KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2023

Tóm tắt: Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức an toàn truyền máu của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2023 và nhận xét một số yếu tố liên quan đến kiến thức an toàn truyền máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 281 điều dưỡng viên đang làm việc tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2023. Kết quả: Có 42,7% điều dưỡng đạt kiến thức an toàn truyền máu (ATTM). Một số yếu tố liên quan đến kiến thức an toàn truyền máu gồm tuổi, số lần thực hiện truyền máu và khối lâm sàng có ý nghĩa thống kê với p< 0,05; các yếu tố giới tính, số năm kinh nghiệm, trình độ chuyên môn không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Kết luận: Kiến thức về an toàn truyền máu của điều dưỡng là khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ đạt vẫn chưa được như mong đợi, cần đào tạo cho điều dưỡng về an toàn truyền máu liên tục, định kỳ, thường xuyên cập nhật kiến thức mới. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, giám sát công tác thực hiện an toàn truyền máu. Từ khoá: An toàn truyền máu (ATTM), Điều dưỡng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.

BLOOD TRANSFUSION SAFETY KNOWLEDGE SURVEY OF

NURSING AT VINH PHUC PROVINCIAL GENERAL HOSPITAL 2023[HP1] 

ABSTRACT:

Objective: Describe the current status of knowledge on blood transfusion safety among clinical nurses at Vinh Phuc Provincial General Hospital in 2023 and analyse[HP2]  several factors associated to level of knowledge.

Research subjects and methods: Cross-sectional descriptive study design was utilised among 281 nurses working in clinical departments at Vinh Phuc Provincial General Hospital, from March to November 2023.

Results: 42.7% of those nurses showed adequated level of knowledge on blood transfusion safety. Several factors significant associated with level of blood transfusion safety knowledge as age, number of blood transfusions and clinical blocks.[HP3] 

Conclusion: Nurses' knowledge of blood transfusion safety is quite good, but the success rate [HP4] is still not as expected. It is necessary to train nurses on blood transfusion safety continuously, periodically, and regularly update new knowledge. Regularly inspect[HP5] , evaluate and monitor the implementation of blood transfusion safety.

Keywords: Blood transfusion safety, Nurse, Vinh Phuc Provincial General Hospital.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Truyền máu để điều trị bệnh đã được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam áp dụng từ rất lâu. Ngày nay, máu và các chế phẩm từ máu được sử dụng ngày càng nhiều trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh tại các bệnh viện. Khi thực hiện truyền máu, việc đảm bảo an toàn truyền máu (ATTM) luôn là vấn đề rất quan trọng. ATTM bao gồm đảm bảo an toàn cho người hiến máu, người nhận máu và nhân viên y tế liên quan. Đối với các bệnh viện có sử dụng máu, thì ATTM chính là nói đến đảm bảo an toàn cho người bệnh được truyền máu. ATTM cho người bệnh được truyền máu bao gồm các khâu từ đánh giá và chỉ định truyền máu, dự trù và lĩnh máu từ ngân hàng máu, cuối cùng là thực hiện truyền máu.

ĐD phải có kiến thức về ATTM thì mới có thể đảm bảo an toàn cho người bệnh. Tuy nhiên không phải ĐD nào cũng có thể làm tốt được những yêu cầu này. Một nghiên cứu ở Malaysia năm 2021 cho thấy đa số các ĐD chỉ có kiến thức về ATTM ở mức độ trung bình[3], trong khi ở Ấn Độ thì chỉ có 9,9% ĐD đạt kiến thức về ATTM [4]. Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở Bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 cho thấy có 45,6% ĐD đạt mức trung bình về kiến thức ATTM[5], ở Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2017 chỉ có 21,1% ĐD đạt kiến thức ATTM[1].

