KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT ĐỘNG MẠCH GAN TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hóa chất động mạch gan (HAIC) trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) giai đoạn tiến triển tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc được thực hiện trên 30 người bệnh HCC giai đoạn tiến triển có chỉ định điều trị bằng phương pháp hóa chất động mạch gan (HAIC). Các chỉ số đánh giá chính bao gồm: đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng; đáp ứng khối u sau 03 chu kỳ điều trị (theo tiêu chuẩn RECIST 1.1); sự biến đổi các chỉ điểm khối u và chức năng ganthận; cùng các tác dụng không mong muốn và biến chứng liên quan đến kỹ thuật.
Kết quả: Kết quả cho thấy HAIC giúp giảm đáng kể kích thước khối u trung bình giảm đáng kể từ 79,9 ± 25,6 mm xuống còn 59,9± 27,1 mm sau 03 chu kỳ điều trị liên tiếp (p<0,05). Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 33,3% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 73,3%. Nồng độAFP trung vị giảm từ 439,5 ng/ml xuống 21,3 ng/ml. Các chỉ số chức năng gan và thận (AST, ALT, Creatinin) không ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa lâm sàng; điểm ChildPugh được bảo tồn ổn định (5,77 ± 1,17)so với 5,70 ± 0,88). Các tác dụng không mong muốn và biến chứng kỹ thuật chủ yếu ở mức độ nhẹ (độ 1, 2) và đều được kiểm soát nội khoa ổn định.
Kết luận: HAIC thể hiện hiệu quả kiểm soát khối u tốt và tính an toàn cao đối với người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến tri ển. Kỹ thuật này giúp giảm nhanh nồng độ chỉ điểm u và kích thước khối u trong khi vẫn bảo tồn tốt chức năng gan, là lựa chọn điều trị khả thi với tỷ lệ biến chứng thấp.
Từ khóa: Ung thư biểu mô tế bào gan; HAIC; hóa chất động mạch gan; điều trị can thiệp.
ABSTRACT
Objective: To evaluate the efficacy and safety of hepatic arterial infusion chemotherapy (HAIC) in the treatment of patients with advanced-stage hepatocellular carcinoma (HCC) at Viet Duc University Hospital in 2025.
Methods: A prospective, longitudinal descriptive study was conducted on patients with advanced hepatocellular carcinoma (HCC) undergoing hepatic arterial infusion chemotherapy (HAIC). The primary endpointsincluded clinical and paraclinical characteristics; tumor response assessment after three cycles(per RECIST 1.1 criteria); monitoring of tumor markers and hepatic-renal functions; and evaluation of adverse events and technical complications.
Results: HAIC significantly reduced the mean tumor size from 79.9 ± 25.6 mm to 59.9 ± 27.1 mm after three consecutive treatment cycles (p < 0.05). The objective response rate (ORR) and disease control rate (DCR) were 33.3% and 73.3%, respectively. Median AFP concentration decreased from 439.5 ng/ml to 21.3 ng/ml. Hepatic and renal function indices (AST, ALT, Creatinine) showed no clinically significant deterioration; Child-Pugh scores remained stable (5.77 ± 1.17 vs. 5.70 ± 0.88). Adverse effects and technical complications were predominantly mild (grades 1 and 2) and effectively managed through medical intervention.
Conclusion: HAIC demonstrates favorable tumor control efficacy and a high safety profile for patients with advanced hepatocellular carcinoma. Thistechnique facilitates a rapid reduction in tumor markers and tumor size while preserving hepatic function, representing a viable treatment option with low complication rates.
Keywords: Hepatocellular carcinoma (HCC); hepatic arterial infusion chemotherapy (HAIC); interventional therapy.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan là một trong những ung thư phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo dữ liệu Globocan 2020, HCC đứng vị trí thứ sáu về tỷ lệ mắc mới và đứng thứ ba về nguyên nhân tử vong do ung thư, với khoảng 905.677 ca mới mắc, chiếm tỷ lệ khoảng 4,7% so với tổng các loại ung thư và 830.180 trường hợp tử vong mỗi năm [4]. Phần lớn người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, khi các phương pháp điều trị triệt căn như phẫu thuật hoặc ghép gan không còn phù hợp.
