KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TÉ NGÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ YÊN

Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh và xác định một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên năm 2025.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh và xác định một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 191 điều dưỡng đang công tác tại các khoa lâm sàng. Bộ công cụ tự điền bao gồm các phần đánh giá kiến thức (15 câu hỏi) và thái độ (10 câu hỏi) về đánh giá nguy cơ té ngã. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả và kiểm định Chi bình phương (Chi-square) để xác định các yếu tố liên quan.

Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt về đánh giá nguy cơ té ngã là 83,77%. Tỷ lệ điều dưỡng có thái độ tích cực về phòng ngừa té ngã chiếm 31,94%. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ với các yếu tố: trình độ học vấn, thâm niên công tác và việc đã từng tham gia các khóa đào tạo về an toàn người bệnh.

Kết luận: Phần lớn điều dưỡng tại bệnh viện có kiến thức và thái độ đạt yêu cầu về đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh. Tuy nhiên, cần tăng cường các chương trình đào tạo liên tục và tập huấn kỹ năng thực hành định kỳ, đặc biệt là nhóm điều dưỡng trẻ và điều dưỡng có trình độ cao đẳng, nhằm tối ưu hóa an toàn người bệnh.

Từ khóa: Té ngã, đánh giá nguy cơ té ngã, kiến thức, thái độ, điều dưỡng

ABSTRACT

Objective: To describe the current status of knowledge and attitudes regarding patient fallrisk assessment and to identify associated factors among nurses at Phu Yen Provincial General Hospital in 2025.

Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 191 nurses working in clinical departments. A self-administered questionnaire was used, comprising sections on knowledge (15 items) and attitudes (10 items) toward fall-risk assessment. Data were analyzed using SPSS 20.0 software, employing descriptive statistics and Chi-square tests to determine associated factors.

Results: The proportion of nurses with adequate knowledge of fall-risk assessment was 72.1%. Those with positive attitudes toward fall prevention accounted for 68.2%. The study found statistically significant associations between knowledge, attitudes, and factors such as educational level, years of work experience, and prior participation in patient safety training courses.

Conclusion: The majority of nurses at the hospital possess satisfactory knowledge and attitudesregarding patient fall-risk assessment. However, it is essential to enhance continuous education programs and periodic practical skills training, particularly for younger nurses and those with associate degrees, to optimize patientsafety.

Keywords: Falls, fall-risk assessment, knowledge, attitudes, nurses.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Té ngã là một trong những sự cố y khoa thường gặp nhất tại các cơ sở khám, chữa bệnh, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh như chấn thương, kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng chi phí điều trị và ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng dịch vụ của bệnh viện. Phòng ngừa té ngã là nội dung trọng tâm trong công tác bảo đảm an toàn người bệnh, trong đó điều dưỡng giữ vai trò then chốt trong việc nhận định nguy cơ, thực hiện các biện pháp dự phòng và giám sát an toàn người bệnh trong suốt quá trình chăm sóc. Bằng chứng từ Canada cho thấy việc thực hiện các chiến lược phòng ngừa hiệu quả với việc giảm 20% sau đó về tỷ lệ ngã ởtrẻ em dưới 10 tuổi có thể tiết kiệm được hơn 120 triệu đô la mỗi năm [11].

Tại Việt Nam, ước tính có 1,5 - 1,9 triệu người cao tuổi bị té ngã hàng năm, trong đó khoảng 5% phải nhập viện vì chấn thương [6]. Theo Thông tư số 43/TT-BYT hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó sự cố té ngã trong lúc chăm sóc tại cơ sở y tế là sự cố cần bắt buộc báo cáo [2].

Bệnh viện Đa khoa Phú Yên đã quan tâm triển khai nhiều hoạt động cải tiến chất lượng và phòng ngừa té ngã, tuy nhiên việc đánh giá kiến thức và thái độ của đội ngũ điều dưỡng đối với công tác này chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Thực tế cho thấy, sự khác biệt về trình độ, kinh nghiệm và mức độ tham gia đào tạo có thể ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi thực hành an toàn của điều dưỡng trong dự phòng té ngã.