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc là bệnh viện tuyến tỉnh hạng I, số giường thực kê là 1400 giường. Số lượng đơn vị máu được sử dụng năm 2022 là 6838 đơn vị và tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo, với mức tăng bình quân 15%/năm. Đối với công tác truyền máu, thì ĐD tại bệnh viện tham gia thực hiện lấy mẫu của người bệnh, gửi mẫu cùng y lệnh dự trù đến ngân hàng máu, đối chiếu thông tin với đơn vị máu khi lĩnh máu, định nhóm máu tại giường bệnh, thực hiện y lệnh và theo dõi các dấu hiệu cảnh báo phản ứng tai biến truyền máu. Vì vậy, để hạn chế được những tai biến truyền máu, thì người ĐD phải đảm bảo kiến thức về ATTM là hết sức quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên cho đến nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng kiến thức ATTM của nhóm đối tượng này. Trước thực trạng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức về an toàn truyền máu của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2023 và nhận xét một số yếu tố liên quan đến kiến thức an toàn truyền máu.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    1. Đối tượng nghiên cứu

ĐD đang làm việc tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và có thời gian công tác tối thiểu 12 tháng và đồng ý tham gia nghiên cứu.

    1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
  • Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2023, trong đó số liệu được thu thập từ 8/2023 đến 10/2023.
  • Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
    1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
    2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Chọn mẫu toàn bộ ĐD đang công tác tại bệnh viện thoả mãn tiêu chuẩn chọn mẫu.

    1. Xử lý dữ liệu: Bằng phần mềm SPSS 26.0.
    2. Công cụ đánh giá:

Là bộ câu hỏi nghiên cứu gồm 40 câu hỏi, được tham khảo dựa trên Thông tư 26/2013/TT-BYT về Hướng dẫn hoạt động truyền máu và các nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm: Thực trạng kiến thức và an toàn truyền máu của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020[1], Kiến thức truyền máu của điều dưỡng Malaysia[4].

  • Đánh giá kết quả: Đạt khi trả lời đúng từ 26 câu hỏi trở lên[HP6] [HP7] .
    1. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

Nghiên cứu tuân thủ các quy định Đạo đức trong nghiên cứu y sinh, được Ban Giám đốc Bệnh viện đồng ý cho phép tiến hành nghiên cứu theo Quyết định số 164/QĐ-BVĐK ngày 13/3/2023 của Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Các đối tượng nghiên cứu được giải thích và mời tình nguyện tham gia nghiên cứu. Toàn bộ các thông tin nhận dạng của ĐD tham gia nghiên cứu được bảo mật. Kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và đề xuất can thiệp nâng cao chất lượng công tác ĐD  trong bệnh viện.

  1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết thúc giai đoạn thu thập số liệu, có 281 điều dưỡng hoàn thành bộ câu hỏi nghiên cứu.

    1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Thông tin nhân khẩu học

N (281)

%

Tuổi trung bình 37,77; Min 22; Max 55

Tuổi

Dưới 30 tuổi

46

16,4

Từ 30 trở lên

235

83,6

Giới

Nam

45

16

Nữ

236

84

Kinh nghiệm làm việc

<= 5 năm

44

15,7

>5 năm

237

84,3

Trình độ chuyên môn

Trung cấp, cao đẳng

120

42,7

Đại học, sau đại học

161

57,3

Khối lâm sàng

Gây mê, hồi sức, cấp cứu

89

31,7

Khối lâm sàng khác

192

68,3

Tổng

281

100,0

Nhận xét:

Độ tuổi trung bình của ĐD là 37,77; nhóm từ 30 tuổi trở lên chiếm 83,6%; tỷ lệ nữ chiếm đa số (84%); ĐD có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm chiếm 84.3%, trình độ đại học, sau đại học chiếm 57,3%.

    1. Thực trạng kiến thức ATTM của điều dưỡng[HP8] 

Biểu đồ 3.1: Kết quả đánh giá chung về kiến thức ATTM của ĐD

Nhận xét:

Trong 281 ĐTNC tham gia nghiên cứu thì có 120 ĐTNC có kết quả đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ 42,7%.

