THAY ĐỔI DẤU HIỆU SINH TỒN KHI HÚT DỊCH PHẾ QUẢN Ở NGƯỜI BỆNH ARDS THỞ MÁY VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC II BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn (DHST) khi hút dịch phế quản và mô tả một số yếu tố liên quan ở người bệnh hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) thở máy tại Khoa Hồi sức tích cực II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, có so sánh giữa hai phương pháp hút dịch phế quản, được thực hiện trên 40 người bệnh ARDS thở máy, gồm 20 người bệnh được hút kín và 20 người bệnh được hút hở theo thực hành chăm sóc thường quy. Trong thời gian theo dõi 3 ngày liên tiếp kể từ ngày can thiệp đầu tiên, ghi nhận 312 lượt hút kín và 301 lượt hút hở. Các chỉ số SpO₂, nhịp tim, huyết áp động mạch trung bình (MAP) được theo dõi tại ba thời điểm: trước hút, trong hút và sau hút 5 phút. Một số đặc điểm của thủ thuật và biến chứng liên quan cũng được ghi nhận. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 với các thuật toán thống kê phù hợp.
Kết quả: Trong khi hút, SpO₂ giảm ở cả hai nhóm nhưng giảm nhiều hơn ở nhóm hút hở so với hút kín (1,64 ± 2,07 so với 0,62 ± 1,10; p < 0,001). Nhịp tim tăng tạm thời trong quá trình hút ở cả hai nhóm và trở về gần mức nền sau 5 phút. MAP tăng nhẹ khi hút ở cả hai nhóm; sự khác biệt giữa hai phương pháp nhìn chung không rõ rệt. Tỷ lệ chảy máu niêm mạc đường hô hấp ở nhóm hút hở cao hơn nhóm hút kín (5,6% so với 1,3%; p < 0,05). Ở nhóm hút hở, tuổi, FiO₂ trước hút, tổng thời gian hút, số lần đưa sonde và mức độ ARDS có liên quan đến thay đổi một số dấu hiệu sinh tồn; trong khi ở nhóm hút kín, các mối liên quan này ít rõ hơn.
Kết luận: Hút dịch phế quản ở người bệnh ARDS thở máy gây thay đổi tức thời một số dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là SpO₂ và nhịp tim. Nhóm hút hở ghi nhận mức giảm SpO₂ và tỷ lệ tổn thương niêm mạc đường thở cao hơn nhóm hút kín. Cần chuẩn hóa quy trình hút dịch phế quản, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn trong và sau thủ thuật, đồng thời ưu tiên áp dụng hút kín ở những người bệnh ARDS có nguy cơ giảm oxy máu cao.
Từ khóa: hút dịch phế quản, hút kín, hút hở, ARDS, thở máy.
ABSTRACT
Objective: To describe changes in vital signs during endotracheal suctioning and to explore associated factors among mechanically ventilated patients with acute respiratory distress syndrome (ARDS) at Intensive Care Unit II, Viet Duc University Hospital, in 2025.
Methods: A prospective descriptive comparative study was conducted in 40 mechanically ventilated patients with ARDS, including 20 patients managed with a closed suction system and 20 managed with an open suction system according to routine clinical practice. Over three consecutive days from the first observed intervention, a total of 312 closedsuction episodes and 301 open-suction episodes were recorded. Oxygen saturation (SpO₂), heart rate, and mean arterial pressure (MAP) were measured before suctioning, during suctioning, and 5 minutes after suctioning. Procedure-related characteristics and complications were also documented. Data were analyzed using SPSS 20.0 with appropriate statistical tests.
Results: SpO₂ decreased in both groups during suctioning, but the reduction was greater in the open-suction group than in the closedsuction group (1.64 ± 2.07 vs. 0.62 ± 1.10; p < 0.001). Heart rate increased transiently during suctioning in both groups and returned to near baseline after 5 minutes. MAP increased slightly during suctioning in both groups, with no consistent evidence of marked between-group difference. Airway mucosal bleeding was more frequent in the open-suction group than in the closed-suction group (5.6% vs. 1.3%; p < 0.05). In the open-suction group, age, pre-suction FiO₂, total suction duration, number of catheter passes, and ARDS severity were associated with changes in some vital signs; these associations were less evident in the closed-suction group.
