TỰ NHẬN THỨC VỀ STRESS VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tự nhận thức về stress, nhu cầu hỗ trợ tâm lý và mô tả một số yếu tố liên quan tự nhận thức về stress, nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 241 người bệnh. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi Perceived Stress Scale (PSS-10) và Supportive Care Needs Survey Short Form (SCNS-SF34). Kết quả: Tỷ lệ tự nhận thức về stress của người bệnh ung thư mức độ nặng, vừa và nhẹ lần lượt là 37,8%, 35,7% và 26,5%. Ba nhu cầu chiếm tỷ lệ cao nhất là nhu cầu hỗ trợ vì cảm thấy chán nản 89,2%, xuống tinh thần; giữ tinh thần tích cực, lạc quan 81,3% và những lo âu của người thân 80,5%. Có 88,0% người bệnh có trên 8 nhu cầu. Các yếu tố người chăm sóc chính, phương pháp điều trị, thời gian mắc bệnh, nhu cầu hỗ trợ tâm lý có mối liên quan đến tự nhận thức stress. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tự nhận thức về stress với nhu cầu hỗ trợ tâm lý (p < 0,05).

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của việc cung cấp hỗ trợ tâm lý toàn diện cho người bệnh ung thư tại các cơ sở y tế.

Từ khóa: Ung thư, tự nhận thức stress, nhu cầu hỗ trợ tâm lý, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh.

SUMMARY

Objective: Determine the rate of self-awareness of stress, psychological needs and describe some factors related to self-awareness of stress, psychological needs of inpatient cancer patients at Tra Vinh Provincial General Hospital in 2024.

Method: Cross-sectional descriptive study on 241 patients. Data were collected through the Perceived Stress Scale (PSS-10) and Supportive Care Needs Survey Short Form (SCNS-SF34).

Results: The rate of self-awareness of stress among patients with severe, moderate and mild cancer was 37.8%, 35.7% and 26.5%, respectively. The three needs with the highest proportion were the need for support due to feeling depressed 89.2%, low morale; maintaining a positive, optimistic spirit 81.3% and worries of relatives 80.5%. There are 88.0% of patients with over 8 needs. Factors such as primary caregiver, treatment method, duration of illness, and psychological needs were related to self-awareness of stress. The study found a statistically significant association between self-awareness of stress and psychological needs (p < 0.05).

Conclusion: The study shows the need to provide comprehensive psychological support for cancer patients in healthcare settings.

Keywords: Cancer, self-awareness of stress, psychological needs, Tra Vinh General Hospital.

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trên toàn cầu, với hàng triệu ca mới mắc và tử vong mỗi năm [13]. Ở Việt Nam, ung thư là một trong những thách thức y tế hàng đầu, số người mắc ung thư là 180.480 (2022) [14]. Ước tính hàng năm, Việt Nam có 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư. Cứ 100.000 người thì có 159 người mắc mới ung thư và 106 người tử vong do ung thư [11].

Những nghiên cứu chỉ ra rằng [4], [12], ung thư có thể gây ra đau khổ tâm lý đáng kể cũng như rối loạn sức khỏe tâm thần cho người bệnh [2], [3]. Hầu hết, người bệnh đều cảm thấy khó chấp nhận khi được chẩn đoán ung thư. Họ có thể rơi vào trạng thái tâm lý căng thẳng, lo âu, sợ hãi. Căng thẳng khiến người bệnh gặp nhiều khó khăn trong điều trị bệnh, vấn đề này có thể dẫn đến các triệu chứng thực thể như nhịp tim tăng, đổ mồ hôi và khó ngủ [2], [6]. Với những tác động của tâm lý đến người bệnh ung thư thì nhu cầu hỗ trợ về các vấn đề tâm lý hình thành từ đây [5], [9].

Ung thư không chỉ tác động đến sức khỏe thể chất mà còn gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của người bệnh. Stress do ung thư có thể gây ra các triệu chứng lo âu, trầm cảm và suy giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình điều trị và hồi phục của người bệnh. Mặc dù vậy, nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư vẫn chưa được chú trọng đúng mức tại Việt Nam, đặc biệt là tại các tỉnh nhỏ, đang phát triển.Việc nghiên cứu về tự nhận thức stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý hiệu quả, nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc cho người bệnh ung thư. Nghiên cứu này tập trung vào người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024. Với mục tiêu nghiên cứu sau.