    1. Các yếu tố liên quan đến kiến thức ATTM của điều dưỡng

Bảng 3.2. Mối liên quan giữa kiến thức ATTM với tuổi - Giới

  

Kiến thức

OR

(95%CI)

p

Đạt

n (%)

Không đạt

n (%)

Nhóm tuổi

< 30 tuổi

26 (57,8%)

19 (42,2[HP9] %)

2,07

(1,08-3,95)

0,03

≥ 30 tuổi

94 (39,8%)

142 (60,2%)

Giới

Nam

17 (37,8%)

28 (62,2%)

1,27

(0,66-2,46)

0,47

Nữ

103 (43,6%)

133 (56,4%)

Nhận xét:

           Nhóm ĐD dưới 30 tuổi có kiến thức về ATTM đạt gấp 2,07 lần so với nhóm từ 30 tuổi trở lên. Không có sự khác biệt về kiến thức ATTM giữa nam và nữ.

Bảng 3.3. Mối liên quan giữa kiến thức ATTM với thâm niên và trình độ

 

Kiến thức

OR

(95%CI)

p

Đạt

n (%)

Không đạt

n (%)

Trình độ chuyên môn

Trung cấp, cao đẳng

54 (45,0%)

66 (55,0%)

1,18

(0.73-1,90)

0,50

Đại học, sau đại học

66 (41,0%)

95 (59,0%)

Thâm niên

≤ 5 năm

23(52,3%)

21(47,7%)

1,58

(0.83-3,02)

0,16

> 5 năm

97 (40,9%)

140(59,1%)

Nhận xét:

Không có mối liên quan giữa trình độ đào tạokiến thức ATTM của ĐD. Không có sự khác biệt về kiến thức truyền máu trong nhóm điều dưỡng có kinh nghiệm  từ dưới 5 năm và trên 5 năm.

Bảng 3.4. Mối liên quan giữa kiến thức ATTM với số lần thực hiện TM và khối lâm sàng

 

Kết quả

OR

(95%CI)

p

Đạt

n(%)

Không đạt

n(%)

Khối lâm sàng

Gây mê-Hồi sức-Cấp cứu

60 (67,4%)

29(32,6%)

4,55

(2,66-7,80)

0,00

Các khối lâm sàng khác

60 (31,3%)

132 (68,8%)

Số lần thực hiện truyền máu

≥ 5 lần

81 (61,8%)

50 (38,2%)

4,61

(2,78-7,66)

0,00

< 5 lần

39 (26,0%)

111 (74,0%)

Nhận xét:

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức ATTM và số lần thực hiện truyền máu và các khối lâm sàng với p < 0,05. Trong đó nhóm điều dưỡng làm việc tại các khoa thuộc khối Gây mê hồi sức – Hồi sức tích cực – Cấp cứu có kiến thức về ATTM đạt gấp 4,55 lần so với nhóm điều dưỡng làm việc ở các khối lâm sàng khác. Kiến thức về ATTM của nhóm truyền máu ≥ 5 lần cao hơn 4,61 lần nhóm truyền máu < 5 lần.

IV. BÀN LUẬN

4.1. Thông tin chung của ĐTNC

Qua bảng 3.1 cho chúng ta thấy độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 37,77 tuổi. Trong đó, nhóm tuổi từ 30 tuổi trở lên chiếm 83,6%. Những người có thâm niên công tác trên 5 năm chiếm tỷ lệ 84,3%, cao hơn so với 60,5% của Phạm Thị Hà nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Thái Bình năm 2019[3].

Đa số điều dưỡng trong nghiên cứu là nữ (chiếm 84%). Kết quả này tương tự với kết quả của Đoàn Thị Trúc Ly năm 2017 tại BVĐK Cần Thơ là 72,5%[2].

Về trình độ của ĐTNC, nhóm có trình độ đại học và sau đại học chiếm đến 57,3%. Kết quả này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Phạm Thị Hà cùng cộng sự tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019 với trình độ đại học chỉ chiếm 7%, đa số là trình độ Trung cấp - cao đẳng (93%) và ĐD có thâm niên trên 5 năm chiếm 60,5%, còn lại 39,5% công tác dưới 5 năm[3].

