THỰC TRẠNG STRESS CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HƯNG YÊN NĂM 2024

TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 176 điều dưỡng đang làm việc tại 4 khối lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên. Dữ liệu được thu thập bằng câu hỏi tự điền bao gồm thông tin cá nhân và thang đo Expanded Nursing Stress Scale (ENSS) để đánh giá mức độ stress.

Kết quả: Điều dưỡng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 38.19 ± 4.8 tuổi, nữ giới chiếm 89.2%. Trung bình năm công tác là 13.8 ± 4.7 năm. Tỷ lệ điều dưỡng có dấu hiệu stress là 26.7%, trong đó không có trường hợp nào đạt mức độ stress cao.

Kết luận: Mặc dù tình trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng lâm sàng chưa phổ biến nhưng vẫn có các biện pháp can thiệp để kiểm soát và phòng ngừa stress trong môi trường làm việc. Cần tiến hành thêm các nghiên cứu nhằm đánh giá nguy cơ và đề xuất các biện pháp giảm stress nghề nghiệp cho điều dưỡng.

Từ khóa: Stress nghề nghiệp, điều dưỡng, bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên.

 

ABSTRACT

Objective: to describe the occupational stress status of nurses at Hung Yen Provincial General Hospital in 2024.

Methodology: a cross-sectional descriptive study was conducted on 176 nurses working in four clinical departments of Hung Yen Provincial General Hospital. Data were collected using a self-administered questionnaire, which included personal information and the Expanded Nursing Stress Scale (ENSS) to assess stress levels.

Results: the average age of the participating nurses was 38.19 ± 4.8 years, with females accounting for 89.2%. The average years of experience were 13.8 ± 4.7 years. The proportion of nurses showing signs of stress was 26.7%, with no cases reaching a high-stress level.

Conclusion: although occupational stress among clinical nurses is not widespread, interventions are still necessary to manage and prevent stress in the workplace. Further studies should be conducted to assess risk factors and propose measures to reduce occupational stress in nursing.

Keywords: Occupational stress, nurses, Hung Yen provincial general hospital.  

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Stress được định nghĩa theo thuật ngữ chung là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với kích thích từ môi trường. Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích ứng, tạo ra một cân bằng mới cho cơ thể sau khi chịu những tác động của môi trường [2], [6].

Stress ở điều dưỡng từ lâu đã là chủ đề nghiên cứu và được chứng minh là quan trọng đối với mục đích an toàn liên quan tới sức khỏe nghề nghiệp, cũng như cung cấp dịch vụ chăm sóc chất lượng, hiệu qủa cho người bệnh [5], [8]. Stress ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả, hiệu suất và giảm tính an toàn trong chăm sóc người bệnh làm giảm chất lượng chăm sóc người bệnh [7]. Thêm vào đó quan điểm xem người bệnh là khách hàng, chú trọng sự hài lòng của người bệnh càng tạo nhiều áp lực cho nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng [4]. Như vậy, stress làm giảm khả năng làm việc, giao tiếp, giảm sự hài lòng với công việc, thậm chí bỏ nghề [4], [9]. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng stress ở điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên.

  1. DỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng, bệnh viện Đa khoa Hưng Yên

Tiêu chuẩn lựa chọn:

  • Điều dưỡng lâm sàng có thời gian làm việc tại bệnh viện từ 1 năm trở lên
  • Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ :

  • Điều dưỡng đang trong thời gian học việc học chưa có hợp đồng lao đồng
  • Điều dưỡng đang nghỉ sinh, nghỉ phép, nghỉ ốm trong thời gian thu thập số liệu
  • Điều dưỡng làm tại các phòng ban chức năng.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01 tháng 05 đến ngày 01 tháng 10 băn 2024 tại các khoa lâm sàng, bệnh viện Đa khoa Hưng Yên

2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu

2.5. Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Bộ công cụ đo lường stress ở điều dưỡng ( ENSS) gồm 2 phần :

Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi tự điền để thu thập thông tin cá nhân và đánh giá stress của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên. Bộ công cụ Expanded Nursing Stress Scale  (ENSS) đã xin phép quyền tác giả và được cho phép sử dụng bộ tiếng Việt Thang đo gồm 54 mục trên 8 lĩnh vực gồm: Đối mặt với cái chết của NB (7 câu); mâu thuẫn với bác sĩ (5 câu); chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc (3 câu); các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (6 câu); Các vấn đề liên quan đến cấp trên (7 câu); khối lượng công việc (9 câu); không chắc chắn về hướng điều trị cho NB (9 câu); NB và gia đình NB (8 câu). Thang điểm đánh giá gồm 4 bậc theo thang điểm Likert gồm: chưa bao giờ stress, thỉnh thoảng stress, thường xuyên stress, vô cùng stress. Tổng số điểm dao động từ 54 - 216. Điểm càng cao, có nghĩa là ĐD càng stress. Mức độ stress được chia làm 3 mức độ như sau (Polit & Hungler, 1999). Phân loại tình trạng stress ở điều dưỡng là không stress cho mức độ stress thấp, có stress cho mức độ stress trung bình và cao.

Số liệu được thu thập bằng phương pháp phát vấn. 

- Số liệu sau khi điều tra được làm sạch thô và nhập vào máy vi tính bằng phần mềm SPSS 25.0 để phân tích và xử lý. Sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm để mô tả thực trạng stress của điều dưỡng.

2.6. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện sau khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu và sự cho phép của lãnh đạo bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên. Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được bảo mật. Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác.

  1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n=176)

Đặc điểm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Tuổi (Mean: 38,19; SD: 4.86)

≤ 38 tuổi

90

51,1

> 38 tuổi

86

48,9

Giới tính

Nam

19

10.8

Nữ

157

89.2

Trình độ chuyên môn

Trung cấp

6

3,4

Cao đẳng

96

54.5

Đại học

74

42.0

Sau ĐH

0

0

Tình trạng hôn nhân

Độc thân

9

5.1

Kết hôn

167

94.9

 

Số năm công tác

< 5 năm

7

4,0

≥ 5 năm

169

96,0

Trung bình ± Độ lệch chuẩn: 13.8 ± 4.7 (1 – 30)

 

 

Khoa công tác

Khối Hồi sức – Cấp cứu

22

12.5

Khối Ngoại

44

25.5

Khối Nội

76

43.2

Khối Chuyên khoa

34

19.3

Tổng số 176 đối tượng tham gia nghiên cứu, có độ tuổi trung bình: 38.,19 ± 4.86 tuổi, nữ giới chiếm 89.2%. Phân lớn điều dưỡng có trình độ Cao đẳng (54.5%) và đã kết hôn (94.9%). Số năm công tác trung bình của đối tượng nghiên cứu là 13.8 ± 4. trong đó thâm niên công tác từ trên 5 năm chiếm tỷ lệ cao 96.0%. Số điều dưỡng tham gia nghiên cứu thuộc khối Nội chiếm 43.2%.

3.1.2. Đặc điểm về công việc của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2. Đặc điểm về công việc của đối tượng nghiên cứu (n = 176)

Biến số

Đặc tính

N

Tỷ lệ (%)

Đáp ứng cơ sở vật chất

Không đạt yêu cầu

3

1.7

Đạt yêu cầu

155

88.1

Rất tốt

18

10.2

Số buổi trực trong 1 tháng

≤ 5 buổi

146

83.0

> 5 buổi

30

17.0

Trung bình ± Độ lệch chuẩn: 4.6 ± 1.5

Kiêm nhiệm

41

23.3

Không

135

76.7

Làm thêm ngoài giờ

70

39.8

Không

106

60.2

Nghỉ phép

163

92.6

Không

13

7.4

Đáp ứng lương

167

94.9

Không

9

5.1

Kết quả nghiên cứu cho thấy 88,1% đối tượng tham gia nghiên cứu đánh giá cơ sở vật chất hiện tại của bệnh viện đã đáp ứng nhu cầu làm việc. Số buổi trực trung trình của điều dưỡng khoảng 5 buổi trong 1 tháng, đa số có số buổi trực ≤ 5 buổi (83%). 23% điều dưỡng phải kiếm nhiệm thêm công việc, 39.8% điều dưỡng tham gia nghiên cứu có làm thêm ngoài giờ. Đối tượng nghiên cứu cho rằng có được ngày lễ/ phép dầy đủ chiếm 92.6% và 94.9% cho rằng mức lượng hiện tại đã phản ánh đúng công sức lao động cống hiến.

