THỰC TRẠNG SƠ CỨU TRƯỚC VIỆN BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024

Sơ cứu trước viện kịp thời và đúng cách là "giờ vàng" quyết định tiên lượng sống còn của bệnh nhân đa chấn thương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân tại Khoa Cấp cứu BVĐK Đức Giang (4-10/2024) phản ánh một thực tế đáng lo ngại: dù phần lớn bệnh nhân được tiếp cận sơ cứu tại hiện trường (83,3%), nhưng chất lượng kỹ thuật vẫn còn nhiều lỗ hổng. Việc thiếu hụt các biện pháp hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn và giảm đau chuyên sâu, kết hợp với tỷ lệ vận chuyển bằng xe chuyên dụng chỉ đạt 63,3%, đã dẫn đến tỷ lệ tử vong tại khoa cấp cứu lên tới 26,7%. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy cần một sự thay đổi quyết liệt trong đào tạo kỹ năng sơ cứu và nâng cấp hệ thống vận chuyển cấp cứu ngoại viện.

TÓM TÁT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng sơ cứu trước viện bệnh nhân đa chấn thương (ĐCT) tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2024 và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng này.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân ĐCT nhập viện từ tháng 4 đến tháng 10/2024. Dữ liệu được thu thập qua hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.

Kết quả: 83,3% bệnh nhân là nam giới trong độ tuổi lao động; tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu gây ĐСТ (73,3%). Hầu hết bệnh nhân được sơ cứu tại hiện trường (83,3%), tuy nhiên, các biện pháp sơ cứu còn hạn chế như thiếu hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn và giảm đau. Chỉ 63,3% bệnh nhần được vận chuyển bằng xe cấp cứu chuyên dụng. Tỷ lệ tử vong tại khoa cấp cứu là 26,7%.

Kết luận: Cần tăng cường đào tạo kỹ năng sơ cứu ban đầu, sử dụng phương tiện vận chuyển y tế chuyên dụng và đảm bảo quy trình xử trí ban đầu đẩy đủ để cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân ĐCТ.

Từ khóa: sơ cứu trước viện, đa chấn thương, bệnh viện đa khoa Đức giang năm 2024

ABSTRACT

Objective: To describe the current status of pre-hospital first aid for multiple trauma (MT) patients at the Emergency Department of Duc Giang General Hospital in 2024, and to examine factors associated with MT outcomes.

Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 30 MT patients admitted from April to October 2024. Data were collected through patient records and analyzed using SPSS 20.0.

Results: The majority of MT patients were male (83.3%) and of working age. Traffic accidents were the main cause (73.3%). Although most patients received first aid at thescene (83.3%),essential interventions like airwaysupport, hemodynamic stabilization, and analgesia were often lacking. Only 63.3% were transported by professional ambulances. The mortality rate was 26.7%.

Conclusion: Early and appropriate first aid, effective pain management, and safe transport by specialized medical vehicles are crucial to improving survival outcomes in MT patients.

Keywords: Pre-hospital first aid, multiple trauma, Duc Giang General Hospital 2024.

I. ĐẶT VÁN ĐÈ

Đa chẳn thương (ĐCT) được định nghĩa là tình trạng bệnh nhân có từ hai tổn thương trở lên, trong đó ít nhất một tổn thương nghiêm trọng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp hoặc tuần hoàn, đe dọa đến tính mạng người bệnh [3]. Đây là tình huống cấp cứu phức tạp, đòi hỏi phải được xử trí khẩn cấp, chẩn đoán nhanh, hồi sức tích cực và điều trị kịp thời.

Tại Việt Nam, theo thống kê tại Bệnh viện Việt Đức, mỗi năm tiếp nhận khoảng 33.500 bệnh nhân chấn thương, trong đó khoảng 5.000 trường hợp là ĐCT cần can thiệp phẫu thuật. ĐCT cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại đây [1].

Trong xử trí ĐCT, khâu sơ cứu ban đầu và vận chuyển an toàn giữ vai trò then chốt nhằm giảm thiểu nguy cơ tử vong và di chứng lâu dài. Những giờ đầu sau tai nạn, nếu được sơ cứu đúng cách và vận chuyển đến cơ sở y tế chuyên môn kịp thời, có thể cải thiện đáng kể tiên lượng sống của người bệnh.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả bệnh nhân ĐCT đến khám tại khoa Cấp Cứu bệnh viện đa khoa Đức Giang.

Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân bị 2 chấn thương trở lên trong đó ít nhất một tổn thượng nặng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và tuần hoàn, đe doạ đến tính mạng bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: Bênh nhân ĐCT đã được điều trị ở tuyến trên ổn định cho về điều trị tại viện Đức Giang theo tuyến bảo hiểm bệnh nhân không được ghi chép hồ sƠ đấy đủ.