Conclusion: Endotracheal suctioning in mechanically ventilated patients withARDS causes immediate changes in selected vital signs, particularly SpO₂ and heart rate. Open suctioning was associated with a greater decrease in oxygen saturation and a higher rate of airway mucosal injury than closed suctioning. Standardized suctioning procedures, close physiologic monitoring, and preferential use of closed suction in patients at high risk of desaturation should be considered.
Keywords: endotracheal suctioning, closed suction; open suction;ARDS,mechanical ventilation.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hút dịch phế quản là một kỹ thuật đưa ống thông qua ống nội khí quản (NKQ), mở khí quản (MKQ) nhằm mục đích làm sạch dịch tiết để khai thông đường thở, phòng nhiễm khuẩn, lấy bệnh phẩm xét nghiệm, kích thích phản xạ ho [1]. Đây là một kỹ thuật rất cơ bản trong hồi sức cấp cứu nhưng cũng có thể dẫn đến các biến chứng như: giảm oxy máu, loạn nhịp tim, tăng hoặc hạ huyết áp, ngừng thở, tổn thương niêm mạc khí phế quản, tăng áp lực nội sọ, xẹp phổi... Hiện nay có 2 loại hệ thống hút đang được sử dụng là hệ thống hút đờm hở ( OSS) và hệ thống hút đờm kín (CSS). Trên thế giới đã có những nghiên cứu so sánh ảnh hưởng của hệ thống hút đờm hở so với kín đối với các dấu hiệu sinh tồn ở bệnh nhân thở máy trong ICU như: nghiên cứu của Elmelegy OEA, Ahmed R (2016) cho thấy CSS gây ra ít thay đổi hơn về các DHST của người bệnh hơn OSS [2]. Tương tự, nghiên cứu của Afshari và cộng sự năm 2014[3] cũng cho thấy CSS ít gây xáo trộn tình trạng huyết động của người bệnh, mất thời gian ngắn hơn và kinh tế hơn OSS. Ở Việt Nam, nghiên cứu về tác động của CSS và OSS đến người bệnh còn hạn chế.
Tại Khoa Hồi sức tích cực II - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức thường xuyên tiếp nhận và điều trị những người bệnh nặng, người bệnh bị suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn. Việc hút dịch phế quản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự oxy hóa máu và huyết động, đe dọa tính mạng của người bệnh đặc biệt là trên người bệnh ARDS. Vì các lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thay đổi dấu hiệu sinh tồn ở bệnh nhân ARDS thở máy khi thực hiện kỹ thuật hút dịch phế quản. 2. Xác định yếu tố liên quan đến sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn ở bệnh nhân ARDS thở máy khi thực hiện kỹ thuật hút dịch phế quản.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), đang thở máy xâm nhập và điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong thời gian nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn: Tuổi ≥ 18. Có đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản. Được chỉ định hút dịch phế quản trong quá trình chăm sóc thường quy. Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh suy tim mất bù hoặc phù phổi cấp. Người bệnh có tiền sử động kinh/co giật. Người bệnh có bệnh lý chảy máu hoặc nguy cơ chảy máu cao không phù hợp theo dõi thủ thuật.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Hồisức tích cực II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3/2024 đến tháng 10/2025. Mỗi người bệnh được theo dõi liên tục trong 3 ngày kể từ ngày bắt đầu ghi nhận thủ thuật hút dịch phế quản.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, có so sánh giữa hai phương pháp hút dịch phế quản: hút kín (closed suction system – CSS) và hút hở (open suction system – OSS).
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu chọn mẫu thuận tiện, lấy toàn bộ người bệnh đủ tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu. Thực tế thu nhận 40 người bệnh, gồm 20 người bệnh được chăm sóc bằng hệ thống hút kín và 20 người bệnh được chăm sóc bằng hệ thống hút hở theo thực hành thường quy tại khoa. Trong thời gian theo dõi, ghi nhận tổng cộng 613 lượt hút dịch phế quản, gồm 312 lượt hút kín và 301 lượt hút hở. Do đây là nghiên cứu quan sát so sánh, kết quả cần được diễn giải thận trọng vì có thể tồn tại yếu tố nhiễu giữa hai nhóm.
