KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP ĐỂ HỞ VẾT MỔ SAU 48 GIỜ TRONG PHẪU THUẬT SẠCH VÀ SẠCH NHIỄM TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP, BỆNH VIỆN ĐA KHOA SỐ 1 TỈNH LÀO CAI NĂM 2025

Mô tả kết quả để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch và sạch nhiễm tại khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai.

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đánh giá kết quả để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch/sạch nhiễm tại khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai.

Mục tiêu: Mô tả kết quả để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch và sạch nhiễm tại khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 42 bệnh nhân phẫu thuật sạch,sạch-nhiễm vùng bụng tại khoa Ngoại tổng hợp, được chỉ định để hở vết mổ sau 48 giờ hậu phẫu từ tháng 02/2025 đến tháng 06/2025.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 58 ± 14,7; trong đó ASA II chiếm 71,4% và tỷ lệ BMI ở mức thừa cân là 14,3%. Các biện pháp chuẩn bị trước mổ bao gồm: tắm sát khuẩn (81%) và cung cấp carbohydrate (54,8%). Tỷ lệ tuân thủ kháng sinh dự phòng đúng nguyên tắc đạt 71,4%. Về kỹ thuật, phẫu thuật mở chiếm 57,1% và phẫu thuật nội soi (PTNS) qua đường rạch nhỏ chiếm 42,9%; chiều dài vết mổ trung bình là 10,2 ± 4,6 cm (4-28 cm). Tại thời điểm 48 giờ hậu phẫu, 81% vết mổ có trạng thái bình thường, 14,3% sưng đỏ khu trú và 4,8% có dịch tiết. Có 02 trường hợp (4,8%) cần chỉ định băng lại vết mổ. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) ghi nhận là 4,8%. Thời gian nằm viện trung bình đạt 6,2 ± 1,6 ngày. Điểm đánh giá sự thoải mái khi vệ sinh cơ thể đạt 8,5/10; mức độ an tâm về lành thương đạt 8,4 và mức độ hài lòng chung đạt 9,0 điểm.

Kết luận: Phương pháp để hở vết mổ sau 48 giờ đối với phẫu thuật sạch và sạch-nhiễm là an toàn và khả thi. Kỹ thuật này không chỉ đảm bảo hiệu quả lâm sàng mà còn góp phần tăng mức độ thoải mái và sự hài lòng của người bệnh.

Từ khóa: không thay băng, để hở vết mổ, nhiễm khuẩn vết mổ.

ABSTRACT

Objective: To describe the outcomes of exposing the surgical wound (without dressing) after 48 hours in clean and clean-contaminated surgeries at the General Surgery Department – Lao Cai General Hospital No. 1.

Methodology: A prescriptive study was conducted on 42 patients undergoing clean or clean-contaminated abdominal surgeries at the General Surgery Department, who were indicated for exposed wounds 48 hours postoperatively, from February 2025 to June 2025.

Results: The mean age of the study sample was 58 ± 14.7 years; ASA II accounted for 71.4%, and the rate of overweight BMI was 14.3%. Preoperative preparation measures included antiseptic bathing (81%) and carbohydrate loading (54.8%). Compliance with prophylactic antibiotic guidelines reached 71.4%. Regarding surgical techniques, open surgery accounted for 57.1%, while laparoscopic surgery through mini-incisions accounted for 42.9%; the average incision length was 10.2 ± 4.6 cm (range 4–28 cm). At 48 hours postoperatively, 81% of wounds were normal, 14.3% had localized redness and swelling, and 4.8% had exudate. Two cases (4.8%) required re-dressing of the wound. The rate of surgical site infection (SSI) recorded was 4.8%. The average hospital stay was 6.2 ± 1.6 days. The comfort score during personal hygiene was 8.5/10; the sense of wound healing security reached 8.4, and overall satisfaction was 9.0 points. Conclusion: The method of exposing the surgical wound after 48 hours in clean and clean-contaminated surgeries is safe and feasible. This technique not only ensures clinical effectiveness but also enhances patient comfort and satisfaction.

Keywords: no dressing change, leaving the surgical wound exposed, surgical site infection.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) chiếm tỷ lệ khoảng 20% trong nhiễm khuẩn Bệnh viện [8]. NKVM gây kéo dài thời gian nằm viện, giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng tài chính cho cả người bệnh và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Các giải pháp tối ưu chăm sóc vết mổ luôn là chủ đề được các cơ sở y tế quan tâm với mục tiêu rút ngắn thời gian lành vết mổ, giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, tối giản công tác chăm sóc vết mổ.