Trong bối cảnh đó, phương pháp truyền hóa chất động mạch gan (HAIC) cho phép đưa thuốc trực tiếp đến tổ chức u với nồng độ cao gấp nhiều lần so với hóa trị toàn thân, đồng thời giảm thiểu độc tính lên cơ thể, do đó giảm tác dụng phụ [6]. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả đi kèm với vai trò của công tác điều dưỡng trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam vẫn còn là một khoảng trống cần được nghiên cứu thực tiễn [4] Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm góp phần cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác chăm sóc điều dưỡng lâm sàng và nâng cao chất lượng theo dõi, chăm sóc người bệnh HCC điều trị bằng phương pháp HAIC, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả điều trị HCC giai đoạn tiến triển bằng phương pháp truyền HAIC tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2025.”
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân HCC tiến triển được chỉ định điều trị HAIC tại khoa Ung Bướu và Xạ trị, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 06/2023 đến tháng 10/2025.
Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu có theo dõi dọc.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa Ung Bướu và Xạ trị, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, 40 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội Cỡ mẫu: Thuận tiện (n= 30)
Các bước tiến hành:
Bước 1: Lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu: Đánh giá theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ để chọn ra các ca bệnh có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
Bước 2: Lập danh sách các bệnh nhân được chỉ định truyền HAIC
Bước 3: Nghiên cứu viên trực tiếp thăm bệnh, nhận định, theo dõi, đánh giá, thu thập thông tin của người bệnh theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất. Chỉ tiêu nghiên cứu: đặc điểm tuổi, giới, điểm child-pugh, tình trạng viêm gan vi rút, chức năng gan- thận, kích thước khối u trước và sau điều trị; biến chứng và tác dụng không mong muốn.
2.6. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 23.0
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của đốitượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng lâm sàng (n= 30)

Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy nhóm tuổi trung bình 57.57±11.27, thấp nhất 35 tuổi, cao nhất 78 tuổi. Nam giới chiếm 96.7%.; 100% là chỉ số toàn trạng ở mức 1 và 0. Điểm child- Pugh A chiếm 96.7%, child-Pugh B 3.3%,; 93.3% là người bệnh mắc HBV và HCV, chỉ có 6.7% là khỏe mạnh
3.2. Kết quả điều trị HAIC
Bảng 3.2. Thay đổi kích thước khối u trước và sau 03 chu kỳ (CK) điều trị (n=30)

Nhận xét: Tại bảng 3.2 cho thấy kích thước khối u giảm rõ qua 03 CK, thể hiện qua sự giảm trung vị từ 90.0mm, xuống 57.5mm. Đồng thời, khoảng tứ phân vị vẫn còn rộng, cho thấy độ đáp ứng điều trị không đồng đều giữa các bệnh nhân, p <0.05
Bảng 3.3. Thay đổi nồng độ AFP trước và sau điều trị HAIC (n=30)

Nhận xét: Qua bảng 3.3 cho thấy nồng độ AFP máu của đối tượng phân bố không chuẩn, trước điều trị trung vị 663,4 ng/mL, khoảng tứ phân vị 4258.8 ng/mL, giá trị dao động rộng từ 5.1 đến 83700 ng/mL. Sau điều trị trung vị còn 57,5 ng/mL, với khoảng tứ phân vị 125.5 ng/mL, giá trị dao động từ 2.9 đến 2862 ng/mL.
Bảng 3.4. Thay đổi chức năng gan – thận sau 03 CK HAIC (n=30)

Nhận xét: Qua bảng 3.4 cho thấy các chỉ số chức năng gan thận tại các thời điểm có phân bố không chuẩn, nhưng có xu hướng giảm rõ rệt và khoảng phân tán thu hẹp ở đợt 03, với trung vị AST/ALT giảm dần từ trước điều trị 58.50/52.19, sau 03 đợt điều trị là 45.50/ 31.50. Chỉ số Ure và creatinine máu trước điều trị và sau 03 CK HAIC nhìn chung ổn định, giá trị trung vị và khoảng tứ phân vị thay đổi không đáng kể, Ure: 5.40 (2.40)-> 5.90 (2.6); Creatinin : 85.00 (21.2) -> 82.00 (29.9).