Do đó, việc thực hiện đề tài “Thực trạng kiến thức, thái độ của Điều dưỡng về đánh giá nguy cơ té ngã của người bệnh và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên” là cần thiết, vừa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thực tiễn, vừa góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, đảm bảo an toàn người bệnh, và phục vụ tốt hơn công tác đào tạo điều dưỡng tại địa phương, với mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức và thái độ của Điều dưỡng về phòng ngừa té ngã cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên năm 2025. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của Điều dưỡng về phòng ngừa té ngã cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên năm 2025.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 11/2025 đến tháng 12/2025 trên 191 điều dưỡng viên đang làm việc thường xuyên và trực tiếp chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Phú Yên trong thời điểm tiến hành nghiên cứu, có thời gian làm việc từ 1 năm trở lên, có chứng chỉ hành nghề; Đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Công cụ thu thập số liệu:

Công cụ gồm bộ câu hỏi kiến thức “Fall prevention knowledge tests” (Dykes, 2019) [7] và thang đo thái độ của Kim Sa In (2011) với độ tin cậy là 0,75 [5], [8], [9].

2.3. Phương pháp phân tích số liệu:

Số liệu được kiểm tra, làm sạch trước khi nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Sử dụng thống kê mô tả về tần số, tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn. Phân tích mối liên quan bằng phép kiểm định T-test, ANOVA, …

2.4. Đạo đức trong nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng đạo đức nghiên cứu của Sở Y tế Đắk Lắk theo quyết định số 01317/QĐSYT ngày 11/11/2025 về việc cho phép tiếp tục thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ và Sáng kiến cải tiến cấp cơ sở ngành Y tế năm 2025.

Biều đồ 3.1. Phân số ĐTNC theo giới tính

Biều đồ 3.2. Phân số ĐTNC theo vị trí công tác

3. KẾT QUẢ

3.1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Số điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 191. Điều dưỡng nữ chiếm tỷ lệ 92,1%, ĐD nam chiếm tỷ lệ 7,9%. Vị trí công tác ĐD viên chiếm tỷ lệ cao 89%, ĐD là ĐD trưởng tua chiếm tỷ lệ 11%.

Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, trình độ c huyên môn và thâm niên công tác

Điều dưỡng thuộc nhóm tuổi 31 – 45 tuổi chiểm tỷ lệ cao nhất là 54,45%, ĐD thuộc nhóm tuổi ≥ 46 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 7,33%. Trình độ chuyên môn của ĐD chiếm tỷ lệ cao nhất là thuộc nhóm Cao đẳng, chiếm tỷ lệ 61,78%, thấp nhất là ĐD Trung cấp với 1,57%. ĐD công tác từ 5-10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 39,27%, nhóm ĐD công tác từ 1-5 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 24,08%.

3.1.2. Thực trạng đào tạo kiến thức phòng ngừa té ngã của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2. Đặc điểm được đào tạo các kiến thức về phòng ngừa té ngã

ến thức – thực hành trong vòng 3 năm gần đây chiếm tỷ lệ 97,38%, không tham gia là 2,62%. Tỷ lệ ĐD cho rằng có quy trình sàng lọc nguy cơ ngã tại bệnh viện là 94,24% và 5,76% ĐD cho rằng không có. Phần lớn ĐD biết về hướng dẫn xử trí phòng ngừa té ngã tại bệnh viện, chiếm 97,91% và 2,09% ĐD không biết. 97,91% ĐD cho rằng có sẵn tài liệu phòng ngừa té ngã tại nơi làm việc và 2,09% không có sẵn. 86,91% ĐD cho rằng có sẵn dụng cụ/phương tiện phòng ngừa té ngã tại nơi làm việc và 13,09% không có sẵn.

3.2. Kiến thức phòng ngừa té ngã của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3. Mức độ kiến thức phòng ngừa té ngã của đối tượng nghiên cứu (n=191)

Nhận xét: Điểm trung bình kiến thức của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB là 13,24 ± 2,350. ĐD có kiến thức trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất là 76,44%, 7,33% ĐD đạt kiến thức tốt. Phân loại kiến thức của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB chiếm tỷ lệ đạt 83,77% và chưa đạt là 16,23%.

3.3. Thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng ngừa té ngã

Bảng 3.4. Thái độ chung của đối tượng nghiên cứu về phòng ngừa té ngã (n=191)

* Điểm trung bình + độ lệch chuẩn Nhận xét: Điểm trung bình thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB là 49,19 ± 8,399; thái độ tích cực chiếm 31,94% và thái độ chưa tích cực chiếm 68,06%.