2.2. Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 04/2024 đến tháng 10/2024 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Cấp Cứu bệnh viện đa khoa Đức Giang

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: Mẫu thuận tiện

Thu thập số liệu: Theo mẫu bệnh án nghiên cứu Xử trí số liệu: bằng phần mềm SPSS 20.0

III. KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm chung

n

%

Tuổi

 

 

16-40

19

63,3

41-60

8

26,6

Trên 60

3

10,1

Giới

 

 

Nam

25

83,3

Nữ

5

16,7

Nguyên nhân gây ĐCT

 

 

Tai nạn giao thông

22

73,3

Tai nạn lao động

6

20

Tai nạn sinh hoạt

2

6,7

Sử dụng rượu bia

 

 

Có dùng

11

36,7

Không dùng

19

63,3

Số cơ quan tổn thương

 

 

2 cơ quan

19

63,3

3 cơ quan

8

26,7

4 cơ quan

3

10

Bệnh nhân ĐCT chủ yếu trong độ tuổi lao động từ 16-40 tuổi chiếm 63.3%, trong đó nam giới chiếm đa số với 83,3%. Tai nạn giao thông vẫn là nguyên nhân hang đầu gây ra ĐCT chiếm 73,3% sau đó là tai nạn lao động chiếm 20%, bệnh nhân ĐCT có liên quan đến rượu bia khi tham gia giao thông hoặc lao động chiếm 36,7%. Đa phần bệnh nhân ĐCT bị tổn thương hai cơ quan (sọ não, ngực, bụng, mạch máu, chi, cột sống) có ba bệnh nhân tổn thương bốn cơ quan chiếm 10% bệnh nhân ĐCT.

3.2.Thực trạng cấp cứu ban đầu bệnh nhân ĐCT

Bảng 3.2. Địa điểm cấp cứu ban đầu

Địa điểm cấp cứu ban đầu

n

%

Tại hiện trường

25

83,3

Tại trạm y tế

2

6,7

Tại bệnh viện tuyến dưới

3

10

Tổng

30

100

Bệnh nhân ĐCT chủ yếu được sơ cứu tại hiện trường chiếm 83.3%.

Bảng 3.3. Các hình thức sơ cứu bệnh nhân ĐCT trước khi nhập viện

Hình thức sơ cứu

Các cơ quan tổn thương

 

CT sọ não (n=24) (%)

CT ngực (n=18) (%)

CT bụng (n=16) (%)

CT cột sống (n=2) (%)

TT chi (n=13) (%)

VT mạch (n=1) (%)

Đặt NKQ

8,3

16,7

 

 

 

 

Thở oxy

54,2

55,6

55

 

23,8

40,2

Nẹp cổ

50

 

 

50

 

 

Cố định chi gãy

 

 

 

 

58,5

43,2

Băng cầm máu

54,2

44,4

 

 

31,5

61,7

Giảm đau

0

0

0

0

0

0

Truyền dịch

16,7

22,2

31,3

50

30,8

38,6

Các bệnh nhân ĐCT vẫn chưa được sơ cứu đúng và đầy đủ, với bệnh nhân CTSN chỉ 54,2% Bệnh nhân được thở oxy, 16,7% bệnh nhân có đường truyền tỉnh mạch, 8,3% bệnh nhân được đặt nội khí quản và 50% bệnh nhân được nẹp cổ. Ngoài ra bệnh nhân ĐCT cũng ít được giảm đau, chống sốc khi cấp cứu ban đầu.

Biểu đồ 3.1. Phương tiện vân chuyển

63,3% bệnh nhân ĐCT được vận chuyền bằng xe 115 và xe bệnh viện; 36,7 % bệnh nhân được đưa đến viện bằng các phương tiện cá nhân.

Bảng 3.4. Tình trạng bệnh nhân ĐCT khi nhập viện

Một số yếu tố

Có tử vong (n = 8)

Không tử vong (n = 3)

Tuổi

35,88

38,67

Giới (nam)

5

3

Nguyên nhân (TNGT)

4

3

Nơi sơ cứu (hiện trường)

7

1

Phương tiện vận chuyển (115)

4

2

Thời gian đến viện

4,67

3,25

Có CTSN

8

1

Đặt NKQ

2

1

Truyền dịch

4

2

Thở oxy

4

2

Các bệnh nhân ĐCT đều nhập viện trong tình trạng rất nặng 36,7% bệnh nhân hôn mê G dưới 7đ, 33,3% bệnh nhân giãn đồng tử; 46,7% bệnh nhân tụt huyết áp dưới 90 mmHG và 50% bệnh nhân suy hô hấp Sp02 dưới 90%.