1. Xác định tỷ lệ tự nhận thức về stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024.

2.  Mô tả một số yếu tố liên quan đến tự nhận thức stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh ung thư điều trị tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh trong năm 2024.

Tiêu chí chọn vào: Người bệnh ung thư điều trị nội trú tại khoa Ung bướu, đồng ý tham gia nghiên cứu. Có khả năng nghe nói tiếng Việt.

Tiêu chí loại ra: Người bệnh đang trong tình trạng hôn mê hoặc cấp cứu.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 5/2024 đến tháng 7/2024, Khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh.

2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Được tính toán dựa trên công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể, với sai số cho phép là 6%. Tỷ lệ người bệnh ung thư có nhu cầu hỗ trợ tâm lý được ước tính là 34,2% từ nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Ánh [1]. Cỡ mẫu là 241 người bệnh.

- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền.

Thông tin, đặc điểm đối tượng nghiên cứu gồm 14 câu hỏi.

Thang đo căng thẳng cảm nhận Perceived Stress Scale PSS-10 (PSS-10): Thang đo có 10 câu hỏi đánh giá mức độ stress của người bệnh trong các tình huống hàng ngày. Thang đo được chuẩn hóa tại Việt Nam với Cronbach's alpha là 0,8. Mỗi câu hỏi được đánh giá bằng thang đo Likert 4, với 0 = Không bao giờ, 1=Hầu như không bao giờ, 2=Đôi khi, 3=Khá thường xuyên, 4=Rất thường xuyên. Cách tính điểm: nhẹ (14-19 điểm)/ vừa (20-25 điểm)/ nặng (26-40 điểm) [10], [12].

Khảo sát nhu cầu chăm sóc hỗ trợ dạng ngắn Supportive Care Needs Survey Short form (SCNS-SF34): Thang đo này gồm 34 câu hỏi, trong đó 10 câu hỏi thuộc lĩnh vực nhu cầu hỗ trợ tâm lý, sử dụng thang Likert 5 mức độ từ 1 (không có nhu cầu) đến 5 (nhu cầu cao). Nhu cầu tâm lý báo cáo giá trị Cronbach's alpha lần lượt là 0,883. Tính điểm: Chia làm 2 mức: Có từ 8 nhu cầu trở lên và có dưới 8 nhu cầu. Ở mỗi nhu cầu nếu người bệnh chọn 1 hoặc 2 là không có nhu cầu ở vấn đề đó, trường hợp người bệnh chọn một trong ba đáp án 3, 4 và 5 thì được xem là có nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở vấn đề đó [7].

Thu thập số liệu:

Bước 1: Liên hệ trước với khoa Ung bướu bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh, trình bày về việc thực hiện lấy mẫu toàn bộ dựa trên tiêu chí chọn vào loại ra, trên cỡ mẫu đã tính. Thực hiện lấy mẫu.

Bước 2: ĐTV chào hỏi, giới thiệu bản thân, giải thích về mục đích thực hiện nghiên cứu. Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn.

Bước 3: Tạo một không gian thoải mái giúp cho đối tượng tập trung trả lời chính

xác câu hỏi khảo sát.

Bước 4: Sau khi hoàn thành phỏng vấn, kiểm tra lại phiếu khảo sát.

Bước 5: Cảm ơn đối tượng đã hỗ trợ cung cấp thông tin cho nghiên cứu.

2.6. Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các phương pháp thống kê mô tả (tần suất, phần trăm, trung bình) được sử dụng để mô tả các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và kết quả chính. Các kiểm định Chi bình phương được áp dụng để kiểm tra mối liên quan giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với tự nhận thức stress, nhu cầu hỗ trợ tâm lý.

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu: Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Trà Vinh theo QĐ số 206 ngày 29 tháng 04 năm 2024. Nghiên cứu cũng được sự chấp thuận của Hội đồng Khoa học, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh.

3. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên 241 người bệnh, với độ tuổi trung bình là 58,94±14,32. Trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ là 56,0%. Trong đó, nữ giới chiếm tỷ lệ 53,5%. Phần lớn người bệnh sống ở khu vực nông thôn (79,7%) và sinh sống bằng nghề nông (44,4%). Về trình độ học vấn, nhóm người bệnh có trình độ từ lớp 1-5 chiếm tỷ lệ cao nhất 49,4%. Đa số người bệnh tham gia nghiên cứu đã kết hôn với tỷ lệ 85,9%. Người chăm sóc chính chiếm tỷ lệ cao nhất là con cái với 56,8%. Tỷ lệ các bệnh ung thư khác (bàng quang, cột sống, da,...) chiếm tỷ lệ 41,9%, tiếp đến là ung thư đường tiêu hóa 24,9% và thấp nhất là ung thư vú 3,7%. Phần lớn người bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế tỷ lệ 95,4%. Điều trị bằng thuốc được sử dụng ở hầu hết người bệnh với 95,0%. Về bệnh lý nền, có 43,2% người bệnh tham gia nghiên cứu có bệnh tăng huyết áp, 34,0% bị đái tháo đường, 19,5% bị trào ngược dạ dày và 22,8% mắc các bệnh lý nền khác. Người bệnh tham gia nghiên cứu nằm trong nhóm mắc bệnh từ 1-3 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 44,0%. Hầu hết người bệnh đều có sự thay đổi trên cơ thể với tỷ lệ chiếm 90,0%.

3.2. Tỷ lệ tự nhận thức về stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý

 

Bảng 1. Mức độ Stress của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Mức độ stress

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Nhẹ

Vừa

Nặng

Điểm trung bình

64

86

91

21,85 ± 7,66

26,5

35,7

37,8

Sự tự nhận thức về stress của người bệnh ở mức độ nặng 37,8% đang chiếm tỷ lệ cao hơn không nhiều so với mức độ vừa 35,7% và cao hơn khá nhiều so với mức độ nhẹ là 26,5%. Điểm trung bình là 21,85 ± 7,66.

 

Bảng 2. Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý

Tần số (%)

Không có nhu cầu

Thỏa

mãn

Nhu cầu thấp

Nhu cầu vừa phải

Nhu cầu cao

Lo âu rằng kết quả của điều trị là ngoài tầm kiểm soát

38 (15,8)

35 (14,5)

60 (24,9)

64 (26,5)

44 (18,3)

Lo ngại bệnh trầm trọng hơn

27 (11,2)

30 (12,4)

54 (22,4)

93 (38,6)

37 (15,4)

Lo âu về nhiều vấn đề

15 (6,2)

38 (15,8)

31 (12,8)

127 (52,7)

30 (13,5)

Những lo âu của người thân

9 (3,7)

38 (15,8)

54 (22,4)

104 (43,2)

36 (14,9)

Cảm thấy xuống tinh thần hay chán nản

12 (5,0)

14 (5,8)

49 (20,3)

80 (33,2)

86 (35,7)

Giữ một tinh thần tích cực lạc quan

11 (4,6)

34 (14,1)

57 (23,6)

98 (40,7)

41 (17,0)

Cảm thấy buồn

35 (14,5)

24 (10,0)

102 (42,3)

43 (17,8)

37 (15,4)

Không tin tưởng vào tương lai

26 (10,8)

39 (16,2)

75 (31,1)

68 (28,2)

33 (13,7)

Học cách kiểm soát vấn đề của bản thân

28 (11,6)

53 (22,0)

51 (21,2)

74 (30,7)

35 (14,5)

Cảm giác về cái chết và hấp hối

88 (36,5)

61 (25,3)

34 (14,1)

44 (18,3)

14 (5,8)

* Điểm trung bình: 32,64 ± 8,41

Trong 10 nhu cầu có 3 nhu cầu hỗ trợ tâm lý mà nhiều người bệnh cần nhất là nhu cầu hỗ trợ vì cảm thấy chán nản, xuống tinh thần, nhu cầu hỗ trợ giữ tinh thần tích cực, lạc quan và nhu cầu hỗ trợ vì những lo âu của người thân với tỉ lệ lần lượt là 89,2%, 81,3% và 80,5%.