Bảng 3.5. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn của thuốc hóa trị HAIC theo phân độ CTCAE (n=30)

Nhận xét: Bảng 3.5 cho thấy buồn nôn – nôn là tác dụng phụ thường gặp nhất, với 50% người bệnh không xuất hiện triệu chứng, trong khi 30% gặp ở độ 1 và 20% ở độ 2; chán ăn, mệt mỏi xuất hiện ở 26,7%; tiêu chảy, có 43,3%; Rụng tóc ghi nhận ở 46,6% tất cả đều ở cấp độ 1, chỉ có 01 trường hợp rụng tóc ở độ 2
Bảng 3.6. Độc tính huyết học trong quá trình điều trị HAIC (n=30)


Nhận xét: Bảng 3.6 cho thấy thiếu máu ở cả 3 CK nhưng đều ở mức thiếu máu nhẹ, không ghi nhân trường hợp nào thiếu máu mức 3-4. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), Giảm tiểu cầu từ 13,3% ở CK 1, lên 26,6% ở CK 2 và 63,4% ở CK 3, phần lớn các trường hợp ở độ 1 và độ 2, chỉ ghi nhận 1 trường hợp (3,3%) độ 3 ở CK 2, không có độ 4. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.7. Biến chứng liên quan đến kỹ thuật đặt buồng truyền động mạch gan và xử trí (n=30)

4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của đốitượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này của chúng tôi cho thấy người bệnh có tuổi trung bình là 57,57 ± 11,27 tuổi. Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái Hưng (2022) khi báo cáo tuổi trung bình người bệnh HCC điều trị HAIC là khoảng 54,5±14,3 tuổi [3]. Về giới tính, nam giới chiếm 96,7%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 3,3%, thể hiện sự chênh lệch giới rất rõ rệt. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư gan của Bộ Y tế Việt Nam cũng ghi nhận sự khác biệtrõ rệt về giới trong dịch tễ học HCC tại Việt Nam [1]. Về chỉ số khối cơ thể (BMI), đa số người bệnh có BMI trong giới hạn bình thường (66,7%), trong khi tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 20,0% và 10,0%, chỉ có 3,3% người bệnh thuộc nhóm gầy. Về chỉ số toàn trạng ECOG, 83,3% người bệnh đạt ECOG 0 và 16,7% đạt ECOG 1; không có trường hợp nào ECOG ≥2. Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HCC của Bộ Y tế Việt Nam (2020), HAIC thường được chỉ định cho người bệnh có ECOG 0–1 và chức năng gan còn bù [1]. Đối với mức độ xơ gan theo Child–Pugh, 96,7% người bệnh thuộc Child– Pugh A, chỉ 3,3% thuộc Child–Pugh B, không có trường hợpChild–PughC.Truyền HAICđòi hỏi chức năng gan nền còn tốt để hạn chế độc tính của hóa chất và đảm bảo an toàn [6]. Về tiền sử bệnh, HBV chiếm tỷ lệ áp đảo 90%, trong khi HCVchỉ chiếm 3,3%, các yếu tố này là nguy cơ dẫn đến ung thư gan. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2022) [3].
4.2. Kết quả điều trị HAIC
Về mặt lâm sàng thể hiện qua bảng 2 đánh giá kích thước khối u trước và sau 03 CK điều trị HAIC cho thấy, kích thước khối u giảm rõ rệt từ trung vị 90.0mm, giảm xuống còn 57,5 mm, vớisự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2022) [3]. HAIC có hiệu quả kiểm soát tại chỗ và làm nhỏ khối u ở bệnh nhân HCC giai đoạn tiến triển. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ngô Lê Lâm (2023) cũng ghi nhận kích thước khối u giảm sau điều trị HAIC, đặc biệt ở những bệnh nhân có chức năng gan còn bảo tồn (Child–Pugh A) [2].