Biểu đồ 3.2. Kết quả điều trị BN ĐCT tại viện Đức Giang

Chỉ 3 bệnh nhân ĐCT được phẫu thuật tại viện (10%), 8 bệnh nhân tử vong (26,7%)

3.3.Một số yếu tố liên quan đến tình trạng ĐCT cấp cứu tại viện

Bảng 3.5. Một sốyếu tố liên quan đến bệnh nhân ĐCT cấp cứu tại viện

Một số yếu tố

Có tử vong (n = 8)

Không tử vong (n = 3)

Tuổi

35,88

38,67

Giới (nam)

5

3

Nguyên nhân (TNGT)

4

3

Nơi sơ cứu (hiện trường)

7

1

Phương tiện vận chuyển (115)

4

2

Thời gian đến viện

4,67

3,25

Có CTSN

8

1

Đặt NKQ

2

1

Truyền dịch

4

2

Thở oxy

4

2

Qua 3 bệnh nhân có trên 3 tổn thương mà không tử vong ta thấy đa phần họ không bị chấn thương sọ não phối hợp, ngoài ra họ cũng được cấp cứu sớm hơn, được bảo vệ đường thở và vận chuyển bằng xe cấp cứu 115 chuyên nghiệp hơn.

IV.BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên 30 bệnh nhân ĐCT cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Đức Giang chúng tôi thấy đa phần bệnh nhân ĐCT trong nhóm tuổi lao động chiếm 63,3% tương đương với tác giả Bùi Xuân Cường 2021 có 53,11% bệnh nhân chấn thương trong độ tuổi lao động với tuổi trung bình là 38,66 tuổi [1],nghiên cứu của Lin Hsu năm 2018 là 46,8 tuổi [7], đây là nhóm chủ yếu tham gia lao động cũng như giao thông lên nguy cơ gặp ĐCT cao hơn các nhóm tuổi khác.

Nam giới chiếm 83,3% bệnh nhân bị ĐCT do nam giới là lao động chủ yếu, hơn nữa nam giới cũng chủ quan khi tham gia giao thông hay lao động hơn nữ giới, tác giả Vũ Hồng Thắng 2007 cũng thấy 82,3% bệnh nhân ĐCT là nam giới [4]

73,3% ĐCT là do tai nạn giao thông điều này do cơ SỞ hạ tầng giao thông và phương tiện tham gia giao thông của chúng ta còn lạc hậu, yếu kém chưa kể đến ý thức khi tham gia giao thông của dân ta còn thấp. Có 36,7% bệnh nhân ĐCT có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông và lao động. Nghiên cứu của Vũ Hồng Thắng cũng thấy 71,7% ĐCT là do tại nạn giao thông [4], của Gao G là 53% [61

63,3% bệnh nhân ĐCT trong nghiên cứu của chúng tôi có hai tổn thương cơ quan hay gặp nhất là chấn thương sọ não kèm theo chấn thương ngực kín hoặc chấn thương bụng kín. 10% bệnh nhân ĐCT có tổn thương bốn cơ quan đều tử vong khi nhập viện. Tác giả Lưu Thị Tố Uyên 2007 cũng thấy 87% bệnh nhân ĐCT tại viện Việt Đức có tổn thương hai cơ quan. Số cơ quan tổn thương càng nhiều thì nguy cơ tử vong càng cao đặc biệt là những chấn thương sọ não nặng [5].

4.2. Thực trạng cấp cứu ban đầu bệnh nhân ĐCT

Về địa điểm cấp cứu ban đầu: 83,3% bệnh nhân ĐCT được sơ cứu tại hiện trường điều này la do bệnh nhân ĐCT được người dân phát hiện sau đó gọi 115 đến sơ cứu hoặc đưa thẳng đến bệnh viện

Về các hình thức sơ cứu tại hiện trường: Với các chấn thương khác nhau cần có biện pháp sơ cứu phù hợp như chấn thương sọ não cần đảm bảo hô hấp, huyết động, cố định cột sống cổ. Chấn thương ngực kín cần đảm bảo thông khí như thở oxy, băng vết thương ngực hở, dẫn lưu khí, máu nếu có tràn khí, tràn máu màng phổi..Trong nghiên cứu của chúng tôi, ta thấy các biện pháp sơ cứu tại chỗ của chúng ta còn nhiều hạn chế, bệnh nhân vẫn chưa thực sự dảm bảo hô hấp, huyết động, giảm đau, chống sốc khi đến viện 

Về phương tiện vận chuyển: 63,3% bệnh nhân được vận chuyển bằng xe cấp cứu 115 hoặc xe bệnh viện cao hơn Võ Minh Hải 2021 có 38,7% bệnh nhân đến viện bằng xe cấp cứu [2],

Về tình trạng bệnh nhân ĐCT khi nhập viện: trong nghiên cứu của chúng tôi đều có tình trạng rất nặng khi nhập viện 36,7% hôn mê Glasgow dưới 7đ; 33,3% bệnh nhân có đồng tử giãn; 46,7% bệnh nhân có huyết áp dưới90 mmHg. So với nghiên cứu của Bùi Xuân Cường năm 2021 thì bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi nặng hơn do nghiên cứu của Bùi Xuân Cường tại viện Việt Đức, bệnh nhân ĐCT đã được sàng lọc tại các viện tuyến dưới trước khi chuyển [1].