Thay băng vết mổ là công việc thường quy của Điều dưỡng viên và cũng được xem là biện pháp giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Theo hướng dẫn của CDC vào năm 1999 [5], vết mổ được khuyến cáo giữ khô và băng kín trong 24-48 giờ đầu nhưng thời điểm không thay băng vết mổ vẫn còn nhiều tranh cãi. Băng gạc đóng vai trò như một hàng rào vật lý giúp bảo vệ vết thương, và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn từ môi trường bên ngoài. Đồng thời, băng gạc hỗ trợ kiểm soát dịch tiết, duy trì môi trường độ ẩm phù hợp và giữ cho vết thương luôn sạch sẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lành thương. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy môi trường ẩm dưới gạc thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn, làm chậm quá trình lành vết thương.

Tháo băng sớm là thuật ngữ được các tác giả trên thế giới sử dụng cho các trường hợp được tháo băng và không thay băng lại ≤ 48 giờ sau phẫu thuật [7]. Tháo băng sớm hỗ trợ đánh giá vết thương kịp thời, giảm độ ẩm dư thừa, hạn chế kích ứng da do băng dính và tăng sự hài lòng của người bệnh, đồng thời tiết kiệm nguồn lực chăm sóc.

Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai thực hiện trung bình 1.800 ca phẫu thuật chương trình mỗi năm. Từ tháng 02/2025, khoa đã triển khai kỹ thuật để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ hậu phẫu. Nhằm đánh giá tính an toàn, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ cũng như các lợi ích lâm sàng đối với người bệnh, nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: Mô tả kết quả của phương pháp để hở vết mổ sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch và sạch nhiễm tại khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn: Phẫu thuật mở hoặc Phẫu thuật nội soi có đường mở nhỏ vùng bụng phân loại sạch/sạch nhiễm. Tiêu chuẩn loại trừ: - Chảy máu vết mổ sau 48 giờ. - Người bệnh có bệnh gây suy giảm miễn dịch (bệnh tự miễn; ung thư giai đoạn cuối; HIV/AIDS; đang dùng thuốc ức chế miễn dịch). - Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả 42 bệnh nhân phẫu thuật sạch,sạch nhiễm vùng bụng để hở vết mổ sau 48 giờ từ tháng 2/2025 đến tháng 6/2025.

2.3. Phương pháp thực hiện

Bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu sau phẫu thuật được theo dõi như sau: Trong vòng 48 giờ đầu: Thay băng khi băng thấm dịch, thấm máu; ghi nhận số lần thay băng và tình trạng vết mổ khi mở băng lần đầu tiên. Sau 48 giờ: để vết mổ tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài và không thay băng cho đến ngày cắt chỉ, theo dõi vết mổ hàng ngày và chỉ định thay băng khi vết mổ có dấu hiệu nhiễm trùng như thấm dịch nhiều, chảy dịch mủ.. hoặc chẩn đoán NKVM nông theo tiêu chuẩn CDC 2017. Các trường hợp chỉ định thay băng lại hoặc chẩn đoán NKVM trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật được coi là can thiệp thất bại.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm người bệnh trong nghiên cứu 

Bảng 3.1. Đặc điểm chung người bệnh (n=42)

Nhận xét: Độ tuổi trung bình 58 ± 14,7 (nhỏ nhất 21, lớn nhất 88 tuổi); nam chiếm đa số với 64,3%; 4,8% có tiền sử đái tháo đường; phân độ nguy cơ gây mê hồi sức ASA mức độ II chiếm chủ yếu với 71,4%; chỉ số khối cơ thể BMI thừa cân chỉ chiếm 14,3%.

Bảng 3.2. Đặc điểm trước và sau phẫu thuật

Nhận xét: Đa số người bệnh trong nghiên cứu được tắm sát khuẩn trước phẫu thuật, cung cấp carbohydrate với tỷ lệ lần lượt 81%, 54,8%. Kháng sinh dự phòng đúng nguyên tắc chiếm 71,4%. Phẫu thuật mở chiếm 57,1%, PTNS có đường mở nhỏ chiếm 42,9%; chiều dài vết mổ trung bình 10,2 ± 4,6 cm (4-28cm).

