Đánh giá tuân thủ quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2021 Evaluation of compliance with the peripheral venous catheter placement procedure by nurses at Ninh Binh Provincial General Hospital in 2021

TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá tuân thủ quy trình kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng tại bệnh viện tỉnh Ninh Bình năm 2021 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được giám sát trên 425 mũi tiêm thực hiện đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên cho người bệnh từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2021. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ thực hành đúng quy trình kỹ thuật chung của điều dưỡng đạt 81,2%, Phần lớn các bước trong quá trình thực hiện quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng khá tốt, đạt tỉ lệ thực hiện đúng 100% ; tuy nhiên còn 1 vài bước vẫn có điều dưỡng thực hiện sai, còn bỏ qua. Các yếu tố liên quan đến việc điều dưỡng tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật vô khuẩn trong quá trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên: Giới tính nữ, thời gian công tác ˃10 năm (p < 0,05). Kết luận: Việc tuân thủ quy trình tại các bước: Ghi rõ ngày, giờ đặt kim lên băng dính cố định; Vệ sinh tay, đi găng đúng quy trình; Thu dọn dụng cụ, tháo bỏ găng, rửa tay của điều dưỡng còn hay bỏ qua, hoặc thực hiện chiếu lệ. Tăng cường tập huấn và giám sát chặt chẽ quy trình thực hiện cho điều dưỡng.

Từ khóa: Nhiễm khuẩn bệnh viện, tuân thủ, quy trình, đặt catheter, điều dưỡng.

ABSTRACT

Objective: Evaluation of Compliance with Peripheral Venous Catheter Placement Procedures by Nurses at Ninh Binh Provincial Hospital in 2021 and Investigation of Related Factors. Subjects and research methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 425 supervised injections performed for placing peripheral venous catheters in patients from February to September 2021. Results: The compliance rate with the common technical procedures in nursing practice is 81.2%. Most of the steps in the process of peripheral venous catheter insertion are executed quite well by nurses, with a 100% rate of correct implementation. However, there are still a few steps that nurses execute incorrectly or overlook. Factors related to nurses' adherence to aseptic technique procedures during peripheral venous catheter insertion include gender and working experience of more than 10 years (p < 0.05). Conclusion: Compliance with the procedures in the following steps: Clearly record the date and time the needle is placed on the adhesive tape; Hand hygiene, wearing gloves according to procedures; Cleaning up equipment, removing gloves, washing hands by nurses is sometimes overlooked or not performed correctly. Enhance training and closely monitor the implementation process for nurses.

Keywords: Hospital-acquired infection, compliance, procedure, catheter insertion, nursing.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên (CTTMNB) là một thao tác thường gặp trong chăm sóc (CS), chẩn đoán, theo dõi và điều trị. Đây là một kỹ thuật xâm nhập vào cơ thể người bệnh (NB), do vậy trong quá trình thực hiện quy trình từ chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, kỹ thuật đặt, che phủ và chăm sóc sau đặt đều phải tuyệt đối vô khuẩn [1]. Phần lớn nhân viên y tế (NVYT) chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật và thao tác kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong thực hành tiêm, truyền tĩnh mạch [1], đáng chú ý hơn là kỹ thuật đặt catheter trong lòng mạch.

Nghiên cứu của Lê Văn Hậu [5] năm 2020 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt CTTMNB trong một lần quan sát là 39,0% và tỷ lệ điều dưỡng đạt thực hành tốt đủ cả 3 lượt quan sát là 8,6%, với một thủ thuật xâm lấn thì tỷ lệ tuân thủ quy trình của điều dưỡng là rất thấp.

Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, năm 2018 thực trạng nhiễm khuẩn do đặt Catheter trung tâm có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 13% [7]. Kết quả nghiên cứu về tình hình nhiễm khuẩn do đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại khoa Đột quỵ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2020 là 6,7% [4].

  Việc tuân thủ quy trình kỹ thuật chuyên môn để đảm bảo an toàn cho người bệnh luôn là thách thức đối với công tác điều dưỡng. Một trong những vẫn đề đáng quan tâm là quy trình chăm sóc CTTMNB chưa được tuân thủ chặt chẽ, còn để xảy ra không ít các trường hợp tắc catheter, tuột catheter, viêm tĩnh mạch và đặc biệt là nhiễm khuẩn tại chỗ đặt catheter.

Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với 2 mục tiêu:

1. Đánh giá tuân thủ quy trình kỹ thuật đặt CTTMNB của điều dưỡng tại bệnh viện tỉnh Ninh Bình năm 2021

2.  Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tuân thủ quy trình kỹ thuật đặt CTTMNB của điều dưỡng tại bệnh viện tỉnh Ninh Bình 

 

 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1.Đối tượng nghiên cứu: Điều dưỡng (ĐD) đang làm việc tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình mà có thực hiện thủ thuật đặt CTTMNB trên người bệnh từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2021.

2.2. Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.

2.3. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức cho nghiên cứu một tỷ lệ:

 

 

 

 

Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu

   Z: Hệ số tin cậy với độ tin cậy 95%, Z = 1,96

p = 0,05; vì không có tỷ lệ nghiên cứu trước nên chọn số tối thiểu là 50% 

   d: sai số mong muốn. Trong nghiên cứu này chọn d = 0,021(mức độ chính xác mong muốn ~ ± 3%). Vì vậy n = 414.

Trên thực tế cộng thêm phần sai số 3% thì chúng tôi ước tính cỡ mẫu nghiên cứu cần quan sát là 425.

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Các nội dung trong bộ câu hỏi dựa theo các văn bản sau:

+ Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27  tháng  09  năm 2012 của Bộ Y tế về phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn [2].

+ Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế về việc phê duyệt các Hướng dẫn Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [3].

+ Hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản – Chủ biên : TS Đỗ Đình Xuân- Ths Trần Thị Thuận- Nhà xuất bản giáo dục năm 2011 [6].

+ Quy trình số 25 ĐD: Quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.

Bộ công cụ Quy trình đặt CTTMNB gồm 14 bước, mỗi bước được đánh giá theo thang điểm như sau: thực hiện sai/không thực hiện đạt 0 điểm, thực hiện thiếu đạt 1 điểm, thực hiện đúng, đủ đạt 2 điểm. Tổng điểm tối đa của quy trình là 28 điểm. ĐD thực hiện quy trình được chia làm các mức độ:

+ Điểm tốt: 24 – 28 điểm

           + Điểm đạt yêu cầu: 20 – 23 điểm

           + Không đạt yêu cầu:  < 20 điểm

+ 8h sáng từ thứ 2 đến thứ 6; 2 ĐD khoa KSNK có mặt tại buồng bệnh các khoa của bệnh viện quan sát trực tiếp và điền thông tin vào phiếu điều tra. Mỗi ĐD được quan sát nhiều lần thực hiện quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên. Bệnh viện tổng có 26 khoa, mỗi ngày thu thập số liệu 1 khoa trên 2 ĐD được giám sát ngẫu nhiên cho đến khi đủ mẫu.

2.6. Phương pháp phân tích số liệu

   Số liệu sau khi thu thập sẽ được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0. Các số liệu mô tả được trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ. Phép kiểm Chi bình phương được dùng để tìm mối liên quan đến thực hiện tuân thủ quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điêu dưỡng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

2.7. Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng nghiên cứu khoa học của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình (Công văn số 643/BVĐK – ĐTCĐT ngày 31 tháng 12 năm 2020 của BVĐK tỉnh Ninh Bình) .

- Nghiên cứu được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện: chỉ thu thập số liệu khi đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu và được giải thích ró mục tiêu nghiên cứu, đối tượng có quyền chấm dứt nghiên cứu bất cứ khi nào và có quyền từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào trong phiếu giám sát.

- Số liệu thu thập một cách trung thực khách quan.

- Đảm bảo tính bảo mật cho thông tin đối tượng tham gia nghiên cứu và số liệu được tác giả quản lý và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

 

3. KẾT QUẢ

      Bảng 3.1. Tỷ lệ tuân thủ thực hành quy trình ký thuật khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng (n = 425)

Thực hành quy trình kỹ thuật

 

Tuân thủ đúng

Thực hiện thiếu

Thực hiện sai/ không thực hiện

N (%)

N (%)

N (%)

Chuẩn bị điều dưỡng

405 (95,3)

20 (4,7)

0 (0)

Chuẩn bị dụng cụ

81 (95,3)

20 (4,7)

0 (0)

Chuẩn bị người bệnh

81 (95,3)

20 (4,7)

0 (0)

Vệ sinh tay, đi găng đúng quy trình

135 (31,8)

180 (42,4)

110 (25,9

Chọn vị trí đặt ít nguy cơ

380 (89,4)

40 (9,4)

5 (1,2)

SK vị trí đặt kim 2 lần đúng QT

80 (18,8)

345 (81,2)

0 (0)

Vùng SK cần phải để khô ít nhất 30” trước khi đặt CTTMNB

340 (80)

85 (20)

0 (0)

Tiến hành KT đặt đúng quy trình

425 (100)

0 (0)

0 (0)

Nối ba chạc/dây nối vào đốc kim...