4.2. Thực trạng kiến thức ATTM của ĐD

Biểu đồ 3.1 cho thấy 42,7% trường hợp kết quả đánh giá kiến thức về an toàn truyền máu đạt. Đây là một tỷ lệ thấp so với kỳ vọng, vì các điều dưỡng viên trong nghiên cứu đều có thâm niên công tác lâu năm và trình độ đào tạo tương đối cao (57,3% đại học và sau đại học) so với các bệnh viện lân cận. Tuy nhiên kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đoàn Thị Trúc Ly và cộng sự khi đánh giá kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017 cho thấy có 22,1% điều dưỡng có kiến thức đạt[2].

    1. Các yếu tố ảnh hưởng[HP10] 

Qua bảng 3.2 đánh giá mối liên quan yếu tố giới và tuổi của ĐD với kiến thức ATTM của họ, cho thấy không có sự khác biệt về kiến thức ATTM giữa nam và nữ, nhưng nhóm ĐD dưới 30 tuổi đạt kiến thức về an toàn truyền máu cao gấp 2,07 lần so với nhóm trên 30, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p< 0,05 và khoảng tin cậy CI 95%: 1,08-3,95. Có được kết quả này, là do trong chương trình đào tạo y khoa ở tất cả các cấp độ, đang ngày càng được cải tiến, chú trọng về vấn đề truyền máu, để theo kịp với xu thế đổi mới trong điều trị ngày nay, khác với thời gian trước. Các cán bộ trẻ tuổi được cập nhật thêm nhiều kiến thức mới hơn từ ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, nên họ cũng am hiểu hơn về an toàn truyền máu trên lâm sàng so với thế hệ đi trước. Ngoài ra, thế hệ nhân viên trẻ tuổi cũng chịu khó tiếp thu, học hỏi cái mới, lại không vướng bận quá nhiều công việc nên họ tham gia đầy đủ các lớp tập huấn dài và ngắn hạn. Vì vậy nguồn kiến thức của họ được trau dồi và nhắc lại liên tục. Kết quả này tương đồng như trong nghiên cứu của Suhrud J. Panchawagh và cộng sự tại các bệnh viện công ở Ấn Độ, năm 2019, cho thấy nhóm ĐD có điểm trung bình về kiến thức ATTM cao nhất nằm trong độ tuổi từ 20-24, khác biệt hẳn so với các nhóm còn lại[5].

Khi tìm hiểu mối liên quan giữa số năm kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn của điều ĐD với kiến thức ATTM, qua bảng 3.3, cho thấy nhóm điều dưỡng làm việc dưới 5 năm có 52,3% đạt kiến thức ATTM, nhóm làm việc trên 5 năm có tỷ lệ đạt 40,9%. Nhóm ĐD trình độ trung cấp - cao đẳng có tỷ lệ đạt kiến thức ATTM là 45% cao hơn so với nhóm trình độ đại học - sau đại học tỷ lệ đạt 41%. Tuy nhiên hai sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Như vậy thâm niên công tác và trình độ đào tạo của đối tượng nghiên cứu không phải là yếu tố tạo nên sự khác biệt về kiến thức an toàn truyền máu.

Xét về yếu tố đặc điểm khoa lâm sàng và số lần thực hiện truyền máu với kiến thức ATTM qua bảng 3.4 cho thấy: ĐD làm việc tại khối Gây mê - Hồi sức - Cấp cứu có 67,4% đạt kiến thức ATTM, cao gấp 4,55 lần so với các khoa lâm sàng còn lại. Điều dưỡng có số lần truyền máu từ 5 [HP11] lần trở lên có tỷ lệ đạt 61,8%  cao hơn gấp 4,61 lần so với điều dưỡng thực hiện truyền máu dưới 5 lần. Có sự khác biệt này là do trong Khối Gây mê - Hồi sức - Cấp cứu có tỷ lệ thực hiện truyền máu cao hơn so với các khối lâm sàng khác nên ĐD viên được thực hành nhiều hơn cũng giống như có số lần thực hiện truyền máu nhiều hơn. Kết quả này tương đồng như trong nghiên cứu của Suhrud J. Panchawagh và cộng sự tại các bệnh viện công ở Ấn Độ, năm 2019, cho thấy nhóm ĐD làm việc trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU), phòng mổ, cấp cứu, có điểm trung bình về kiến thức ATTM cao hơn so với ĐD đa khoa khác[5].