2.5. Biến số nghiên cứu
Biến kết quả chính: thay đổi SpO₂, nhịp tim, MAP tại các thời điểm trước hút, trong hút và sau hút 5 phút. Biến mô tả liên quan: tuổi, giới, mức độ ARDS, FiO₂ trước hút, điểm RASS, thời gian hút trung bình cho mỗi lần đưa sonde, tổng thời gian một lần hút, số lần đưa sonde trong một lần hút. Biến biến chứng: chảy máu niêm mạc đường hô hấp và các tai biến khác trong/sau thủ thuật.
2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập bằng bệnh án nghiên cứu thống nhất. Các chỉ số theo dõi gồm: Thời gian hút dịch phế quản: ghi nhận bằng đồng hồ bấm giây. SpO₂, nhịp tim, MAP: ghi nhận trên monitor theo dõi người bệnh. Biến chứng: quan sát trực tiếp trong quá trình hút và trong 5 phút sau hút.
Các thời điểm thu thập số liệu được chuẩn hóa như sau:
Trước hút: ghi nhận chỉ số nền ngay trước khi bắt đầu đưa sonde hút. Trong hút: ghi nhận giá trị thấp nhất của SpO₂ và các thay đổi của nhịp tim, MAP trong quá trình thực hiện thủ thuật.
Sau hút 5 phút: ghi nhận lại các chỉ số tại thời điểm 5 phút sau khi kết thúc thủ thuật.
Người bệnh được hút dịch phế quản bằng kỹ thuật hút kín hoặc hút hở theo quy trình thường quy của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tất cả các lượt hút trong 3 ngày theo dõi đều được quan sát và ghi nhận theo cùng một biểu mẫu.
2.7. Phân tích số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả được sử dụng để tính tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình và độ lệch chuẩn. So sánh giữa hai nhóm được thực hiện bằng các kiểm định phù hợp với loại biến và phân bố số liệu (ví dụ: kiểm định Chi-square/Fisher đối với biến định tính; kiểm định t-test hoặc kiểm định phi tham số đối với biến định lượng). Mối liên quan giữa một số yếu tố với sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn được phân tích bằng hệ số tương quan thích hợp. Mứcýnghĩa thốngkêđượcxácđịnhlàp<0,05. (Cần ghi rõ tên thuật toán trong từng bảng khi hoàn thiện bản thảo chính thức theo góp ý phản biện.)
2.8. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của đơn vị triển khai tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Thông tin người bệnh được mã hóa, bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Việc theo dõi không làm thay đổi quy trình điều trị và chăm sóc thường quy của người bệnh.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của nhóm người bệnh nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới
Bảng 3.1 Phân bố tuổi và giới tính của người bệnh

bình của người bệnh tham gia nghiên cứu là 45,73 ± 20.08. Trong đó, nam chiếm 77.5 % và nữ chiếm 22.5%.
3.1.2. Đặc điểm về mức độ nặng của bệnh.
Bảng 3.2 Đánh giá về phân loại người bệnh theo chỉ số PaO2/FiO2 và thang điểm RASS (mức độ an thần).

Nhận xét: Mức độ ARDS, FiO₂ trung bình, điểm RASS: tương đồng ở cả 2 nhóm
3.2. Thay đổi các dấu hiệu sinh tồn khi thực hiện kỹ thuật hút dịch phế quản
3.2.1.Đặc điểm thủ thuật hút dịch phế quản
Bảng 3.3 Đặc điểm thủ thuật hút dịch phế quản

Nhận xét: Thời gian hút trung bình/ 1 lần đưa sonde ở CSS chủ yếu 10 – 15 giây (78,5%), ở OSS chủ yếu dưới 10 giây (54,8%) với p < 0,001. Số lần đưa sonde ở cả hai nhóm ≤ 2 đều cao hơn so với số lần đưa sonde >2 (p> 0,05). Tổng thời gian trung bình cho một thủ thuật hút ở nhóm CSS là 32,96 ± 6,5 giây, cao hơn đáng kể so với nhóm OSS (25,37 ± 6,2 giây) với p < 0,001.
