THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

Mô tả thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2025 tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Dữ liệu được thu thập thông qua quan sát trực tiếp các buổi giáo dục sức khỏe do điều dưỡng thực hiện, bao gồm 52 buổi tư vấn nhóm và 131 buổi tư vấn cá nhân. Công cụ đánh giá là bảng kiểm kỹ năng giáo dục sức khỏe do bệnh viện ban hành, với thang điểm từ 0 đến 3 (0: chưa thực hiện; 1: chưa đạt; 2: đạt; 3: tốt). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và phân tích bằng thống kê mô tả.

Kết quả: Kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng ở cả hai hình thức đều đạt mức “Đạt”. Điểm trung bình kỹ năng tư vấn nhóm là 2,24/3, trong khi tư vấn cá nhân là 2,23/3. Các kỹ năng được thực hiện tốt bao gồm chuẩn bị môi trường, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, trình bày nội dung rõ ràng và giới thiệu chủ đề tư vấn. Tuy nhiên, các kỹ năng tương tác hai chiều còn hạn chế, đặc biệt là việc sử dụng tài liệu minh họa (1,83/3), nêu ví dụ minh họa (1,81/3) và tạo cơ hội cho người bệnh thực hành lại (1,88/3). Trong tư vấn cá nhân, các kỹ năng như tìm hiểu mức độ hiểu biết của người bệnh (2,06/3), thảo luận khó khăn và giải pháp (2,07/3) và kiểm tra lại mức độ hiểu của người bệnh (2,04/3) cũng có điểm số thấp hơn so với các kỹ năng truyền đạt thông tin.

Kết luận: Điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương đã thực hiện họat động giáo dục sức khỏe cho người bệnh ở mức đạt yêu cầu. Tuy nhiên, cần tăng cường đào tạo và cải thiện các kỹ năng tương tác hai chiều, khuyến khích sự tham gia của người bệnh và áp dụng các phương pháp sư phạm phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của họat động giáo dục sức khỏe.

Từ khoá: Giáo dục sức khỏe, kỹ năng tư vấn, điều dưỡng, người bệnh, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

ABSTRACT

Objective: To assess the current status of health education skills among nurses providing education for patients at the National Otorhinolaryngology Hospital.

Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted from June to September 2025 at the National Otorhinolaryngology Hospital. Data were collected through direct observation of health education sessions delivered by nurses, including 52 group sessions and 131 individual sessions. A standardized health education skill checklist issued by the hospital was used for assessment, with a scoring scale ranging from 0 to 3 (0: not performed; 1: inadequate; 2: achieved; 3: good). Data were analyzed using SPSS with descriptive statistical methods. Results: Nurses’ health education skills in both formats were rated at the “achieved” level. The mean score for group health education sessions was 2.24/3, while individual counseling sessions scored 2.23/3. Strong performance was observed in skills related to preparation, clear presentation, and the use of simple language. However, several interactive skills were relatively limited, particularly the use of educational materials (1.83/3), providing illustrative examples (1.81/3), and creating opportunities for patients to practice (1.88/3). In individual counseling, lower scores were noted in assessing patients’ prior knowledge (2.06/3), discussing difficulties and problem-solving (2.07/3), and verifying patient understanding (2.04/3).

Conclusions: Nurses at the National Otorhinolaryngology Hospital generally demonstrated acceptable health education skills. Nevertheless, improvements are needed in interactive communication skills, patient engagement, and the application of participatory educational approaches to enhance the effectiveness of patient health education.

Keywords: health education, nurses, patient education skills, hospital, patient.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục sức khỏe (GDSK) đóng một vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe, cả tại các cơ sở khám chữa bệnh nói riêng và trong cộng đồng nói chung [1-4]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xếp GDSK là nội dung số một trong các nội dung về chăm sóc sức khỏe ban đầu [1]. Họat động GDSK giúp người bệnh nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi đối với sức khỏe và bệnh tật của mình, từ đó góp phần giúp họ đạt được mục tiêu điều trị tốt nhất [1-3]. Điều dưỡng viên là lực lượng đông đảo nhất và tiếp xúc với người bệnh nhiều nhất trong bệnh viện [3, 4], giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp GDSK [2, 4]. Họat động truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điều dưỡng theo quy định [5], yêu cầu điều dưỡng viên phối hợp với bác sĩ và các chức danh chuyên môn khác để tư vấn, hướng dẫn người bệnh về kiến thức bệnh, cách tự chăm sóc, theo dõi, hợp tác với nhân viên y tế, các quy định về an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, phục hồi chức năng [5].