425 (100)

0 (0)

0 (0)

Cố định đốc kim chắc chắn

425 (100)

0 (0)

0 (0)

Giúp NB về tư thế thích hợp. Dặn NB những điều cần thiết

370 (87,1)

50 (11,8)

5 (1,2)

Thu dọn DC, tháo bỏ găng, rửa tay

155 (36,5)

225 (52,9)

45 (10,6)

Ghi rõ: Ngày, giờ đặt kim lên băng dích cố định.

105 (24,7)

110 (25,9)

210 (49,4)

Ghi hồ sơ bệnh án

415 (97,6)

10 (2,4)

0 (0)

 

Bảng 3.1. Cho thấy hầu như các bước trong quá trình thực hiện quy trình đặt CTTMNB của điều dưỡng khá tốt, đều đạt tỉ lệ thực hiện đúng 100%.

Tuy nhiên, còn một số bước như: nghi rõ ngày giờ đặt kim lên băng dích cố định thường xuyên bị các điều dưỡng quên và bỏ sót (49,4% không ghi gì). Hoặc các bước VST có tới 25,9% bỏ không thực hiện.

Bảng 3.2. Tỷ lệ tuân thủ thực hành quy trình kỹ thuật chung khi đặt Catheter

 tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng đối với từng khoa (n = 425)

Khoa

Thực hiện tốt

(24-28 điểm)

Đạt yêu cầu

(20 – 23 điểm )

Chưa đạt yêu cầu

( < 20 điểm )

N (%)

N (%)

N (%)

Đột quỵ

0 (0)

25 (5,9)

0 (0)

Thần kinh

55 (12,9)

10 (2,4)

0 (0)

Nội TM

0 (0)

10 (4,7)

12 (2,8)

Nội TH

35 (8,2)

25 (5,9)

0 (0)

U Bướu

10 (2,4)

91 (24,4)

20 (4,7)

Chấn thương

0 (0)

5 (1,2)

0 (0)

Chấn thương sọ não

0 (0)

15 (3,5)

0 (0)

Ngoại TH

15 (3,5)

15 (3,5)

0 (0)

Thận nhân tạo

0 (0)

0 (0)

45 (10,6)

Nội thận

10 (2,4)

0 (0)

0 (0)

Cấp cứu

0 (0)

5 (1,2)

3 (0,7)

Điều trị tích cực

0 (0)

9 (2,1)

0 (0)

Tổng

125 (29,4)

220 (51,8)

80 (18.8)

 

Tỷ lệ tuân thủ TH QTKT chung khi đặt CTTMNB của điều dưỡng có khoa Thần kinh, Nội TH, Ngoại TH, U bướu và nội thận là có 100% điều dưỡng thực hiện tốt hoặc đạt yêu cầu, không có trường hợp nào không thực hiện.

Bảng 3.3. Mối liên quan đến giới tính của của điều dưỡng và sự tuân thủ

quy trình kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên (n = 425)

Sự tuân thủ

quy trình

Giới nam

Giới nữ

p(χ2 )

N (%)

N (%)

Thực hiện tốt

15 (3,5)

110 (25,9)

p = 0,000

15,271[u1] 

Đạt yêu cầu

60 (14,1)

160 (37,6)

Chưa đạt yêu cầu

55 (13)

25 (5,9)

Tổng

130 (30,6)

295 (69,4)

                                                                                                                                                                                                                                           

Giới nữ tuân thủ quy trình tốt hơn giới nam, Có sự khác biệt về giới tính khi thực hiện quy trình đặt CTTMNB, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.4. Mối liên quan đến độ tuổi của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình

kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên (n = 425)

 

Sự tuân thủ quy trình

Nhóm tuổi

p(χ2 )

< 23 tuổi

Từ 23 –  < 30 tuổi

Từ 30 – < 50 tuổi

> 50 tuổi

N (%)

N (%)

N (%)

N (%)

 

Thực hiện tốt

0 (0)

45 (10,6)

80 (18,8)

0 (0)

p = 0,198

8,592[u2] 

Đạt yêu cầu

5 (1,2)

90 (21,2)

120 (28,2)

5(1,2)

Chưa đạt yêu cầu

0 (0)

60 (14,1)

20 (4,7)

0(0)

Tổng

5 (1,2)

195 (45,9)

220 (51,7)

5(1,2)