 

Bảng 3. Tỷ lệ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Từ 8 nhu cầu trở lên

Dưới 8 nhu cầu

212

29

88,0

12,0

Đa số người bệnh tham gia nghiên cứu có từ 8 nhu cầu hỗ trở lên với 88,0% người bệnh có nhu cầu, tỷ lệ này là 12,0% ở người bệnh có dưới 8 nhu cầu.

3.3. Một số yếu tố liên quan với tự nhận thức stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý

 

Bảng 4. Mối liên quan giữa tình trạng stress với các yếu tố đặc điểm cá nhân

của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Đặc điểm

Tình trạng stress

PR*

(CI 95%)

p-value

Vừa và nặng

n (%)

Nhẹ

n (%)

Người chăm sóc chính

Cha/ Mẹ

Vợ/Chồng

 

Con cái

 

Anh/ Chị/ Em

 

Khác

 

12 (100,0)

51 (70,8)

 

108 (78,8)

 

1 (10,0)

 

5 (50,0)

 

0 (0,0)

21 (29,2)

 

29 (21,2)

 

9 (90,0)

 

5 (50,0)

 

 

1

0,71

(0,38 – 1,33)

0,79

(0,43 – 1,43)

0,10

(0,01 – 0,77)

0,5

(0,18 – 1,42)

 

 

1

0,282

 

0,434

 

0,027

 

0,193

Điều trị hóa trị

Không

 

144 (80,9)

33 (52,4)

 

34 (19,1)

30 (47,6)

 

0,65

(0,44 – 0,95)

 

0,024

Thời gian mắc bệnh

< 1 năm

1-3 năm

 

3-5 năm

 

> 5 năm

 

49 (55,7)

89 (84,0)

 

22 (78,6)

 

17 (89,5)

 

39 (44,3)

17 (16,0)

 

6 (21,4)

 

2 (10,5)

 

 

1

1,51

(1,06 – 2,14)

1,41

(0,85 – 2,33)

1,61

(0,93 – 2,79)

 

 

1

0,021

 

0,180

 

0,092

 

* Chỉ số hiện mắc  

Người chăm sóc chính của đối tượng nghiên cứu là cha/mẹ có tỷ lệ tự nhận thức stress ở mức vừa và nặng là 100,0% tỷ lệ này ở nhóm người bệnh có người chăm sóc chính là anh/chị/em chiếm 10%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,027 <0,05. Tỷ lệ tự nhận thức stress ở mức độ vừa và nặng ở người bệnh không tiếp nhận phương pháp hóa trị là 80,9%, tỷ lệ này là 52,4% ở những người bệnh hóa trị, thấp hơn 0,65 lần. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,024 < 0,05. Nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian mắc bệnh dưới 1 năm có 55,7% tự nhận thức stress, ở nhóm có thời gian mắc bệnh từ 1-3 năm tỷ lệ này là 84,0%, cao  hơn 1,51 lần. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,021 < 0,05.

 

Bảng 5. Mối liên quan giữa tình trạng stress với các nhu cầu hỗ trợ tâm lý

của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý

Tình trạng stress

PR*

(CI 95%)

p-value

Vừa và nặng

n (%)

Nhẹ

n (%)

Lo âu rằng kết quả của điều trị là ngoài tầm kiểm soát

Không

 

 

1 (2,6)

176 (86,7)

 

 

37 (97,4)

27 (13,3)

 

 

32,95

(4,62 – 23,19)

 

 

<0,001

Lo ngại bệnh trầm trọng hơn

Không

 

1 (3,7)

176 (82,2)

 

26 (96,3)

38 (17,8)

 

22,21

(3,11 – 158,52)

 

0,002

Lo âu về nhiều vấn đề

Không

 

0 (0,0)

177 (78,3)

 

15 (100,0)

49 (21,7)

 

#

(#-#)

 