Để thực hiện tốt họat động GDSK, người điều dưỡng cần có kiến thức chuyên môn tốt và kỹ năng GDSK tốt [2, 3]. Các kỹ năng cơ bản trong GDSK bao gồm làm quen, quan sát, lắng nghe, đặt câu hỏi, giải thích, sử dụng tài liệu, và khuyến khích động viên khen ngợi[3]. Việc sở hữu kỹ năng tốt giúp điều dưỡng chủ động nắm bắt thông tin, lập kế họach chăm sóc phù hợp và ghi nhận phản hồi từ người bệnh [2]. Mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của GDSK đã được nâng cao [2], và nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức của điều dưỡng về GDSK đạt mức tốt hoặc khá cao [1, 3], nhưng thực trạng kỹ năng thực hành GDSK vẫn còn những hạn chế nhất định tại một số bệnh viện [2, 3]. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kỹ năng thực hành đạt mức trung bình hoặc kém còn chiếm tỷ lệ đáng kể [2, 3], đặc biệt là các kỹ năng như sử dụng câu hỏi mở, thảo luận giải quyết vấn đề, hay khuyến khích người bệnh tự chọn cách giải quyết phù hợp [2].

Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục sức khỏe (GDSK) trong chăm sóc và nâng cao kết quả điều trị cho người bệnh, điều dưỡng được xem là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện họat động này tại các cơ sở khám chữa bệnh [2– 4]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy thực trạng kỹ năng GDSK của điều dưỡng còn có sự khác biệt đáng kể giữa các cơ sở y tế, và nhiều kỹ năng thực hành vẫn chưa đạt mức tối ưu [2,3]. Do đó, việc đánh giá thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại từng bệnh viện cụ thể là cần thiết nhằm cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ cho công tác đào tạo và cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.

Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống và khách quan về kỹ năng thực hiện giáo dục sức khỏe của điều dưỡng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương” nhằm mô tả thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên trong thực hành lâm sàng, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả họat động giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại bệnh viện.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Các lượt tư vấn giáo dục sức khỏe được thực hiện bởi các điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng và trực tiếp thực hiện công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong thời gian nghiên cứu.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2025 đến tháng 9/2025 tạiBệnh việnTai Mũi HọngTrung ương.

2.3. Thiết kế nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang

2.4. Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu:

Cỡ mẫu: Toàn bộ số lượt tư vấn giáo dục sức khỏe tại các khoa lâm sàng, thông qua hai hình thức: Tư vấn theo nhóm: 52 lượt;Tư vấn cá nhân: 131 lượt. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ.

2.5. Công cụ và Tiêu chuẩn đánh giá:

Bộ công cụ nghiên cứu: Sử dụng Bảng kiểm kỹ năng tư vấn - GDSK cho cá nhân và Bảng kiểm kỹ năng tư vấn - GDSK cho nhóm do Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương ban hành. Điều tra viên sẽ trực tiếp quan sát điều dưỡng viên thực hiện các buổi tư vấn GDSK (cá nhân, nhóm) và đánh giá theo các tiêu chí cụ thể theo Thông tư 31/2021/TTBYT. Tiêu chuẩn đánh giá kỹ năng: Theo 4 mức độ: Chưa thực hiện: 0 điểm; Chưa đạt: 1 điểm; Đạt: 2 điểm; Tốt: 3 điểm.

2.6. Phương pháp thu thập số liệu:

Sau khi nhận được sự đồng ý của Ban Giám đốc bệnh viện; Điều tra viên phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng sẽ tiến hành quan sát trực tiếp các buổi tư vấn giáo dục sức khỏe do điều dưỡng viên thực hiện cho người bệnh (cá nhân hoặc nhóm) tại khoa lâm sàng và ghi nhận kết quả vào Bảng kiểm kỹ năng tư vấn - GDSK tương ứng.

2.7. Đạo đức nghiên cứu:

Nghiên cứu đã được thông qua Ban Giám đốc Bệnh viện Tai Mũi Họng TW.

2.8. Phương pháp phân tích số liệu:

Dữ liệu thu thập được sẽ nhập và quản lý bằng SPSS. Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả thực trạng kỹ năng GDSK của điều dưỡng viên (điểm trung bình, độ lệch chuẩn cho điểm kỹ năng).