Về kết quả điều trị: Tĩ lệ tử vong của nghiên cứu chúng tôi là 26,7% cao hơn nghiên cứu của Bùi Xuân Cường 13,67% [1], Vũ Hồng Thẳng 13,8% [4] do cỡ mẫu của chúng tôi còn nhỏ.

4.3.Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng ĐCT cấp cứu tại viện

Qua phân tích 11 ca bệnh có trên ba tổn thương cơ quan trở lên ta thấy có tám ca tử vong và ba ca sống sót điều này cho thấy bệnh nhân ĐCT có nhiều cơ quan tổn thương thì nguy cơ tử vong là rất lớn. Do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ không đủ để thực hiện thống kê phân tích nên chúng tôi chỉ xin đưa ra một số nhận xét, so sánh sơ bộ giữa hai nhóm như sau. Về tuổi và giới không thấy sự chênh lệch nhiều khi nhóm tuổi trung bình hai nhóm đều rất trẻ.

Tuy nhiên dễ nhận thấy ở nhóm bệnh nhân ĐCT không tử vong được sơ cứu đẩy đủ hơn (2/3 bệnh nhân được đặt nội khí quản) và được cấp cứu 115 đưa đến viện sớm hơn nhóm bệnh nhân tử vong.

Một điều quan trọng nữa là ở nhóm bệnh nhân ĐCT mà không tử vong không có bệnh nhân nào bị chấn thương so não, cóthể thấy chấn thương sọ não là một yếu tố tiên lượng rất nặng trong bối cảnh ĐCT, nó tác động trực tiếp đến tri giác người bệnh, đồng thời thúc đẩy các tổn thương khác nặng lên do tổn thương các trung tâm hô hấp, tuần hoàn.

V. KÉT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân ĐCT là nam giới trong độ tuổi lao động.Tai nạn giao thông là nguyên nhân chính, trong đó một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có liên quan đến sử dụng rượu bia và thiếu phương tiện bảo hộ. Hầu hết bệnh nhân có tổn thương từ hai cơ quan trở lên, đặc biệt là chấn thương sọ não kèm theo ngực hoặc bụng.Tuy sơ cứu ban đầu chủ yếu được thực hiện tại hiện trường, song các biện pháp can thiệp như hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn, giảm đau còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ tử vong lên đến 26,7%, phản ánh tình trạng nguy kịch và thiếu hiệu quả trong công tác sơ cứu ban đầu.

Cải thiện hệ thống sơ cứu tiền viện, phổ cập kỹ năng cấp cứu ban đầu cho cộng đồng và nhân viên y tế cơ sở, cũng như tăng cường sử dụng phương tiện vận chuyển chuyên dụng là giải pháp then chốt để giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân ĐCT.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bùi Xuấn Cương (2021), Một số đặc điểm dịch tễ học và thực trạng cấp cứu ban đầu bệnh nhân chấn thương sọ não điều trị tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn thạc sỹ у học, Đại học Y Hà Nội.

2. Võ Minh Hải (2021), Thực trạng sơ cứu và vận chuyển bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2020-2021, Tạp chí Y Dược Cần Thơ số 60/2023.

3. Phạm Văn Phúc (2004), " Đa chấn thương", Bệnh học ngoại khoa tập 1. Nhà xuất bản Y học, 91-94

4.Vũ Hồng Thắng (2007), Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả điều trị đa chấn thương tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp lI, Trường đại học Y Hà Nội.

5. Lưu Thị Tố Uyên (2007), Một số nhận xét về cấp cứu ban đầu bệnh nhân chấn thương trước khi đến bệnh viện Việt Đức, Khoá luận tôt nghiệp đại học Y Hà Nội.

6. Gao G,Wu X et al (2020), Clinical characterristics and outcomes in patient with traumatic brain injury in China: a prospective, multicentre, longitudinal observational study.The lancet Neurology-2020;19(8): 670-677

7. Hsu L, Li C-Y,Chu D-C (2018), An Epidemiological Analysis of Head Injury in Taiwan International Jounal of Enviromental Research ang Public Heath. 2018; 15(11); 457. doi: 10.3390

 

 

ĐẶNG THỊ ĐÀO , NGUYỄN THẠC CHÍNH, NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG, ĐẶNG VĂN PHẢI


Tin mới