0,980

Những lo âu của người thân

Không

 

1 (11,1)

176 (75,9)

 

8 (88,9)

56 (24,1)

 

6,83

(0,96 – 48,74)

 

0,055

Cảm thấy, xuống tinh thần hay chán nản

Không

 

 

3 (25,0)

174 (76,0)

 

 

9 (75,0)

55 (24,0)

 

 

3,04

(0,97 – 9,52)

 

 

0,056

Giữ một tinh, thần tích cực lạc quan

Không

 

 

1 (9,1)

176 (76,5)

 

 

19 (90,9)

54 (23,5)

 

 

8,42

(1,18 – 60,09)

 

 

0,034

Cảm thấy buồn

Không

 

2 (5,7)

175 (85,0)

 

33 (94,3)

31 (15,0)

 

14,87

(3,69 – 59,91)

 

<0,001

 

Không tin tưởng vào tương lai

Không

 

1 (3,8)

176 (81,9)

 

25 (96,2)

39 (18,1)

 

21,28

(2,98 – 151,94)

 

0,002

Học cách, kiểm soát vấn đề của bản thân

Không

 

 

5 (18,9)

172 (80,8)

 

 

23 (82,1)

31 (19,2)

 

 

4,51

(1,86 – 11,00)

 

 

0,001

Cảm giác, về cái chết và hấp

Không

 

55 (62,5)

122 (79,7)

 

33 (37,5)

31 (20,3)

 

1,28

(0,93 – 1,75)

 

0,134

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý chung

Dưới 8 nhu cầu

Từ 8 nhu cầu trở lên

 

1 (3,5)

176 (83,0)

 

28 (96,5)

36 (17,0)

 

24,08

(3,37 – 181,87)

 

0,002

* Chỉ số hiện mắc   

 

             Người bệnh có các nhu cầu hỗ trợ về lo âu rằng kết quả điều trị ngoài tầm kiểm soát; hỗ trợ về lo ngại bệnh trầm trọng hơn; giữ tinh thần tích cực, lạc quan; cảm thấy buồn; hỗ trợ về không tin tưởng vào tương lai; hỗ trợ học cách kiểm soát vấn đề của bản thân có tỷ lệ tự nhận thức về stress ở mức vừa và nặng cao hơn nhóm không có nhu cầu từ 1,28 – 32,95 lần. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ tự nhận thức stress ở mức độ vừa và nặng ở người bệnh có dưới 8 nhu cầu hỗ trợ tâm lý là 3,5%, tỷ lệ này là 83,0% ở những người bệnh có trên 8 nhu cầu. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,002 < 0,05.

 

Bảng 6. Mối liên quan giữa nhu cầu hỗ trợ tâm lý với các yếu tố đặc điểm

 cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n=241)

Đặc điểm

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý

PR*

(CI 95%)

p-value

Từ 8 nhu cầu trở lên

n (%)

Dưới 8

nhu cầu

n (%)

Mức độ tự nhận thức stress

Nhẹ

Vừa

 

Nặng

 

36 (56,3)

85 (98,8)

 

91 (100,0)

 

28 (43,7)

1 (1,2)

 

0 (0,0)

 

1

1,76

(1,19 – 2,59)

1,78

(1,21 – 2,62)

 

1

0,005

 

0,003

 * Chỉ số hiện mắc  

           Tìm thấy mối liên quan giữa mức độ tự nhận thức stress với nhu cầu hỗ trợ tâm lý. Với 98,8% người bệnh mức độ nhận thức stress nhẹ vừa có nhu cầu, cao gấp 1,76 lần nhóm mức độ nhẹ, với p = 0,005. Tỷ lệ này ở nhóm đối tượng nghiên cứu có mức độ nặng là 100,0% với p=0,003.