3.2. Kết quả không băng vết mổ sạch, sạch nhiễm sau 48 giờ

Bảng 3.3. Đánh giá tình trạng vết mổ được chỉ định tháo băng sớm sau 48 giờ (n=42)

Nhận xét: 85,7% bệnh nhân được thay băng trong 48 giờ đầu trong đó 52,2% do thói quen của nhân viên y tế (NVYT), 28,5% thay băng do thấm dịch, máu. Tại thời điểm 48h sau phẫu thuật 81% vết mổ bình thường, 14,3% sưng đỏ xung quanh và 4,8% có dịch tiết. Có 2 trường hợp được chỉ định thay băng lại chiếm 4,8%.

Bảng 3.4. Kết quả không băng vết mổ sạch/sạch nhiễm sau 48 giờ (n= 42)

Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo CDC 2017 là 4,8%. Điểm VAS đánh giá đau vết mổ ở thời điểm 48h trung bình là 3,4 điểm. Thời gian nằm viện trung bình 6,2 ± 1,6 ngày. Đánh giá về sự thoải mái khi người bệnh vệ sinh cơ thể, an tâm về lành vết mổ và mức độ hài lòng chung lần lượt là 8,5; 8,4 và 9 điểm.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Về chuẩn bị trước phẫu thuật đa số người bệnh trong nghiên cứu được tắm sát khuẩn trước phẫu thuật, cung cấp Carbohydrate với tỷ lệ lần lượt 81%, 54,8%. Đây là 2 hoạt động trong chương trình chăm sóc phục hồisớm (ERAS), có nhiều nghiên cứu chứng minh giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ và các tổ chức Y tế khuyến cáo như CDC, AORN.. Kháng sinh dự phòng cũng là một giải pháp mạnh mẽ giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ và đã được Bộ Y Tế ban hành và Hướng dẫn phòng ngừa NKVM năm 2012 đưa ra các khuyến cáo cụ thể về việc sử dụng KSDP trong phẫu thuật. Trong nghiên cứu chúng tôi tỷ lệ chỉ định KSDP là 100%, tuy nhiên KSDP được sử dụng đúng nguyên tắc chiếm 71,4%.

Hiện nay, tại khoa Ngoại tổng hợp - BVĐK số 1 tỉnh Lào Cai đã áp dụng thường quy không băng vết mổ sau PT 38 giờ đối với tất cả các phẫu thuật sạch/sạch nhiễm bao gồm PTNS, PTNS có đường mở nhỏ lấy bệnh phẩm hoặc cắt nối ngoài ổ bụng và PT mở. Tuy nhiên do tỷ lệ NKVM trong PTNS rất thấp, nên trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ nhắc tới PT mở và PTNS có đường mở nhỏ trong đó phẫu thuật mở chiếm 57,1%, PTNS có đường mở nhỏ chiếm 42,9%. Số lượng đường rạch da trung bình 2,47 ± 1,6 thường chỉ có 1 đường rạch lớn nhất, vết mổ dài nhất có chiều dài trung bình 10,2 ± 4,6 cm (ngắn nhất 4cm, dài nhất 28cm). Chiều dài 15cm chiếm 7,1%. Trong NC của Phạm Minh Hải (2022) tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh áp dụng tháo băng sớm với vết mổ chiều dài ≤ 15cm [2]. Trong nghiên cứu, chúng tôi đã áp dụng thành công 03 trường hợp vết mổ dài trên 15cm và dài nhất là 28cm ở 01 BN cắt gan lớn và đem lại kết quả tốt cho thấy có thể chỉ định tháo băng sớm trên tất cả chiều dài vết mổ vùng bụng.

Về giai đoạn sau phẫu thuật, mặc dù có 71,4% trường hợp áp dụng KSDP đúng nguyên tắc, tuy nhiên vẫn có 61,9% sử dụng kháng sinh điều trị sau mổ do lựa chọn của phẫu thuật viên, thời gian điều trị kháng sinh trung bình 5,77 ± 1,2 ngày. Có 16 BN (38,1%) tuân thủ khuyến cáo chỉ cần sử dụng KSDP đối với phẫu thuật sạch/sạch nhiễm.