  Nhóm tuổi từ 30 - < 50 tuổi tuân thủ quy trình kỹ thuật khi đặt CTTMNB tốt hơn các nhóm tuổi còn lại, tuy nhiên mối liên quan này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.5. Mối liên quan đến thời gian công tác của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên (n = 425)

 

Sự tuân thủ quy trình

Thời gian công tác

p(χ2 )

< 5 năm

Từ 5 – 10 năm

> 10 năm

N (%)

N (%)

N (%)

 

Thực hiện tốt

35 (8,2)

60 (14,1)

30 (7,1)

p = 0,018

11,976[u3] 

Đạt yêu cầu

105 (24,7)

85 (20)

30 (7,1)

Chưa đạt yêu cầu

65 (13,5)

15 (3,5)

0 (0)

Tổng

205 (48,2)

160 (37,6)

60 (14,2)

     

Bảng trên cho ta thấy thời gian công tác của điều dưỡng càng lâu năm sự tuân thủ quy trình kỹ thuật khi đặt CTTMNB càng thực hiện tốt. Có sự khác biệt về thời gian công tác khi thực hiện quy trình đặt CTTMNB, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.6. Mối liên quan đến trình độ của điều dưỡng và sự tuân thủ

 quy trình kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên (n = 425)

 

Sự tuân thủ quy trình

Trình độ của điều dưỡng

p(χ2 )

Trung cấp

Cao đẳng

Đại học

N (%)

N (%)

N (%)

 

Thực hiện tốt

20 (4,7)

50 (11,8)

55 (12,9)

p = 0,409

3,981[u4] 

Đạt yêu cầu

30 (7,1)

100 (23,5)

90 (21,2)

Chưa đạt yêu cầu

5 (1,2)

20 (4,7)

55 (12,9)

Tổng

55 (13)

170 (40)

200 (47)

   

  Sự khác nhau về trình độ của điều dưỡng không thấy thể hiện sự khác khau đến sự tuân tủ quy trình kỹ thuật khi đặt CTTMNB. Mối liên quan này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

4. BÀN LUẬN[u5] 

Kết quả nghiên cứu Bảng 3.1 cho thấy các bước: tiến hành kỹ thuật đặt đúng quy trình; nối kim ba chạc/dây nối vào đốc kim catheter, bơm dịch kiểm tra để xác định chắc chắn kim vào đúng vị trí, khóa ba chạc (hoặc đầu dây nối) lại, cố dịnh đốc kim chắc chắn đều đạt tỉ lệ thực hiện đúng 100%. Các bước chuẩn bị điều dưỡng; chuẩn bị dụng cụ; chuẩn bị người bệnh; ghi hồ sơ bệnh án đều có tỉ lệ thực hiện đúng trên 95%. Tuy nhiên, còn một số bước như: nghi rõ ngày giờ đặt kim lên băng dích cố định thường xuyên bị các điều dưỡng quên và bỏ sót (49,4% không ghi gì). Hoặc các bước vệ sinh tay có tới 25,9% bỏ không thực hiện. Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Thảo Vi và cộng sự [8] (2019) tại bệnh viện Quận Bình Thạnh cho thấy tỷ lệ đạt chưa cao 70,9% đối với tuân thủ vệ sinh tay sau và 77,1% chỉ đạt về kỹ thuật sát trùng da đối với các điều dưỡng đã được tham gia tập huấn.

Bảng 3.2 cho thấy 18,8% số mũi tiêm của điều dưỡng tiến hành kỹ thuật chưa đạt yêu cầu (số mũi tiêm chưa đạt yêu cầu này nằm ở 1 số điều dưỡng của khoa Thận nhân tạo 10,6%; Ung Bướu 4,7%; nội tim mạch 2,8%; cấp cứu 0,7% ). Các khoa Thần kinh, Nội TH, Ngoại TH, U bướu và Nội thận là có 100% điều dưỡng thực hiện tốt hoặc đạt yêu cầu, không có trường hợp nào không thực hiện.