Qua bảng 3 cho thấy chỉ số AFP trước và sau 03 CK điều trị HAIC thay đổi rõ rệt với trung vị giảm từ 663,4 ng/mL xuống còn 57,5 ng/mL; đồng thời khoảng tứ phân vị cũng thu hẹp rõ rệt từ 4.258,8 ng/mL xuống còn khoảng tứ phân vị 125,5 ng/mL. Sự giảm đồng thời cả trung vị và độ phân tán cho thấy đáp ứng sinh học rõ ràng của khối u đối với điều trị HAIC [1], [6]. Kết quả này phản ánh hiệu quả kiểm soát khối u của HAIC thông qua việc đưa hóa chất trực tiếp đến vùng nuôi u, gây hoại tử tế bào ung thư và làm giảm hoạt động tiết AFP.
Việc đánh giá chức năng gan – thận sau HAIC được thể hiện tại bảng 4 có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định tính an toàn của phương pháp, các chỉ số men gan trước điều trị AST có trung vị là 58,5 U/L, với khoảng tứ phân vị 48 U/L (giá trị dao động từ 6 đến 274 U/L), cho thấy men gan tăng và phân tán rộng giữa các bệnh nhân. Sau 03 CK HAIC, AST có trung vị giảm rõ rệt còn 45,5 U/L, đồng thời khoảng tứ phân vị thu hẹp đáng kể xuống 26,2 U/L (giá trị dao động từ 15.0 đến 177 U/L), cho thấy cải thiện chức năng gan ở đa số người bệnh. Trước điều trị, ALT trung vị là 52,19 U/L. Sau 03 CK, ALT trung vị giảm rõ rệt còn 31,5 U/L. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trong nước và quốc tế, trong đó HAIC giúp kiểm soát khối u tại gan, làm giảm hoại tử tế bào gan và cải thiện các chỉ số sinh hóa gan sau nhiều CK điều trị, kết quả này của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái Hưng và Ngô Lê Lâm, cũng như tác giả Xu W (2025) và cho thấy men gan có xu hướng ổn định hoặc cải thiện sau HAIC [3], [6].
Tại bảng 5, các tác dụng không mong muốn ghi nhận ở bệnh nhân điều trị HAIC chủ yếu thuộc mức độ nhẹ đến trung bình (độ I–II theo CTCAE), không ghi nhận biến cố nghiêm trọng độ III–IV, cho thấy tính an toàn và khả năng dung nạp tốt của phương pháp HAIC trong nhóm bệnh nhân HCC giai đoạn tiến triển.
Buồn nôn – nôn là tác dụng phụ thường gặp nhất, với 50% bệnh nhân không gặp, 30% độ I và 20% độ II, không có trường hợp độ III–IV. Triệu chứng chán ăn, mệt mỏi xuất hiện ở 26,7% bệnh nhân mức độ I, không ghi nhận mức độ nặng. Triệu chứng tiêu chảy (43,3% độ I) và viêm miệng (40% độ I). Hội chứng tay–chân ghi nhận ở 43,3% bệnh nhân độ I, trong khi rụng tóc chủ yếu ở mức độ nhẹ, chỉ có 1 trường hợp độ II (3,3%), phù hợp với kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thái Hưng (2022) và Ngô Lê Lâm (2023), khi báo cáo HAIC ít gây độc tính da – niêm mạc nặng [3], [2]. Độc tính huyết học trong quá trình điều trị HAIC được thể hiện tại bảng 6 cho thấy: Thiếu máu trong nghiên cứu chủ yếu ở mức độ I–II, không có trường hợp độ III–IV trong cả 3 CK điều trị,sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều này cho thấy HAIC ít gây ức chế tủy xương hơn so với hóa trị toàn thân, phù hợp với các nghiên cứu dược động học chứng minh phần lớn thuốc được chuyển hóa tại gan trước khi vào tuần hoàn hệ thống [6].
Giảm bạch cầu chỉ xuất hiện nhẹ ở CK 02 (6,7% độ I) và không kéo dài đến CK 03, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Điều này cho thấy tác động ức chế tủy của HAIC là thoáng qua và có khả năng hồi phục, đặc biệt khi bệnh nhân được lựa chọn có chức năng gan và thể trạng tốt [6]. Giảm tiểu cầu là độc tính huyết học nổi bật hơn, tăng dần qua các CK, đặc biệt ở CK 03 với 16,7% độ II, tuy nhiên vẫn không ghi nhận độ IV.