3. KẾT QUẢ

Dựa trên kết quả khảo sát từ 52 buổi tư vấn nhóm và 131 buổi tư vấn cá nhân từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2025, điểm trung bình và độ lệch chuẩn của từng kỹ năng được tổng hợp như sau:

Nhận xét: Kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân đạt mức “Đạt” (2.23/3 điểm). Điều dưỡng thành thạo trong các bước truyền đạt thông tin một chiều nhưng kỹ năng tương tác hai chiều (tìm hiểu, thảo luận, kiểm tra lại) lại là hạn chế.

3.1. Đánh giá kỹ năng tư vấn GDSK cho nhóm:

Bảng 3.1. Bảng tổng hợp kỹ năng tư vấn - GDSK cho nhóm (n=52)

Nhận xét: Kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân đạt mức “Đạt” (2.23/3 điểm). Điều dưỡng thành thạo trong các bước truyền đạt thông tin một chiều nhưng kỹ năng tương tác hai chiều (tìm hiểu, thảo luận, kiểm tra lại) lại là hạn chế.

3.2. Đánh giá kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân:

Bảng 3.2. Bảng tổng hợp kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân (n=131)

4. BÀN LUẬN

4.1. Kỹ năng tư vấn GDSK cho nhóm

Kỹ năng tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) cho nhóm đạt mức “Đạt” với điểm trung bình là 2.24/3. Phân tích chi tiết cho thấy các điều dưỡng thực hiện rất tốt các bước chuẩn bị, bao gồm chuẩn bị môi trường, người nghe và bản thân người thực hiện (điểm từ 2.37 đến 2.50/3). Đồng thời, các kỹ năng trình bày thông tin một chiều cơ bản như nói đủ to (2.52/3) hay sử dụng ngôn ngữ đơn giản (2.48/3) cũng được đánh giá cao. Điều này cho thấy điều dưỡng đã nắm vững và thực hiện tốt các khâu mang tính tổ chức và truyền đạt thông tin theo một kịch bản có sẵn. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất và rõ rệt nhất lại nằm ở các kỹ năng tương tác và minh họa, vốn là yếu tố then chốt để một buổi GDSK nhóm trở nên hiệu quả và sinh động. Cụ thể, các kỹ năng “sử dụng các tài liệu, phương tiện thích hợp” (1.83/3), “nêu ví dụ minh họa” (1.81/3), và “tạo cơ hội cho người nghe thực hành lại” (1.88/3) có điểm số thấp nhất trong tất cả các nội dung được đánh giá. Thực trạng này cho thấy các buổi tư vấn nhóm có xu hướng diễn ra theo hình thức một chiều, trong đó điều dưỡng chủ yếu trình bày nội dung đã chuẩn bị sẵn, còn người bệnh thì lắng nghe một cách thụ động. Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2022) [2] cũng chỉ ra một thực trạng tương tự, khi kỹ năng “nêu ví dụ minh họa” chỉ có 6,7% điều dưỡng thực hiện tốt. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự yếu kém trong việc khuyến khích người bệnh tham gia, khi kỹ năng “thảo luận cách giải quyết vấn đề cho NB” chỉ có 11,8% thực hiện đầy đủ và đặc biệt, không có điều dưỡng nào thực hiện kỹ năng “để NB tự chọn cách giải quyết phù hợp”. Sự tương đồng này cho thấy việc thiếu kỹ năng tương tác và trao quyền cho người bệnh trong GDSK có thể là một thách thức chung trong công tác điều dưỡng tại nhiều bệnh viện, chứ không chỉ riêng tại Bệnh viện Tai Mũi họng Trung ương. Họat động GDSK là một nhiệm vụ chuyên môn quan trọng của điều dưỡng được quy định rõ trong Thông tư 31/2021/TT-BYT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù điều dưỡng đã thực hiện nhiệm vụ này, nhưng để thực sự đạt hiệu quả cao trong việc giúp người bệnh thay đổi hành vi sức khỏe, cần phải có sự cải thiện đáng kể trong các kỹ năng tương tác, minh họa và tạo cơ hội thực hành cho người bệnh.