3.2.2. So sánh điểm trung bình các chỉ số DHST giữa hai phương pháp hút
Bảng 3.4: Thay đổi các dấu hiệu sinh tồn trước – trong – sau theo phương pháp hút

Bảng 3.5: Mức thay đổi trung bình các chỉ số DHST theo phương pháp hút

Nhận xét: Trong quá trình thực hiện thủ thuật, SpO₂ giảm mạnh hơn ở nhóm hút hở (p 0,05. Sau đó trở lại gần mức nền. Về huyết áp trung bình (MAP), giá trị tăng nhẹ trong khi hút ở cả hai nhóm, sau đó giảm về gần mức ban đầu. Sự khác biệt giữa hai nhóm chỉ có ý nghĩa thống kê tại thời điểm sau và trước hút (p < 0,05)
3.3. Biến chứng xảy ra khi hút dịch phế quản
Bảng 3.6 Tỷ lệ biến chứng khi hút dịch phế quản

Nhận xét: Nhóm hút hở có tỷ lệ tổn thương đường thở là 5.6% cao hơn nhóm hút kín có tỷ lệ tổn thương là 1,3% với p < 0,05.
3.4. Các yếu tố liên quan đến thay đổi dấu hiệu sinh tồn khi hút dịch phế quản
Bảng 3.7 Mối tương quan của một số yếu tố với sự thay đổi DHST


Nhận xét: Ở nhóm hút kín, tuổi có mối tương quan thuận mức độ yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = 0,23; p < 0,01) và MAP(r = 0,17; p = 0,003). FiO₂ trước hút cũng có tương quan thuận yếu vớisự thay đổi SpO₂ (r = 0,14; p = 0,01). Điểm RASS có tương quan thuận yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = 0,11; p = 0,04) và MAP (r = 0,20; p = 0,001). Tổng thời gian trung bình của quá trình hút không ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê với các dấu hiệu sinh tồn. Ở nhóm hút hở, tuổi có tương quan nghịch mức độ yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = -0,17; p = 0,002) và nhịp tim (r = -0,24; p < 0,001). Tổng thời gian trung bình của quá trình hút có tương quan thuận yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = 0,16; p = 0,005). FiO₂ trước hút cũng có tương quan thuận yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = 0,12; p = 0,001). Ngoài ra, điểm RASS có tương quan thuận yếu với sự thay đổi nhịp tim (r = 0,21; p < 0,001).
Bảng 3.8 Mối liên quan của một số yếu tố với sự thay đổi DHST

Nhận xét: Thời gian hút trung bình/ 1 lần đưa sonde không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Số lần đưa sonde trung bình/ 1 lần hút ở nhóm hở có ảnh hưởng đến sự thay đổi các DHST: SpO2 (p = 0,04), nhịp tim (p = 0,02), ít ảnh hưởng đến MAP (p = 0,09). Còn ở nhóm hút kín, số lần đưa sonde trung bình/ 1 lần hút có ảnh hưởng đến sự thay đổi SpO2 (p 0,05). Còn nhóm hút hở, mức độ ARDS có ảnh hưởng đến sự thay đổi của SpO₂ (p = 0,02) và MAP (p = 0,01) nhưng ít ảnh hưởng đến sự thay đổi của nhịp tim.
4. Bàn luận
4.1. Bàn luận về các thông tin chung về bệnh nhân
4.1.1. Tuổi và Giới
Trong 40 người bệnh tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình là 45,73 ± 20.08, nam giới là 31 người bệnh chiếm 77,5%, nữ giới 9 người bệnh chiếm 22,5%. Có sự tương đồng về tuổi và giới ở hai nhóm OSS và nhóm CSS. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Trần Tiến Lực (nam chiếm 73,3% và nữ chiếm 26,7%) [14], nghiên cứu củaAliAfshari ( tuổi trung bình 42,15 )[3].