4.2. Kết quả không băng vết mổ sạch/sạch nhiễm sau 48 giờ

* Đặc điểm tình trạng vết mổ được chỉ định tháo băng sớm

Trong 48 giờ sau phẫu thuật, người bệnh được theo dõi tình trạng vết mổ qua băng vô khuẩn. Theo hướng dẫn của CDC vào năm 1999, vết mổ được khuyến cáo giữ khô và băng kín trong 24-48 giờ đầu, trong NC có 14,3% không thay băng trong 48 giờ, 28,5% thay băng do thấm dịch, thấm máu qua băng, tuy nhiên có 52,2% thay băng do thói quen của nhân viên y tế, công tác thay băng hàng ngày là thường quy trước đây nên một số Điều dưỡng viên chưa tạo được thói quen mới, suy nghĩ lo lắng, sợ bệnh nhân, người nhà thắc mắc. Nguyễn Thanh Quân (2021) khảo sát thấy tỷ lệ thay băng hàng ngày tại khoa Ngoại tổng hợp – BVĐK Trung ương Cần Thơ là 94,61% [1]. Điều này cho thấy thói quen thay băng hàng ngày là một rào cản tâm lý quan trọng ảnh hưởng đến quá trình triển khai tháo băng sớm vết mổ. Việc thay đổi thói quen từ “băng kín” sang “ để hở” cần có sự đào tạo và thay đổi nhận thức hệ thống, cần thực hiện những buổi sinh hoạt khoa học để nêu rõ được vai trò, chứng minh hiệu quả bằng các nghiên cứu khoa học, hình ảnh, kết quả triển khai thực tế của khoa, bên cạnh đó là xây dựng chi tiết Quy trình kỹ thuật thực hiện. Tại thời điểm 48 giờ, tháo băng kiểm tra tình trạng vết mổ được ghi nhận là 81% bình thường, 4,8% chảy dịch tiết mức độ ít; 14,3% sưng đỏ tại vết mổ. Ngoài ra có 9 TH (21,4%) có các dấu hiệu của dị ứng băng dính y tế như mẩn đỏ vị trí dán băng, ngứa dưới băng y tế, mụn nước hoặc chợt da. Theo K.Jeounghee (2021) tỷ lệ tổn thương da liên quan đến keo dán y tế ở vùng phẫu thuật ghi nhận từ 20-36,4%, những tổn thương này gây ra sự khó chịu, đau đớn ngoài vết phẫu thuật, nặng hơn có thể làm da tổn thương không thể phục hồi, làm tăng chi phí y tế và chất lượng cuộc sống của người bệnh [4]. Không băng vết mổ cũng là giải pháp để giải quyết nguy cơ tiềm ẩn này. Sau khi tháo băng, vết mổ được theo dõi hàng ngày và ghi nhận các thay đổi, trong NC ghi nhận 02 trường hợp được chỉ định thay băng lại. Trường hợp đầu tiên là bệnh nhân nam 52 tuổi thể trạng thừa cân (BMI 24,7), được PTNS cắt đại tràng trái, mở nhỏ lập miệng nối ngoài ổ bụng, ngày thứ 3, 4 tiếp tục chảy nhiều dịch tiết qua vết mổ, chẩn đoán NKVM vào ngày thứ 4 và thay băng hàng ngày, vết mổ dần giảm dịch tiết và liền tốt. Trường hợp thứ 2 là bệnh nhân nữ 45 tuổi PTNS cắt đoạn ruột non do GIST áp xe hoá, lập miệng nối ngoài ổ bụng và ghi nhận có thủng ổ áp xe khi đưa ra ngoài ổ bụng, ngày 3 sưng nề đỏ đau vết mổ lan rộng hơn thời điểm 48 giờ, quyết định thay băng lại, ngày thứ 5 phải cắt chỉ và tách vết mổ.

chứng. Nandan và cs(2024) nghiên cứu trên 300 người bệnh cho kết quả không có sự khác biệt về tỷ lệ NKVM giữa 2 nhóm tháo băng sớm và thay băng hàng ngày, nhóm tháo băng sớm mang lại lợi ích khi giảm chi phí điều trị, phát hiện sớm tình trạng NKVM và giảm thời gian nằm viện [7]. Zhang (2019) nghiên cứu trên 1708 bệnh nhân cũng cho kết quả tương tự [6]. Như vậy có thể thấy không băng vết mổ sau 48 giờ đối với vết thương sạch, sạch nhiễm là an toàn.