 

4. BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ tự nhận thức về stress của người bệnh ung thư

         Người bệnh ung thư tham gia nghiên cứu có tỷ lệ tự nhận thức về stress ở mức độ nặng 37,8%, vừa 35,7% và nhẹ là 26,5%, điểm trung bình 21,84 ± 7,66. So sánh với nghiên cứu của Lưu Thị Trang Ngân [8] với các mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng của stress với tỷ lệ tương ứng là 9,1%, 6,0%, 2,5%, 0,9%, được đánh giá bằng bộ câu hỏi DASS-21. Nghiên cứu của tác giải Nguyễn Thị Hoa Huyền [4] với điểm trung bình 14,37 ± 5,16 được đánh giá bằng PSS-10. Kết quả sự khác biệt này có thể do đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi có đặc điểm khác biệt như giới tính, độ tuổi, loại ung thư, điều này có thể ảnh hưởng đến tình trạng tâm lý, mức độ tự nhận thức. Công cụ đánh giá stress có thể khác nhau, dẫn đến sự khác biệt trong kết quả. Các yếu tố trình độ, khu vực sinh sống có thể ảnh hưởng đến cách mà người bệnh nhận thức và báo cáo về stress. Một số nơi khái niệm stress và sự chấp nhận stress vẫn còn khá mới mẻ. Vì vậy cần có các chương trình can thiệp tâm lý, giúp người bệnh nhận diện và quản lý stress hiệu quả hơn, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

4.2. Tỷ lệ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư

Với 10 nhu cầu hỗ trợ tâm lý thì 3 nhu cầu hỗ trợ tâm lý nhiều người bệnh cần nhất là nhu cầu hỗ trợ vì cảm thấy chán nản, xuống tinh thần, nhu cầu hỗ trợ giữ tinh thần tích cực, lạc quan và nhu cầu hỗ trợ vì những lo âu của người thân với tỉ lệ lần lượt là 89,2%, 81,3% và 80,5%. Đa số người bệnh tham gia nghiên cứu có từ 8 nhu cầu hỗ trở lên với 88,0% người bệnh có nhu cầu, điểm trung bình 32,64 ± 8,41. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Bingshuang Wang [9] và cộng sự là 23,62 ± 8,53. Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của Bingshuang Wang [9] sử dụng phương pháp phỏng vấn còn nghiên cứu của chúng tôi là phương pháp khảo sát. Điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong phân tích dữ liệu. Kích thước cỡ mẫu khác biệt và đặc điểm của mẫu có thể khác nhau tuổi, giới tính, tình trạng bệnh, địa lý (Việt Nam và Trung Quốc). Nghiên cứu được thực hiện trong các khoảng thời gian khác nhau có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như đại dịch, thay đổi trong chính sách y tế, hoặc sự phát triển của dịch vụ tâm lý. Tại Việt Nam, các hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý còn mới mẻ, người bệnh chưa tiếp xúc nhiều với các dịch vụ này, từ đó các nhu cầu tâm lý chưa được đáp ứng nhiều hơn.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư

4.3.1. Một số yếu tố liên quan đến tự nhận thức về stress của người bệnh ung thư

         Qua nghiên cứu, những yếu tố liên quan đến tự nhận thức về stress của người bệnh ung thư được ghi nhận như người chăm sóc chính, phương pháp điều trị, thời gian mắc bệnh, một số nhu cầu hỗ trợ tâm lý: lo lắng về kết quả điều trị ngoài tầm kiểm soát, lo ngại bệnh trầm trọng hơn, nhu cầu giữ tinh thần lạc quan, cảm thấy buồn, không tin tưởng vào tương lai, học cách kiểm soát vấn đề của bản thân. Trong quá trình tìm kiếm nghiên cứu trước đó để tiến hành so sánh, chúng tôi nhận thấy chưa có nghiên cứu, bài báo công bố về các yếu tố liên quan sự tự nhận thức về stress của người bệnh ung thư.

         Người mắc bệnh ung thư có anh/ chị/ em là người chăm sóc chính có liên quan đến sự tự nhận thức stress ở mức vừa và nặng thấp hơn so với những người có người chăm sóc chính là cha/mẹ. Anh/chị/em thường có độ tuổi gần với người bệnh hơn so với cha/mẹ, điều này có thể giúp họ hiểu và đồng cảm sâu sắc hơn với những khó khăn mà người bệnh đang trải qua. Họ có thể chia sẻ nhiều điểm chung về lối sống, sở thích, và quan điểm sống, giúp việc hỗ trợ tinh thần và tạo ra một môi trường chăm sóc thoải mái hơn.