4.1.2. Đặc điểm về tình trạng người bệnh
Từ bảng 3.2 cho thấy, người bệnh có mức độ ARDS chủ yếu là vừa và nặng. Tỷ lệ ARDS mức độ nặng ở CSS 50% và OSS 30% (p ≈ 0,20). FiO₂ trung bình tương đối cao ở cả hai nhóm OSS và CSS, phù hợp vớisinh lý bệnh củaARDS – vốn đòi hỏi mức FiO₂ lớn để duy trì oxy hóa do shunt trong phổi tăng cao. Điểm RASS trung bình ở cả hai nhóm đều ở mức an thần trung bình (khoảng –2,5), phù hợp với khuyến cáo an thần nhẹ–trung bình trong quản lý ARDS theo nhiều nghiên cứu quốc tế.
4.2. Thay đổi dấu hiệu sinh tồn khi thực hiện kỹ thuật hút dịch phế quản
4.2.1. Đặc điểm thủ thuật hút dịch phế quản
Thời gian hút trung bình mỗi lần đưa sonde ở CSS chủ yếu 10 – 15s (78,5%), OSS chủ yếu 0,05). Tỷ lệ đưa sonde ≤2 lần trong cả hai nhóm đều trên 85%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với hướng dẫn của AARC [12] trong đó khuyến cáo mỗi lần hút không nên kéo dài quá 15 giây và cần thao tác chậm, đều trong CSS đồng thờisố lần đưa sonde nên được giữ ở mức thấp (thường ≤ 3 lần) để giảm biến chứng như hạ oxy máu, tổn thương niêm mạc.
4.2.2. Thay đổi các dấu hiệu sinh tồn
a. SpO2
Trong khi hút SpO₂ giảm mạnh hơn ở OSS (p 0,05). Điều này có thể là do sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu.
b. Nhịp tim
Giá trị nhịp tim tăng ngay lập tức sau khi hút ở cả hai nhóm: CSS tăng 8 ± 5,84, OSS tăng 7,49 ± 5,35 so với thời điểm trước khi hút, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Sau đó trở lại gần mức nền. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Hanan Mohamed và cộng sự năm 2023[17], khác với nghiên cứu của tác giả Trần Tiến Lực [14]: giá trị nhịp tim trong và khi kết thúc hút dịch phế quản ở CSS tăng ít hơn so với OSS (p<0,05).
c. MAP
Mức thay đổi MAP trong quá trình hút ở OSS và CSS lần lượt là 7,08 ± 3,87 so với 7,34 ± 5,18 (giá trị p > 0,05). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Hanan Mohamed và cộng sự [17], tác giả Afshari [3], khác với kết quả của tác giả Lee [18]. Hút đường thở là một thủ thuật xâm lấn và có thể làm tăng huyết áp cũng như nhịp tim thông qua cơ chế kích thích hệ thống giao cảm.
4.2.3.Biến chứng xảy ra khi hút dịch phế quản
Tỷ lệ chảy máu niêm mạc đường hô hấp ở cả 2 nhóm là 3,43% trong đó OSS là 5,6% CSS là 1.3% (p < 0,05). Ở nhóm OSS khó kiểm soát độ sâu của sonde hút nên làm tăng nguy cơ gây xây xước niêm mạc đường thở. Ở nhóm CSS có thể kiểm soát độ sâu của sonde, giúp hạn chế va chạm vào thành khí – phế quản.
4.3. Các yếu tố liên quan đến thay đổi dấu hiệu sinh tồn khi hút dịch phế quản
a. Tuổi
Ở CSS, tuổi tương quan thuận với thay đổi SpO₂ (r = 0,23; p < 0,01) và MAP (r = 0,17; p = 0,003). Ở OSS, tuổi lại có tương quan nghịch với thay đổi SpO₂ (r = –0,17; p = 0,002) và nhịp tim (r = –0,24; p < 0,001). Kết quả nghiên cứu này khác với nghiên cưú của tác giả Ahmed [2]. Sự khác biệt này gợi ý rằng tuổi không tác động theo một chiều cố định, mà phụ thuộc vào bản chấtsinh lý của từng kỹ thuật hút và đáp ứng của người bệnh. Điều này cũng phù hợp với khuyến cáo củaAARC [12], trong đó nhấn mạnh rằng phản ứng sinh lý khi hút đờm chịu ảnh hưởng bởi tình trạng của người bệnh, mức dự trữ hô hấp – tim mạch và mức độ xáo trộn áp lực đường thở giữa các phương pháp hút.