3.2. Thực trạng stress ở điều dưỡng

3.2.1. Thực trạng stress chung ở điều dưỡng

Bảng 3.3.Thực trạng stress chung ở điều dưỡng (n = 176)

Stress nghề nghiệp

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Phân loại tình trạng Stress

Thấp  (54 – 108)

129

73.3

Không

Trung bình (109 – 162)

47

26.7

 

Cao (163 – 216)

0.0

0.0

Trung bình ± Độ lệch chuẩn: 91.23 ± 23.7

Min – Max: 54 – 161

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng nghiên cứu có dấu hiệu stress  chiếm 26.7% (trong đó chỉ có phân loại mức độ stress trung bình, không có điều dưỡng nào có phân loại mức độ cao), không có dấu hiệu stress chiếm73.3%.

3.2.2. Mức độ stress của điều dưỡng theo từng lĩnh vực

Bảng 3.4. Mức độ stress của điều dưỡng trong 8 lĩnh vực

TT

Lĩnh vực

Trung bình (độ lệch)

Phân loại mức độ stress

 
 

1

Lĩnh vực 1: Đối mặt với cái chết cải người bệnh

1.95 (0.6)

Thấp

 

2

Lĩnh vực 2: Mâu thuẫn với bác sĩ

1.6 (0.4)

Thấp

 

3

Lĩnh vực 3: Chưa chuẩn bị về mặt cảm xúc

1.7(0.5)

Thấp

 

4

Lĩnh vực 4: Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng

1.4 (0.4)

Thấp

 

5

Lĩnh vực 5: Các vấn đề liên quan đến người giám sát/ cấp trên

1.5(0.5)

Thấp

 

6

Lĩnh vực 6: Khối lượng công việc

1.6 (0.4)

Thấp

 

7

Lĩnh vực 7: Không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh

1.6 (0.5)

Thấp

 

8

Lĩnh vực 8: Người bệnh và gia định người bệnh

2.0(0.6)

Trung bình

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy 7 lĩnh vực từ 1 đến 7 có điểm trung bình dưới 2.0 được phân loại mực độ stress thấp. Lĩnh vực 8: Người bệnh và gia đình người bệnh có điểm trung bình 2.0 (0.6) được phân loại mức độ stress là trung bình.

 

  1. BÀN LUẬN
    1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
      1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới chiếm đa số 89.2%. Tỷ lệ này tương tự với một số nghiên cứu của Tăng Thị Hảo tại Bệnh viện Nhi tỉnh Thái Bình (86.2%) [2]. Nhóm Điều dưỡng trẻ có độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 67.6%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ngô Mạnh Cường tại hệ thống bệnh viện Vimec tỷ lệ điều dưỡng trong nhóm tuổi từ 31 đến 45 chiếm tỷ lệ cao nhất là 51.1% [1] .

Phần lớn đối tượng nghiện cứu có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm 58%. Kết quả này khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh tại Bệnh viện Bưu điện năm 2023 (82.3%) trình độ là cao đẳng và đại học [3] và trong nghiên cứu của Ali – Zera tại Iran năm 2022 cử nhân và thạc sĩ thì tỷ lệ cử nhân trong đạt 100% [6].

Thâm niên công tác của điều dưỡng trong nghiên cứu của chúng tôi tập trung trong trên 10 năm chiếm 80.1% chiếm tỷ lệ cao so với kết quả trong nghiên cứu Ngô Mạnh Cường có thâm niên công tác trên 5 năm là 78.8% [1].

Nghiên cứu này cũng phân loại đối tượng theo 4 khối lâm sàng, trong đó tỷ lệ điều dưỡng cao nhất thuộc khối Nội chiếm 43.2%. Trong nghiên cứu của Ali – Reza  tại Iran năm 2022 đối tượng nghiên cứu thuộc 8 khoa lâm sàng và văn phòng trong đó điều dưỡng thuộc khoa Nội khoa nam tham gia nghiên cứu nhiều nhất 20% [6].

      1. Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 83% điều dưỡng trực từ 1 đến 5 ngày mỗi tháng. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Bưu điện năm 2023, khi chỉ có 73% điều dưỡng có số buổi trực trong tháng ≤ 6 [14]. 23.3% đối tượng tham gia có kiêm nhiệm công việc khác. Tỷ lệ này thấp hơn so với kết quả năm 2018 tại Bệnh viện Y Dược TP. Hồ Chí Minh, nơi có đến 48,9% điều dưỡng phải kiêm nhiệm [7].

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 39,8% điều dưỡng tham gia làm thêm ngoài giờ, cao hơn so với nghiên cứu của Tăng Thị Hảo tại Bệnh viện Nhi Thái Bình, nơi chỉ có 9 điều dưỡng (6.2%) làm thêm ngoài giờ [2].