         Nhóm đối tượng có điều trị bằng phương pháp hóa trị có tỷ lệ tự nhận thức stress thấp hơn nhóm không hóa trị. Điều này có thể lý giải như sau, những người được hóa trị có nhiều hy vọng, niềm tin khỏi bệnh, nhận sự theo dõi chăm sóc thường xuyên của người nhà, nhân viên y tế do đó những đối tượng này sự tự nhận thức stress thường thấp hơn so với những người không được hóa trị. Những người này thường đối mặc với những lo lắng về việc không khỏi bệnh, phải đối mặt với căng thẳng thường xuyên.

         Nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian mắc bệnh dưới 1 năm có 55,7% tự nhận thức stress, ở nhóm có thời gian mắc bệnh từ 1-3 năm tỷ lệ này là 84,0% cao hơn 1,51 lần. Lý giải điều này, ta thấy rằng người bệnh từ 1-3 năm có sự trải nghiệm về bệnh tật nhiều hơn, tích lũy nhiều lo lắng, căng thẳng hơn, đồng thời tình trạng bệnh nặng hơn. Từ đó sự tự nhận thức về stress cao hơn nhóm người bệnh dưới 1 năm.

         Người bệnh có các nhu cầu hỗ trợ về lo âu rằng kết quả điều trị ngoài tầm kiểm soát; hỗ trợ về lo ngại bệnh trầm trọng hơn; giữ tinh thần tích cực, lạc quan; cảm thấy buồn; hỗ trợ về không tin tưởng vào tương lai; hỗ trợ học cách kiểm soát vấn đề của bản thân có tỷ lệ tự nhận thức về stress ở mức vừa và nặng cao hơn nhóm không có nhu cầu từ 1,28 – 32,95 lần. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ tự nhận thức stress ở mức độ vừa và nặng ở người bệnh có dưới 8 nhu cầu hỗ trợ tâm lý là 3,5% thấp hơn 24,08 lần so với tỷ lệ 83,0% ở những người bệnh có trên 8 nhu cầu. Những người bệnh có nhiều nhu cầu hỗ trợ tâm lý có thể đã trải qua một loạt các vấn đề và cảm xúc khác nhau liên quan đến bệnh tật, làm gia tăng cảm giác căng thẳng và lo âu. Mỗi nhu cầu không được đáp ứng có thể đóng góp vào mức độ stress cao hơn. Những đối tượng có trên 8 nhu cầu hỗ trợ tâm lý có thể cảm thấy áp lực và bất an lớn hơn vì họ phải đối mặt với nhiều vấn đề đồng thời. Sự cảm nhận về nhiều vấn đề không được giải quyết có thể làm tăng mức độ stress của họ. Người bệnh có nhiều nhu cầu hỗ trợ tâm lý có thể cảm thấy không đủ sự hỗ trợ và nguồn lực cần thiết để đối phó với bệnh tật và các vấn đề liên quan. Điều này có thể dẫn đến việc họ cảm thấy lo lắng, căng thẳng hơn. 

4.3.2. Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư

         Tỷ lệ người bệnh tự nhận thức stress mức độ nhẹ có trên 8 nhu cầu hỗ trợ tâm lý thấp hơn 1,76 lần so với nhóm tự nhận thức stress mức độ vừa và 1,78 lần so với nhóm ở mức độ nặng. Lý giải điều này ta thấy rằng, người bệnh có mức độ tự nhận thức stress nhẹ thường cảm thấy ít áp lực và lo lắng hơn, do đó, họ có thể không cảm thấy cần nhiều sự hỗ trợ tâm lý, không nhận thức đầy đủ về mức độ ảnh hưởng của stress, hoặc cho rằng bản thân có thể tự quản lý được stress mà không cần sự hỗ trợ thêm. Nhóm người bệnh trải qua mức độ stress cao hơn, thường cảm thấy lo lắng, căng thẳng và áp lực nhiều hơn, do đó họ có nhu cầu cao hơn về sự hỗ trợ tâm lý để giúp quản lý stress, họ nhận thức rõ ràng hơn về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của mình, vì họ cảm thấy stress ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và sức khỏe tâm lý của họ.