b. Mức độ ARDS
Mức độ ARDS ít ảnh hưởng đến DHST ở CSS (p > 0,05), có thể do hệ thống kín không làm gián đoạn thông khí và duy trì ổn định PEEP, giúp hạn chế xẹp phổi tạm thời và giữ vững oxy hóa – huyết động trong quá trình hút. Ngược lại, ở OSS, mức độARDS ảnh hưởng rõ rệt đến thay đổi SpO₂ (p = 0,02) và MAP(p = 0,01) do việc mở hệ thống làm giảm PEEP và suy giảm trao đổi khí, đặc biệt khi phổi tổn thương nặng. Giảm oxy máu cấp tính cũng có thể gây hoạt hóa giao cảm, dẫn đến biến động huyết áp
c. Điểm RASS
Ở CSS, điểm RASS có tương quan thuận mức độ yếu với sự thay đổi SpO₂ (r = 0,11; p = 0,04) và MAP (r = 0,20; p = 0,001). Ở OSS, điểm RASS chỉ có tương quan thuận với sự thay đổi nhịp tim (r = 0,21; p < 0,001), tương quan không chặt chẽ với SpO₂ và MAP. Kết quả này phù hợp với khuyến cáo của AARC [12], trong đó khẳng định mức độ an thần ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng huyết động của người bệnh trong quá trình hút.
d. Thời gian trung bình một lần đưa sonde
Thời gian hút trung bình một lần đưa sonde ở cả 2 nhóm đều chủ yếu < 15s và không ảnh hưởng đến sự thay đổi DHST ở cả 2 nhóm. Điều này cho thấy rằng khi thời gian hút được duy trì trong giới hạn an toàn (≤15 giây), các biến động sinh lý ở bệnh nhân đều ở mức tối thiểu và không ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng huyết động và oxy hóa máu.
e. Số lần đưa sonde trung bình trong một lần hút
Số lần đưa sonde trung bình/ 1 lần hút ở OSS có ảnh hưởng đến sự thay đổi SpO2 (p = 0,04), nhịp tim (p = 0,02), ít ảnh hưởng đến MAP (p = 0,09). Còn ở CSS, số lần đưa sonde trung bình/ 1 lần hút có ảnh hưởng đến sự thay đổi SpO2 (p 0,05).
f. Tổng thời gian trung bình của cả quá trình hút
Ở OSS, tổng thời gian trung bình của cả quá trình hút có tương quan thuận yếu với thay đổi SpO₂ (r = 0,16; p = 0,005) và tương quan nghịch yếu với nhịp tim (r = - 0,12; p = 0,04). Điều này cho thấy thời gian thao tác kéo dài trong OSS có thể làm tăng nguy cơ giảm oxy máu tạm thời, đặc biệt ở người bệnh ARDS. Trong khi đó, CSS giúp duy trì thông khí và FiO₂ liên tục trong suốt quá trình, do đó thời gian thao tác tổng thể ít ảnh hưởng đến biến đổi DHST. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Jongerden và cộng sự [11].
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Ở người bệnh ARDS thở máy, hút dịch phế quản gây biến động tức thời một số dấu hiệu sinh tồn, nổi bật nhất là giảm SpO₂ và tăng nhịp tim trong quá trình hút. So với hút kín, hút hở ghi nhận mức giảm SpO₂ lớn hơn và tỷ lệ chảy máu niêm mạc đường thở cao hơn. Biến động MAP xuất hiện ở cả hai nhóm nhưng chưa cho thấy khác biệt rõ ràng và nhất quán giữa hai phương pháp. Một số đặc điểm của người bệnh và thủ thuật, như mức độ ARDS, FiO₂ trước hút, tổng thời gian hút và số lần đưa sonde, có liên quan đến thay đổi dấu hiệu sinh tồn, rõ hơn ở nhóm hút hở. Do đó, kỹ thuật hút dịch phế quản cần được thực hiện thận trọng, chuẩn hóa và theo dõi sát ở nhóm người bệnh nặng này. Từ Kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị: (i) Trong thực hành chăm sóc người bệnhARDS thở máy, nên ưu tiên hút kín cho các trường hợp có nguy cơ giảm oxy máu cao hoặc huyết động không ổn định; (ii) Cần chuẩn hóa quy trình hút dịch phế quản, đặc biệt về thời gian hút, số lần đưa sonde, và theo dõi SpO₂, nhịp tim, MAP tại các thời điểm trước, trong và sau hút; (iii) Nên thực hiện các nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn, thiết kế so sánh chặt chẽ hơn và kiểm soát tốt hơn các yếu tố nhiễu để đánh giá chính xác ảnh hưởng của từng phương pháp hút đến dấu hiệu sinh tồn.n
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BộYtế:Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngànhHồi sức – Cấp cứu – Chống độc (Quyết định số 1904/QĐ – BYT ngày 30/5/2014).237-240.