V. KẾT LUẬN

Qua đánh giá kiến thức về ATTM của 281 ĐD tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

  • Tuổi trung bình của ĐD là 37,77; nhóm từ 30 tuổi trở lên chiếm 83,6%; nữ giới chiếm 84,3%; trình độ Đại học - Sau đại học chiếm 57,3%.
  • 42,7% ĐD đạt kiến thức về ATTM, đây là tỉ lệ thấp hơn so với kỳ vọng.
  • Nhóm điều dưỡng nhỏ hơn 30 tuổi có tỷ lệ đạt kiến thức an toàn truyền máu là 57,8% và cao hơn gấp 2,07 lần so với nhóm trên 30 tuổi.
  • Tỷ lệ ĐD đạt kiến thức ATTM ở khối Gây mê - Hồi sức - Cấp cứu tốt hơn gấp 4,55 lần so với các khối lâm sàng khác, tương tự thì điều dưỡng có số lần thực hiện truyền máu từ 5 lần trở lên đạt cao gấp 4,61 lần so với số điều dưỡng thực hiện truyền máu dưới 5 lần.
  • Giới tính, số năm kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn không phải là yếu tố tạo nên sự khác biệt về kiến thức an toàn truyền máu.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bùi Bích Liên, Vũ Văn Thiết, Nguyễn Thị Vân Anh, và cộng sự (2021). Thực trạng kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020. Tạp chí Y dược lâm sàng 108.;Số 4(Tập 16).Tr 571-580.

2.Đoàn Thị Trúc Ly. Khảo sát kiến thức và thực hành an toàn truyền máu của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017. Luận văn trường Đại học Tây Đô. Published online 2017.[HP12] 

3.Phạm Thị Hà, và cộng sự (2020). Đánh giá kiến thức, thực hành an toàn truyền máu của điều dưỡng trước và sau tập huấn tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019. Tạp chí Y dược lâm sàng 108. Số đặc biệt tháng 11/2020( Tập 15). Tr110-118.

4.      Mohd Noor NH, Saad NH, Khan M (2021). Blood Transfusion Knowledge among Nurses in Malaysia: A University Hospital Experience. Int J Environ Res Public Health;18(21).

5.      Panchawagh SJ, Melinkeri S, Panchawagh MJ (2020). Assessment of Knowledge and Practice of Blood Transfusion Among Nurses in a Tertiary Care Hospital in India. Indian J Hematol Blood Transfus;36(2):393-398.


 [HP1]Tham khảo: Survey on Nursing Knowledge of Blood Transfusion Safety at Vinh Phuc Province General Hospital, 2023

 [HP2]Identify

 [HP3]Nội dung chưa khớp với phần tóm tắt tiếng Việt

 [HP4]Cân nhắc dùng cụm từ phù hợp hơn. Ví dụ: correct rate

 [HP5]Cân nhắc: Check, assess

 [HP6]Cân nhắc bổ sung thêm thông tin về cách tính điểm và cơ sở chọn điểm cắt này.

 [HP7]Cách thức thu thập số liệu?

 [HP8]Cân nhắc trình bày rõ hơn về kiến thức ATTM. Liệu có điểm kiến thức quan trọng nào cần lưu ý? (chi tiết từ bộ câu hỏi)

 [HP9]Số liệu chưa khớp với bảng 3.1

 [HP10]Các yếu tố liên quan

 [HP11]Có lý do để chọn số lần truyền máu là 5 để làm điểm cắt so sánh không?

 [HP12]Xem lại mẫu trình bày tài liệu tham khảo


Tin mới