Hiện nay, nâng cao sự thoải mái và hài lòng của người bệnh là một nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác chăm sóc y tế. Vận động sớm, vệ sinh sớm, tắm sớm là một trong những tiêu chí quan trọng thúc đẩy sự hồi phục của người bệnh (ERAS). Tắm sớm giúp người bệnh thoải mái và hài lòng hơn mà không làm tăng nguy cơ NKVM [3], tuy nhiên khi người bệnh mang nhiều băng gạc, băng dính y tế sẽ làm gián đoạn các hoạt động trên, tháo băng sớm giúp giải quyết vấn đề này. Khi người bệnh không băng vết mổ sẽ tự tin hơn khi vệ sinh cơ thể hơn, tự tin hơn để vận động từ đó giúp quá trình hồi phục nhanh hơn. Trong nghiên cứu chúng tôi khi khảo sát về sự thoải mái khi người bệnh vệ sinh cơ thể, an tâm về lành vết mổ và mức độ hài lòng chung lần lượt là 8,5; 8,4 và 9 điểm. Kết quả tương đương Phạm Minh Hải (2022) [2]. Zhang (2019) cho kết quả người bệnh được không băng vết mổ sau mổ 48 giờ cảm thấy thoải mái khi vệ sinh cơ thể hơn 1,12 lần, cảm thấy an tâm hơn về sự lành vết mổ 1,4 lần so với nhóm không được mở băng sớm [6]. Như vậy, không băng vết mổ sau 48 giờ giúp tăng sự thoải mái và hài lòng của người bệnh và rút ngắn quá trình phục hồi sau phẫu thuật.

5. KẾT LUẬN

Phương pháp để hở vết mổ (không băng)sau 48 giờ hậu phẫu đối với các trường hợp phẫu thuật sạch và sạch-nhiễm là hoàn toàn an toàn và có tính khả thi cao trong thực hành lâm sàng. Kỹ thuật này không chỉ đảm bảo hiệu quả lành thương mà còn cải thiện đáng kể sự thoải mái, tính tự chủ trong vệ sinh cá nhân và mức độ hài lòng tổng thể của người bệnh. Tuy nhiên, để củng cố các bằng chứng khoa học và đưa phương pháp này trở thành hướng dẫn thực hành tiêu chuẩn, cần triển khai thêm các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với quy mô mẫu lớn hơn.n

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Quân, Lê Kim Tha (2021), “Khảo sát nhiễm trùng vết mổ mở vùng bụng tại Khoa Ngoại tổng quát Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2020-2021”, Tạp chí Y dược học Cần Thơ, 40, pp. 47-53.

2. Phạm Minh Hải, Phạm Thuý Trinh, cs (2022), “Kết quả không băng vết mổ sau phẫu thuật 48 giờ trong phẫu thuật sạch, sạch nhiễm vùng bụng tại Bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học Việt Nam, 516 (7), pp. 64-70.

3. Hsieh PY, Chen KY, Chen HY, et al (2016), “Postoperative Showering for Clean and Clean-contaminated Wounds:AProspective, Randomized Controlled Trial”, Ann Surg, 263 (5), pp. 931-936.

4. K.Jeounghee, ShinY(2021), “MedicalAdhesive-Related Skin Injury Associated with Surgical Wound Dressing among Spinal Surgery Patients: A Cross-Sectional Study”, Int J Environ Res Public Health, 18 (17).

5. Mangram AJ, Horan T C, Pearson M L, et al (1999), “Guideline for Prevention of Surgical Site Infection, 1999. Centersfor Disease Control and Prevention (CDC) Hospital Infection Control Practices Advisory Committee”, Am J Infect Control, 27 (2), pp. 97-132; quiz 133-134; discussion 196.

6. Zhang T, Zhang F, Chen Z, et al (2020), “Comparison of early and delayed removal of dressing following primary closure of clean and contaminated surgical wounds: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials”, Exp Ther Med, 19 (5), pp. 3219-3226.

7. Nandan M P, A. M D, Prasad P (2024), “Early versus delayed dressing removal after primary closure of clean and clean contaminated wounds: an observational study”, International Surgery Journal, 11 (8), tr. Original ResearchArticles, pp. 1288-1291.

8. Tolpadi A G, Mane A K, Dhayagude S V, et al (2021), “Surgical site infections in clean and clean contaminated surgeriesin a tertiary care teaching hospital”, International Surgery Journal, 8 (8), tr. Original Research Articles, pp. 2311-2317.

 

 

 


Tin mới