Biến chứng liên quan đến kỹ thuật đặt buồng truyền động mạch gan được thể hiện tại bảng 7 cho thấy, người bệnh không gặp biến chứng nghiêm trọng liên quan đến kỹ thuật đặt buồng truyền động mạch gan, trong đó các biến chứng chủ yếu là nhẹ, có thể theo dõi hoặc xử trí bảo tồn, phản ánh tính an toàn tương đối của kỹ thuật HAICkhi được thực hiện đúng quy trình và theo dõi liên tục bởi đội ngũ điều dưỡng lâm sàng. Biến chứng tụ máu vùng chọc động mạch (3,3%), biến chứng nổi mụn quanh da vùng đặt buồng truyền (3,3%), tắc catheter buồng truyền (3,3%),nghiên cứu ghi nhận 2 trường hợp lệch vị trí catheter (6,6%), trong đó một trường hợp được điều chỉnh lại và tiếp tục truyền, một trường hợp phải ngừng truyền và rút buồng truyền. Theo Tselikas và cộng sự (2024) cũng nhấn mạnh rằng phát hiện sớm lệch catheter nhờ theo dõi lâm sàng và hình ảnh học định kỳ giúp giảm đáng kể nguy cơ biến chứng nặng và duy trì hiệu quả điều trị [5]. Tuột buồng truyền (3,3%), phải rút buồng truyền và chuyển phương pháp điều trị khác. Đây là biến chứng ít gặp nhưng có ý nghĩa lâm sàng, thường liên quan đến cố định buồng chưa chắc chắn hoặc vận động sớm của người bệnh. Vai trò của điều dưỡng trong hướng dẫn người bệnh vận động, chăm sóc buồng truyền và phát hiện sớm dấu hiệu bất thường được xem là yếu tố then chốt để phòng ngừa biến chứng này [2].
Đau nhiều vùng gan là biến chứng gặp nhiều nhất trong nghiên cứu, với 6 bệnh nhân (20%), tương đồng với nhận định của Tselikas (2024), khi các tác giả cho rằng đau vùng gan là phản ứng thường gặp trong HAIC, liên quan đến co thắt động mạch và tác động trực tiếp của hóa chất [5]. Nghiên cứu không ghi nhận trường hợp viêm tụy do thuốc hay nhiễm trùng vị trí buồng truyền, cho thấy hiệu quả của quy trình kiểm soát vô khuẩn và theo dõi điều dưỡng. Kết quả này phù hợp với báo cáo của Ngô Lê Lâm (2023), trong đó tỷ lệ nhiễm trùng buồng truyền rất thấp khi tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vô khuẩn và theo dõi chặt chẽ [5].
KẾT LUẬN
Nghiên cứu trên 30 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triển cho thấy truyền hóa chất động mạch gan (HAIC) là lựa chọn điều trị an toàn và có hiệu quả kiểm soát khối u rõ rệt. Các kết luận chính bao gồm:
* Hiệu quả điều trị khối u: HAIC giúp giảm đáng kể kích thước khối u trung bình từ 79,9 ± 25,6 mm xuống 59,9 ± 27,1 mm (p < 0,05). Sự sụt giảm mạnh nồng độAFP trung vị (từ 663,4 ng/mLxuống 57,5 ng/mL) phản ánh đáp ứng sinh học tích cực của khối u đối với hóa chất.
* Bảo tồn chức năng cơ quan: Các chỉ số chức năng gan – thận (AST, ALT, Ure, Creatinin) không ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa lâm sàng sau điều trị. Chỉ số Child–Pugh duy trì ổn định (5,77 ± 1,17 so với 5,70 ± 0,88), minh chứng cho khả năng bảo tồn nhu mô gan của kỹ thuật.
* Tính an toàn và khả thi: Tác dụng không mong muốn và biến chứng kỹ thuật chủ yếu ở mức độ nhẹ, tỷ lệ thấp và hoàn toàn có thể kiểm soát điều trị nội khoa.