Đặc biệt, có đến 94.9% điều dưỡng tham gia nghiên cứu cho rằng mức lương hiện tại phản ánh đúng công sức mà họ đã bỏ ra. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Lâm Minh Quang tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, khi tỷ lệ này là 82.7% [7].

    1. Thực trạng stress của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa Hưng Yên

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ điều dưỡng bị stress ở mức độ trung bình chiếm 26.7%. Con số này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh và cộng sự tại Bệnh viện Bưu điện năm 2023, khi tỷ lệ này lên đến 48.1% [14]. Sự chênh lệch có thể do cỡ mẫu của nghiên cứu Nguyễn Thùy Linh lớn hơn, với 322 điều dưỡng tham gia. Ngoài ra, Bệnh viện Bưu điện tại Hà Nội có lượng bệnh nhân đông hơn, dẫn đến áp lực công việc và môi trường làm việc cao hơn so với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên.

Điểm trung bình stress của điều dưỡng trong nghiên cứu này là 91.23 ± 23.7 xếp vào mức độ stress thấp. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Ali-Zera vào năm 2022 trên 155 điều dưỡng, với điểm trung bình căng thẳng nghề nghiệp là 2.77 (0.54), tương đương mức stress trung bình [24]. Mức độ stress của điều dưỡng trong lĩnh vực đối mặt với cái chết của người bệnh.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong 8 lĩnh vực thì 7 lĩnh vực từ 1 đến 7 đều phân loại mức stress thấp, chỉ có lĩnh vực 8: Người bệnh và gia đình người bệnh là phân loại mức stress trung bình. Kết quả nghiên cứu tương đồng với kết quả nghiên cứu của Tăng Thị Hảo tại bệnh viện Nhi tỉnh Thái Bình băm 2018 cho kết quả điểm trung bình là 2.11 (0.26) xếp lại trung bình [2].

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy 26.7% có tình trạng stress với mức độ mức độ trung bình. Trong 8 lĩnh vực được khảo sát, 7 lĩnh vực có mức độ stress thấp bao gồm: Đối mặt với cái chết, Mâu thuẫn với bác sĩ, Thiếu chuẩn bị về mặt cảm xúc, Quan hệ đồng nghiệp, Quan hệ với cấp trên, Quyết định trong tình huống căng thẳng, Thiếu chắc chắn về hướng điều trị có mức độ stress thấp. Lĩnh vực: Vấn đề liên quan đến người bệnh và gia đình người bệnh có mức độ stress trung bình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Mạnh Cường , Nguyễn Thị Hoa Huyền và cộng sự (2023). Khảo sát mức độ áp lực công việc của điều dưỡng viên làm việc trong hệ thống y tế Vinmec. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, Tập 6 - số 5, pp. 128 - 134.

2. Tăng Thị Hảo (2019). Thực trạng stress của Điều dưỡng tại bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

3. Nguyễn Thị Thùy Linh và cộng sự (2023). Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp của Điều dưỡng tại Bệnh viện Bưu điện năm 2023. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, Tập 06 - Số 06 (2023), pp. 6 - 14.

4. Lâm Minh Quang và cộng sự (2019). Stress và các yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng tại bệnh viện Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 23* số 2* 2019, pp. 279 - 285.

5. Vũ Văn Thành, Thân Thị Bình (2022). Thực trạng stress của điều dưỡng viên tại Trung tâm Y tế huyện Cao Lộc tỉnh lạng Sơn năm 2022. Nghiên cứu khoa học, pp. 6-14.

6. Babapour A.-R., Gahassab-Mozaffari N. , Fathnezhad-Kazemi A. (2022). Nurses’ job stress and its impact on quality of life and caring behaviors: a cross-sectional study. BMC nursing, 21 (1), pp. 75.

7. Isfort M. (2013). Influence of personnel staffing on patient care and nursing in German intensive care units. Descriptive study on aspects of patient safety and stress indicators of nursing. Medizinische Klinik, Intensivmedizin und Notfallmedizin, 108 (1), pp. 71-77.

8. Okuhara M., Sato K. , Kodama Y. (2021). The nurses’ occupational stress components and outcomes, findings from an integrative review. Nursing open, 8 (5), pp. 2153-2174.

9. Shirey M. R. (2006). Stress and coping in nurse managers: two decades of research. Nursing Economic, 24 (4).


Tin liên quan

Tin mới