Elmelegy OEA,Ahmed R (2016):Effect of Open versus ClosedEndotracheal Suctioning SystemonVital Signs among MechanicallyVentilated Patientsin ICU
AfshariA, Safari M, Oshvandi K, SoltanianAR.The effect ofthe open and closed systemsuctions on cardiopulmonary parameters: time and costsin patients under mechanical ventilation. Nurs Midwifery Stud. 2014.
VũVănĐính (2004).Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển. Hồisức cấp cứu toàn tập, Nhà xuất bảnYhọc, Hà Nội.
LetchfordE,BenchS.Ventilator-associatedpneumoniaand suction: a review of the literature. Br J Nurs. 2018;27(1):13-18. doi:10.12968/bjon.2018.27.1.13
Branson RD. Quản lý tiết dịch ở bệnh nhân thở máy. Chămsóc hô hấp. 2007;52(10):1328–42.[ PubMed ][Google Scholar ]
Lasocki S, Lu Q, Sartorius A, Fouillat D, Remerand F, RoubyJJ.Hútnộikhíquảnmạchhởvàmạchkíntrongtổnthương phổi cấp tính: hiệu quả và tác động lên trao đổi khí. Gây mê. 2006;104(1):39–47. doi: 10.1097/00000542-200601000- 00008.[DOI][ PubMed ][Google Scholar
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức: “Quy trình hút đờm”. Quy trình điều dưỡng ngoại khoa - Tài liệu lưu hành nội bộ -2020]
Johnson KL, Kearney PA, Johnson SB, Niblett JB, MacMillan NL, McClain RE.Closed versus open endotrachealsuctioning: costs and physiologicconsequences. Crit Care Med. 1994 Apr;22(4):658-66. doi: 10.1097/00003246-199404000-00023. PMID: 8143475.
ClarkAP,Winslow EH,Tyler DO,White KM.Effects of endotrachealsuctioning onmixed venous oxygen saturation and heart rate in critically illadults. Heart Lung. 1990 Sep;19(5 Pt 2):552-7. PMID: 2211166.
Jongerden IP, Kesecioglu J, Speelberg B, Buiting AG, Leverstein-vanHallMA,BontenMJ.Changesinheartrate,mean arterial pressure, and oxygen saturation after open and closed endotracheal suctioning: a prospective observational study. J Crit Care. 2012 Dec;27(6):647-54. doi: 10.1016/j.jcrc.2012.02.016. Epub 2012Apr 18. PMID: 22520496.