Tóm lại, HAIC là một giải pháp can thiệp hiệu quả, giúp giảm gánh nặng khối u nhanh chóng trong khi vẫn duy trì ổn định chức năng gan, là lựa chọn khả thi cho người bệnh HCC giai đoạn tiến triển.n
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế Việt Nam (2020). Quyết định số 3129/QĐBYT: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư tế bào gan.
2. Ngô Lê Lâm (2023). Bước đầu nghiên cứu hiệu quả sớm của phương pháp điều trị HCC tiến triển tại chỗ bằng truyền lipiodol kết hợp cisplatin và 5fu liều thấp qua cổng truyền HAIC. Tạp chí Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam. Số 53 - 12/2023
3. Nguyễn Thái Hưng (2022). Đánh giá hiệu quả ban đầu điều trị UTBMTBG giai đoạn tiến triển bằng phương pháp truyền HAIC. Tạp chí Y học Việt Nam tập 521 tháng 12 số 1 năm 2022
4. Sung H, Ferlay J, Siegel R.L et al (2021). Global cancer statistics 2020: “GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries”, CA: a cancer journal for clinicians.
5. Tselikas L (2024). Safety and efficacy of percutaneous arterial port implantation for HAIC. National Library of Medicine. 2025 Feb;35(2):1022-1033
6. XuW(2025). HepaticArtery InfusionChemotherapy for HepatocellularCarcinoma:ClinicalAdvancements.Curr. Oncol. 2025, 32, 313.
Tin mới
-
Trong bối cảnh học phí đại học ngày càng tăng, nhiều học sinh và phụ huynh đứng trước...25/05/2026 13:48
-
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà xúc động khi đến thăm các bệnh nhi tại giường bệnh
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã đến thăm, động...25/05/2026 13:24 -
ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TÂY NINH NĂM 2025
Mô tả động lực làm việc của điều dưỡng và phân tích một số yếu tố liên quan...25/05/2026 12:07 -
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TÉ NGÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ YÊN
Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về đánh giá nguy cơ té ngã cho người bệnh...25/05/2026 11:30 -
Phát hiện 7 cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm, đề nghị xử phạt 177 triệu đồng
Trong “Tháng Hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2026, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Nghệ...25/05/2026 11:35 -
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT ĐỘNG MẠCH GAN TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hóa chất động mạch gan (HAIC) trong...25/05/2026 11:05 -
BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG – TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, không gian...25/05/2026 08:59 -
Bộ Y tế thông tin diễn biến phức tạp của dịch bệnh do virus Ebola
(Chinhphu.vn) - Theo Bộ Y tế, tính đến ngày 18/5/2026, số trường hợp mắc và tử vong mắc...23/05/2026 09:43 -
DẤU ẤN ĐẠI HỘI HỘI ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG: KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, CHUẨN HÓA CHUYÊN MÔN, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ CỦA NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM
Bước sang năm 2026, cùng với nhịp đổi mới của ngành y tế cả nước, hệ thống các...22/05/2026 18:05 -
RỐI LOẠN LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TRƯỜNG ĐIỀU DƯỠNG - KỸ THUẬT Y HỌC TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mô tả mức độ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở sinh viên năm...22/05/2026 18:01 -
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Không dung thứ các hành vi sai phạm, trục lợi trên sức khỏe nhân dân
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng chìa khóa để đưa y học cổ truyền...22/05/2026 09:22 -
Từ 1/1/2027, phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh được hỗ trợ tối đa 900.000 đồng sàng lọc 9 bệnh
Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế...22/05/2026 09:31 -
“Pinocchio - Chú bé người gỗ”: Từ chuỗi hoạt động trải nghiệm đến sân khấu mãn nhãn
Ngày 16/5, đêm công diễn “Pinocchio - Chú bé người gỗ” chính thức diễn ra tại Nhà hát...21/05/2026 19:14 -
Toàn bộ bệnh viện đa khoa ở TPHCM sẽ có khu khám sức khỏe miễn phí
Để mở rộng mạng lưới khám sức khỏe định kỳ cho người dân, TPHCM yêu cầu các bệnh...21/05/2026 10:10