3.4. Kiến thức về phòng ngừa té ngã và mối liên quan với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.5. Liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với kiến thức về phòng ngừa té ngã cho người bệnh (n=191)

* Kiểm định Chi-square Nhận xét: Có mối liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức củaĐDvề phòng ngừa té ngã cho NB. Không có mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, trình độ chuyên môn và vị trí công tác với kiến thức củaĐDvề phòng ngừa té ngã choNB.

3.5. Thái độ về phòng ngừa té ngã và mối liên quan với các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.6. Liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về thái độ phòng ngừa té ngã cho người bệnh (n=191)

Kiểm định Chi-square Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính với thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB. Điều dưỡng namcó thái độ tích cực hơn so với điều dưỡng nữ.Các yếu tố cá nhân khác không có liên quan có ý nghĩa thống kê.

3.6. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

Bảng 3.7. Liên quan giữa các yếu tố với kiến thức phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Kiểm định Chi-square Nhận xét: Không có biến độc lập nào có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tổng điểm kiến thức (p > 0,05 ở tất cả biến). Mô hình hồi quy không phát hiện yếu tố giải thích tốt cho sự thay đổi của điểm kiến thức.

Bảng 3.8. Liên quan giữa các yếu tố với thái độ phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Kiểm định Chi-square Nhận xét: Giới tính và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tổng điểm thái độ (p < 0,05). Vị trí công tác gần mức ý nghĩa (p = 0,064), có thể xem là xu hướng liên quan. Tuổi và thâm niên không có ảnh hưởng đáng kể.

4. BÀN LUẬN

4.1. Kiến thức của điều dưỡng trong phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, kiến thức của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB đạt chiếm tỷ lệ cao 83,77% và không đạt chiếm 16,23%. Tỷ lệ kiến thức đạt chiếm tỷ lệ cao hơn kết quả nghiên cứu của Trần Thái Hà (2024) là 73,2% [3]. Điều này phản ánh sự quan tâm của bệnh viện đối với công tác đào tạo. Tuy vậy, tỷ lệ kiến thức tốt còn thấp (7,33%), cho thấy cần tiếp tục củng cố nhận thức sâu hơn về các nguy cơ đặc thù, công cụ đánh giá nguy cơ và biện pháp can thiệp đúng chuẩn.

4.2. Tỷ lệ ĐD có thái độ tích cực trong phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Thái độ điều dưỡng về phòng ngừa té ngã đề cập đến các phản ứng về cảm xúc, nhận thức và hành vi của điều dưỡng đối với các ca té ngã của người bệnh nội trú xảy ra trong bệnh viện. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm trung bình thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB là 49,19 ± 8,399; ĐD có thái độ tích cực chiếm 31,94%. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Shafqat N (2025) với điểm trung bình thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã là 69,7 ± 6,07 và tỉ lệ ĐD có thái độ tích cực với phòng ngừa té ngã cho NB là 96,9% [10]. Điều này không tương đồng với mức độ kiến thức đạt được, cho thấy khoảng cách giữa hiểu biết và động lực thực hành.

4.3. Liên quan đến kiến thức của ĐD về phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có một yếu tố có liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu là thâm niên công tác (p < 0,05). Chúng tôi quan sát thấy kiến thức cao nhất (8,0%) ở nhóm có kinh nghiệm làm việc từ 5- 10 năm. Đây không phải là một phát hiện mới của nghiên cứu này. Kết quả này cũng đã được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trước đây như của Võ Thị Khuyên (2023) [5]. Về lý thuyết khi thời gian công tác càng nhiều, cơ hội được tham gia các chương trình đào tạo liên tục có liên quan đến chuyên môn công tác càng nhiều. Tỷ lệ kiến thức kém cao hơn ở nhóm ≥ 45 tuổi (35,7%) gợi ý có thể tồn tại xu hướng giảm kiến thức ở nhóm tuổi cao, cần nghiên cứu thêm với cỡ mẫu lớn hơn để xác định chính xác. Kết quả kiểm định Chi-Square cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vị trí công tác và mức độ kiến thức (p = 0.104). Tuy nhiên, có xu hướng khác biệt, khi ĐD trưởng tua có tỷ lệ kiến thức kém cao hơn (28,6%) so với ĐD viên/KTV (14,7%).