AmericanAssociationforRespiratoryCare.AARCClinical PracticeGuidelines.Endotrachealsuctioningofmechanicallyventilated patients with artificial airways 2010. Respir Care. 2010;55(6):758-764
CaoXuânQuang,so sánh hiệu quả của phương pháp hút đờm kín so với phương pháp hút đờm hở trên người bệnh thở máy. 2020
Trần Tiến Lực, Đánh giá hiệu quả dự phòng viêm phổi liên quan đến thở máy của hệ thống hút kín ở bệnh nhân chấn thương sọ não. 2022
Nghiên cứu tác động của việc hút đờm kín đến thay đổi lâmsàng và oxy hóamáu trên bệnh nhân thởmáy tại bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương. Lê Thị Thu Hằng, 2012
Effect of Open versus Closed Suction System on CardiorespiratoryParameters and Suction Duration among Critically IllMechanicallyVentilated Patients.ZahraAhmed Sayed Lecturer of Critical Care Nursing, Faculty of Nursing,Aswan University
ComparisonBetween theEffect ofOpen andClosedTracheal Suction Systems on Physiological Parameters of Critically Ill Patients. Mansoura Nursing Journal (MNJ) Vol. 10. No. 1 – 2023
Lee CK, Ng KS, Tan SG, Ang R. Effect of different endotracheal suctioning systems on cardiorespiratory parameters of ventilated patients. Ann Acad Med Singapore. 2001;30(3):239–44. [PubMed] [Google Scholar]
Tin mới
-
Thời tiết nắng nóng với nền nhiệt cao đến 40 độ C khiến nhiều người tìm kiếm các...27/05/2026 14:14
-
Từ 10/7, 12 nhóm bệnh nhân được hỗ trợ cấp thuốc miễn phí
Thông tư 16/2026 Bộ Y tế ban hành, từ ngày 10/7, 12 nhóm người bệnh sẽ được ưu...27/05/2026 14:08 -
KIẾN THỨC VỀ PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI THUỐC LÁ Ở SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA NĂM 2024 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
: Mô tả kiến thức về phòng, chống tác hại thuốc lá của sinh viên Trường Đại học...27/05/2026 13:31 -
HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH TỰ CHĂM SÓC CỦA OREM ĐỐI VớI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI LớN MẮC BỆNH HEN PHẾ QUẢN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC SƠN TRÀ VÀ HẢI CHÂU, ĐÀ NẴNG
Đánh giá hiệu quả của mô hình tự chăm sóc Orem đối với chất lượng cuộc sống ở...27/05/2026 13:28 -
THAY ĐỔI DẤU HIỆU SINH TỒN KHI HÚT DỊCH PHẾ QUẢN Ở NGƯỜI BỆNH ARDS THỞ MÁY VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC II BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
Mô tả sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn (DHST) khi hút dịch phế quản và mô tả...27/05/2026 13:34 -
THỰC TRẠNG NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT CẮT TOÀN BỘ BÀNG QUANG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2024
Mô tả thực trạng nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) và phân tích một số yếu tố liên quan...27/05/2026 11:19 -
THỰC TRẠNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KÌ CỦA PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI NĂM 2025
Mô tả thực trạng đái tháo đường thai kì ở phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh...27/05/2026 11:58 -
THỰC TRẠNG THIỂU CƠ CỦA NGƯỜI BỆNH TIM MẠCH TRƯớC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025
Đánh giá tình trạng thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại khoa Nội, can...27/05/2026 10:57 -
Kỳ tích ghép tạng tại Việt Đức: 21 ca trong một tuần, viết tiếp hành trình hồi sinh
Chỉ trong vòng một tuần, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã thực hiện thành công 21 ca...27/05/2026 09:11 -
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT TẠI KHOA NGOẠI - GÂY MÊ HỒI SỨC BỆNH VIỆN ĐA KHOA MEDIC BÌNH DƯƠNG
Mô tả thực trạng sử dụng thuốc giảm đau và đánh giá diễn biến mức độ đau sau...26/05/2026 17:27 -
LIÊN QUAN GIỮA GIAI ĐOẠN BỆNH, CHỨC NĂNG GAN VÀ KẾT QUẢ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
Mô tả mối liên quan giữa giai đoạn bệnh, chức năng gan với kết quả chăm sóc điều...26/05/2026 17:13 -
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG
Mô tả thực trạng kỹ năng giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh...26/05/2026 17:11 -
KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP ĐỂ HỞ VẾT MỔ SAU 48 GIỜ TRONG PHẪU THUẬT SẠCH VÀ SẠCH NHIỄM TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP, BỆNH VIỆN ĐA KHOA SỐ 1 TỈNH LÀO CAI NĂM 2025
Mô tả kết quả để hở vết mổ (không băng) sau 48 giờ trong phẫu thuật sạch và...26/05/2026 16:54 -
Y tế cơ sở chuyển mình mạnh mẽ, giảm tải cho tuyến trên
Nhiều bệnh viện và cơ sở y tế tuyến dưới đang được đầu tư mạnh về nhân lực,...26/05/2026 10:11