4.2. Kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân

Kỹ năng tư vấn GDSK cho cá nhân cũng được đánh giá ở mức “Đạt” với điểm trung bình là 2.23/3. Các kỹ năng truyền đạt thông tin một chiều như “giới thiệu chủ đề GDSK và nói rõ lợi ích” (2.45/3), “sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu” (2.47/3) và “hướng dẫn những điều chưa biết” (2.37/3) đều đạt điểm số cao. Điều này khẳng định rằng điều dưỡng rất thành thạo trong vai trò của một người truyền đạt thông tin. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi lại một lần nữa bộc lộ ở khả năng tương tác hai chiều và lấy người bệnh làm trung tâm. Các kỹ năng đòi hỏi sự lắng nghe, thấu hiểu và hợp tác với người bệnh đều có điểm số thấp hơn, bao gồm: “tìm hiểu NB, NN đã hiểu thế nào và đã làm gì” (2.06/3), “thảo luận những khó khăn và tìm ra giải quyết vấn đề” (2.07/3), và “kiểm tra xem NB, NN có hiểu đúng không” (2.04/3). Điều này cho thấy các buổi tư vấn cá nhân vẫn nặng về việc “dạy” người bệnh hơn là “đồng hành” cùng họ. Điều dưỡng có xu hướng cung cấp thông tin mà ít khi kiểm tra lại mức độ tiếp thu và những rào cản mà người bệnh đang gặp phải. Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2022) [2], cho thấy tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đầy đủ các kỹ năng tương tác là cực kỳ thấp: “tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành của NB” (7,6%), “thảo luận cách giải quyết vấn đề cho NB” (11,8%), và “kiểm tra lại các nội dung đã TV” (5,1%). Sự tương đồng này củng cố giả thuyết rằng đây là một điểm yếu mang tính hệ thống trong kỹ năng GDSK của điều dưỡng. Hơn nữa, nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa [2] còn chỉ ra một nghịch lý lớn: trong khi 82,4% điều dưỡng có kiến thức về GDSK đạt loại giỏi thì kỹ năng thực hành lại chỉ ở mức trung bình kém (51,3% ở mức kém). Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở việc thiếu kiến thức chuyên môn mà là ở việc thiếu kỹ năng mềm và phương pháp sư phạm để biến kiến thức đó thành một buổi tư vấn hiệu quả. Để nâng cao chất lượng tư vấn GDSK cá nhân và tuân thủ đầy đủ Thông tư 31/2021/TT-BYT, việc tập trung vào đào tạo và cải thiện các kỹ năng tương tác hai chiều cho điều dưỡng là vô cùng cấp thiết. Một buổi tư vấn thành công không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin chính xác, mà còn phải đảm bảo người bệnh hiểu đúng, có thể thực hành và được trao quyền để chủ động tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe của chính mình.

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương nhìn chung đạt mức yêu cầu, với điểm trung bình lần lượt là 2,24/3 đối với tư vấn nhóm và 2,23/3 đối với tư vấn cá nhân. Điều dưỡng thực hiện tương đối tốt các kỹ năng chuẩn bị, trình bày nội dung và sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu trong quá trình truyền đạt thông tin cho người bệnh. Tuy nhiên, các kỹ năng mang tính tương tác hai chiều như khai thác mức độ hiểu biết của người bệnh, thảo luận khó khăn, sử dụng tài liệu minh họa và tạo cơ hội cho người bệnh thực hành còn hạn chế. Trên cơ sở đó, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng các kỹ năng giáo dục sức khỏe theo hướng lấy người bệnh làm trung tâm, đặc biệt là các kỹ năng giao tiếp và tương tác hai chiều. Đồng thời, bệnh viện nên xây dựng các chương trình tập huấn định kỳ, chuẩn hóa quy trình giáo dục sức khỏe và khuyến khích sử dụng các phương tiện minh họa, tài liệu hướng dẫn phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe và góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.n

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Văn Học, Trần Kim Anh, Nguyễn Đức Long. (2022). Kiến thức và thực hành của điều dưỡng trong giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Bệnh viện Nhân Ái, năm 2021. Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam, 2(38), 94-101.

Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự. (2023). Thực trạng kiến thức, kỹ năng tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 530(2).

Phan Thị Dung, Nguyễn Viết Tiến. (2023). Đặc điểm kiến thức, kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Thiện An. Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, (2), 47-57.

Trần Thị Hà, Nguyễn Thị Khuyến. (2020). Đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, (5), 54-63.

Bộ Y tế (2021). Thông tư số: 31/2021/TTBYT ngày 28 tháng 12 năm 2021 quy định họat động điều dưỡng trong bệnh viện.

 


Tin mới