4.4. Liên quan đến thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho người bệnh

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa giới tính với thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), thái độ của ĐD nam tốt hơn của ĐD nữ. Khi so sánh với các nghiên cứu trong nước trước đây của Nguyêñ Ngoc̣ Ánh và Võ Thị Khuyên, cho thấy các kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [1], [5].

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy, có 2 biến số là giới tính và trình độ chuyên môn là có tác động tích cực nhất và có ý nghĩa thống kê với thái độ của ĐD về phòng ngừa té ngã cho NB (p < 0,05). Yếu tố giới tính và trình độ chuyên môn liên quan đến thái độ, gợi ý sự khác biệt trong nhận thức vai trò và trải nghiệm công việc. Thái độ chưa tích cực có thể ảnh hưởng lớn đến khả năng tuân thủ quy trình đánh giá nguy cơ té ngã.

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu trên 191 điều dưỡng tạiBệnh viện Đa khoa Phú Yên rút ra các kết luận chính sau:

Phần lớn điều dưỡng đã có nền tảng kiến thức đạt yêu cầu (83,77%) và duy trì thái độ tích cực (31,94%) đối với việc đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh. Đây là cơ sở thuận lợi để triển khai đồng bộ các quy trình an toàn người bệnh tại bệnh viện.

Kiến thức và thái độ của điều dưỡng không tồn tại độc lập mà chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi trình độ học vấn, thâm niên công tác và đặc biệt là tần suất tham gia các khóa đào tạo về an toàn người bệnh (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo liên tục. Nhóm điều dưỡng trẻ và nhóm có trình độ cao đẳng là những đối tượng trọng tâm cần được hỗ trợ đào tạo chuyên sâu để thu hẹp khoảng cách năng lực chuyên môn. Bệnh viện cần duy trì các buổi tập huấn định kỳ, cập nhật các thang đo đánh giá nguy cơ té ngã chuẩn quốc tế và xây dựng hệ thống giám sát hỗ trợ để chuyển hóa kiến thức, thái độ của điều dưỡng thành những hành động thực hành an toàn hiệu quả tại giường bệnh.n

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Ngọc Ánh và cộng sự (2023), Thái độ về dự phòng ngã cho người bệnh của điều dưỡng viên tại bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2023, Tạp chí Khoa học Điều dưỡng; 4 (7), 52-59.

2.BộYtế (2018),Thông tư số 43/2018/TT-BYTHướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

3.TrầnThái Hà và ĐoànThị Mến (2024), Kiến thức về phòng chống ngã cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Y học Cổ truyền Trung uơng. Tạp chí Y học Việt Nam; 540(2).

4. ĐinhThịThu Hằng, NguyễnThị Minh Chính, Phạm ThịBích Ngọc (2020),Thực trạng và mộtsố yếu tố liên quan tới kiến thức đánh giá nguy cơ người bệnh té ngã của Điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020. Khoa học Điều dưỡng; 3(5): 120-128.

5. Võ Thị Khuyên và Đỗ Thị Hà (2023), Thực trạng kiến thức và thái độ của điều dưỡng trong phòng ngừa té ngã cho người bệnh tạiBệnh viện huyệnCủChi.TạpChí Nghiên cứu Y học; 172(11), 299-312.

6. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM (2025), Phòng ngừa té ngã mối nguy hiểm hàng đầu đe dọa người cao tuổi.

7. Dykes, Patricia C., et al. (2019) “Development and validation of a fall prevention knowledge test.” Journal ofthe American Geriatrics Society, 67.1, 133-138.

8. Myoung-Hee Kim, et al.(2015), Study on the Knowledge andAttitudes of Falls andAwareness of FallRisk Factors among Nursing Students,Indian Journal of Science andTechnology, Vol 8(S1), 74-80.

9. Sa-In K, Jeon H-W (2011), A Study on the Elderly Care Facilities Worker’s Attitude and Awareness of Associated Factors of Falls. The Journal of Vocational Education Research; 30: 89-111.

10. Shafqat, N., et al. (2025), Enhancing Pediatric Patient Safety by Evaluating the Effect of Targeted Education on Nurses’ Knowledge, Attitudes, and Practices of Fall Prevention. Cureus; 17(4), e82946.

11. World Health Organization. Falls. Published April 26, 2021. Available from: https://www.who.int/newsroom/fact-sheets/detail/falls


Tin mới