J. W. et al. (2016), “Postoperative Pain After Primary Total Knee Arthroplasty: Comparison of Local Injection Analgesic Cocktails and the Role of Demographic and Surgical Factors”, JArthroplasty, 31(9 Suppl), pp. 288-92.
9.Buciuman,C.A. et al.(2025), “Exploring theCardiovascular Safety Profile ofIbuprofen:InsightsfromEudraVigilance Database”, Pharmaceuticals(Basel), 18(7), pp. 1045.
10. Chou, R. et al. (2016), “Management of Postoperative Pain: A Clinical Practice Guideline From the American PainSociety,theAmericanSociety ofRegionalAnesthesia and PainMedicine, and theAmerican Society ofAnesthesiologists’ Committee onRegionalAnesthesia,ExecutiveCommittee, and Administrative Council”, J Pain, 17(2), pp. 131-57.
11. Kubulus, C. et al. (2025), “Doesthe quality of pain relief after major surgery influence the risk of postoperative complications? A prospective observational study”, PLoS One, 20(9), pp. e0332866.
12. Rivasi, G. et al. (2022), “The Effects of Pain and Analgesic Medications on Blood Pressure”, Current Hypertension Reports, 24, pp. 385-394.
13. Tiruneh, A, et al. (2021), “The magnitude and associated factors of post-operative pain at Debre Tabor compressive specialized hospital, Debre Tabor Ethiopia, 2018”, SAGE Open Med, 9, pp. 20503121211014730.
Tin mới
-
Mô tả thực trạng sử dụng thuốc giảm đau và đánh giá diễn biến mức độ đau sau...26/05/2026 17:27
-
LIÊN QUAN GIỮA GIAI ĐOẠN BỆNH, CHỨC NĂNG GAN VÀ KẾT QUẢ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
Mô tả mối liên quan giữa giai đoạn bệnh, chức năng gan với kết quả chăm sóc điều...26/05/2026 17:13 -
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG
Mô tả thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh...26/05/2026 17:11 -
KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP ĐỂ HỞ VẾT MỔ SAU 48 GIỜ TRONG PHẪU THUẬT SẠCH VÀ SẠCH NHIỄM TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP, BỆNH VIỆN ĐA KHOA SỐ 1 TỈNH LÀO CAI NĂM 2025
Mô tả kết quả để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch và...26/05/2026 16:54 -
Y tế cơ sở chuyển mình mạnh mẽ, giảm tải cho tuyến trên
Nhiều bệnh viện và cơ sở y tế tuyến dưới đang được đầu tư mạnh về nhân lực,...26/05/2026 10:11 -
Tỉ lệ tử vong do Ebola có thể lên đến 90%, Bộ Y tế nêu các triệu chứng thường gặp khi mắc bệnh
Virus Ebola có thể lây truyền do tiếp xúc với các đồ dùng của người bị nhiễm bệnh...26/05/2026 10:44 -
Phú Thọ: Liên tiếp nhập viện do sốc nhiệt vì nắng nóng cực đoan
Trong những ngày thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài, Khoa Cấp cứu – Bệnh viện Đa...26/05/2026 10:40 -
Hỗ trợ 70% học phí: Cao đẳng Y tế Hà Đông mở rộng cơ hội cho sinh viên theo học ngành y dược
Trong bối cảnh học phí đại học ngày càng tăng, nhiều học sinh và phụ huynh đứng trước...25/05/2026 13:48 -
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà xúc động khi đến thăm các bệnh nhi tại giường bệnh
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã đến thăm, động...25/05/2026 13:24 -
ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TÂY NINH NĂM 2025
Mô tả động lực làm việc của điều dưỡng và phân tích một số yếu tố liên quan...25/05/2026 12:07 -
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TÉ NGÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ YÊN
Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh...25/05/2026 11:30 -
Phát hiện 7 cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm, đề nghị xử phạt 177 triệu đồng
Trong “Tháng Hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2026, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Nghệ...25/05/2026 11:35 -
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT ĐỘNG MẠCH GAN TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hóa chất động mạch gan (HAIC) trong...25/05/2026 11:05 -
BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG – TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, không gian...25/05/2026 08:59






.webp)