 Qua nghiên cứu 425 mũi tiêm thực hiện đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên trên người bệnh đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2021 tôi nhận thấy thực hành tuân thủ quy trình của điều dưỡng chung là khá tốt (thực hiện tốt đạt 29,4%; thực hiện đạt yêu cầu chiếm 51,8%); còn lại 18,8% là mũi tiêm chưa đạt yêu cầu. Các nghiên cứu trước đây cho thấy ở các nước, việc tuân thủ quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên còn hạn chế. Nghiên cứu của Lê Văn Hậu [5] năm 2020 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng đạt thực hành tốt đủ cả 3 lượt quan sát là 8,6%, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. Mohamad G Fakih và cộng sự (2013) [9] đánh giá trước khi can thiệp, tỷ lệ tuân thủ tất cả các bước của việc đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên ở mức rất thấp (4,8%) và đã có sự cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục và cung cấp phản hồi (tăng lên 31,7%). Nghiên cứu của Daniella Hasselberg và cộng sự (2010) [10] tại Thụy Điển quan sát 413 trường hợp cho thấy tỷ lệ tuân thủ đạt 30,2%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ĐD nữ thực hiện quy trình tốt hơn so với nam. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Điều này có thể do nữ giới là người khéo tay hơn, cẩn thận hơn nên khi thực hiện quy trình sẽ thực hiện tốt hơn nam giới.[u6] 

 Những ĐD càng lớn tuổi có tỷ lệ thực hiện quy trình tốt cao hơn so với những ĐD trẻ tuổi hơn. Tuy nhiên chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và thực hiện quy trình.

Với bảng 3.5 cho ta thấy thời gian công tác của điều dưỡng càng lâu năm thì sự tuân thủ quy trình kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng càng tốt (với những mũi tiêm của nhóm điều dưỡng có thời gian công tác dưới 5 năm chưa đạt yêu cầu là 65 mũi; của nhóm có thời gian công tác từ 5 – 10 năm chưa đạt yêu cầu là 15 mũi và của nhóm có thời gian công tác trên 10 năm là 0 mũi nào. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) về thời gian công tác khi thực hiện quy trình đặt CTTMNB.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những ĐD có trình độ đại học có tỷ lệ thực hiện quy trình tốt cao hơn so với những ĐD có trình độ cao đẳng, trung cấp. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.[u7] 

5. KẾT LUẬN

Trong 425 mũi tiêm có 29,4% mũi tiêm thực hiện tốt quy trình; 51,8 mũi tiêm đạt yêu cầu; còn lại 18,8% mũi tiêm là chưa đạt yêu cầu.

Giới tính, thâm niên công tác có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với sự tuân thủ quy trình kỹ thuật khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng (p<0,05).

6. KHUYẾN NGHỊ

Giám sát chặt chẽ quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn nói chung và quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên nói riêng.

Tổ chức định kỳ đào tạo cập nhất kiến thức về KSNK, quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên cho nhân viên y tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1.  Bộ Y tế (2012). Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt catheter trong lòng mạch.
  2.  Bộ Y tế (2012). Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27  tháng  09  năm 2012 của Bộ Y tế về phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn
  3.  Bộ Y tế (2017). Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế về việc phê duyệt các Hướng dẫn Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
  4.  Trần Thị Hương Giang và cộng sự (2020). Nhận xét tình hình nhiễm khuẩn tại chỗ đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên khoa Đột quỵ bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2020.
  5.  Lê Văn Hậu (2021). Thực trạng tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh năm 2020. Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng.
  6.  Đỗ Đình Xuân (2011). Hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản , Nhà xuất bản giáo dục.
  7.  Đặng Hồng Thanh và cộng sự (2018). Đánh giá thực trạng nhiễm khuẩn do đặt Catheter trung tâm và một số các yếu tố liên quan tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2017 – 2018.
  8.  Trần Ngọc Thảo Vi, Hoàng Thị Thu Thủy (2019). Đánh giá tuân thủ thực hành kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên trong phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết của điều dưỡng tại Bệnh viện quận Bình Thạnh. Bệnh viện Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  9.  Fakih, M. G., Jones, K., Rey, J. E., et al (2013). Peripheral venous catheter care in the emergency department: education and feedback lead to marked improvements. American journal of infection control41(6), 531-536.
  10.  Hasselberg, D., Ivarsson, B., Andersson, R., & Tingstedt, B. (2010). The handling of peripheral venous catheters–from noncompliance to evidencebased needs. Journal of clinical nursing19(2324), 3358-3363.

 [u1]Tác giả xem xét thêm dấu ngoặc đơn: p = 0,000(15,271) để tương đồng với p(χ2 )

 [u2]Chỉnh sửa

 [u3]Chỉnh sửa

 [u4]Chỉnh sửa

 [u5]Tác giả cân nhắc chia thành 2 phần theo mục tiêu để người đọc dễ hiểu

 [u6]Thêm tài liệu tham khảo hoặc bàn luận thêm sẽ giúp bài hay và chặt chẽ

 [u7]Tác giả đưa thêm so sách hoặc bàn luận với các nghiên cứu khác sẽ hay hơn


Tin mới