5.  KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã xác định tỷ lệ tự nhận thức stress và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh ung thư tham gia nghiên cứu khá cao. Tìm thấy một số đặc điểm có mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Cho thấy sự cần thiết của việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý toàn diện cho người bệnh ung thư tại các cơ sở y tế.

Qua những phát hiện từ kết quả nghiên cứu, tôi đề xuất những nội dung như sau: Đối với Bệnh viện: Tích hợp hỗ trợ tâm lý vào chăm sóc y tế: Tích hợp dịch vụ hỗ trợ tâm lý vào quy trình chăm sóc người bệnh. Đào tạo nhân viên y tế về tầm quan trọng của sức khỏe tâm lý. Cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp. Đối với nhân viên y tế tại Khoa Ung bướu: Thành lập các nhóm hỗ trợ để người bệnh chia sẻ kinh nghiệm và cảm xúc. Phát triển và áp dụng các phương pháp điều trị hỗ trợ, liệu pháp giải tỏa căng thẳng dựa vào yếu tố tinh thần và liệu pháp nghệ thuật. Nghiên cứu và cải tiến dịch vụ hỗ trợ tâm lý: Tiến hành nghiên cứu định kỳ để đánh giá và cải tiến dịch vụ hiện tại. Thu thập và phân tích phản hồi từ người bệnh để cải thiện dịch vụ. Đối với người bệnh và gia đình người bệnh: Giúp người bệnh tăng cường nhận thức và kiểm soát stress. Vai trò của gia đình và người chăm sóc chính trong hỗ trợ tâm lý cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phạm Ngọc Ánh (2021) “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại trung tâm ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan ”, Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng, 5(02), 31–40.
  2. Bộ Y tế (2019) Kiểm soát chứng trầm cảm ở người bệnh ung thư, https://moh.gov.vn/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/asset_publisher/kiem-soat-chung-tram-cam-o-nguoi-benh-ung-thu
  3. Bộ Y tế (2021) Tình hình ung thư tại Việt Nam, https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-diaphuong//asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/tinh-hinh-ung-thu-tai-viet-nam
  4. Nguyễn Thị Hoa Huyền, “Mức độ căng thẳng và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mắc ung thư điều trị ở một số Bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 530(2), 328-333.
  5. Phạm Minh Hạc, NXB Chính trị, Hà Nội (2004), Một số vấn đề nghiên cứu về nhân cách.
  6. Trần  Hiệp, NXB Khoa học xã hội (1997), Tâm lý học xã hội, những vấn đề lý luận.
  7. Lê Văn Mẫn (2021) “Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân phong và khả năng đáp ứng của khu điều trị bệnh phong, Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2021”, Tạp Chí Y học Dự phòng, 31(9), 126–133.
  8. Lưu Thị Trang Ngân (2023) “Tâm lý và chất lượng cuộc sống người bệnh ung thư dạ dày sau truyền hóa chất tại Viện Ung thư Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108”, Tạp Chí Sinh Lý học Việt Nam, 27(2)
  9. Bingshuang Wang, Xinyan Hu, Wanzhen Ding et al. Supportive Care Needs and Quality of Life among Cancer Patients in China: A Cross-sectional Study, 12 May 2024, PREPRINT (Version 1) available at Research Square, https://doi.org/10.21203/rs.3.rs-4369003/v1
  10. Dao-Tran, T. H., Anderson, D., & Seib, C. (2017). The Vietnamese version of the Perceived Stress Scale (PSS-10): Translation equivalence and psychometric properties among older women. BMC psychiatry, 17(1), 53. https://doi.org/10.1186/s12888-017-1221-6
  11. Globocan (2022), Viet Nam, https://gco.iarc.who.int/media/globocan/factsheets/populations/704-viet-nam-fact-sheet.pdf
  12. Soria-Reyes, L. M., Cerezo, M. V., Alarcón, R., & Blanca, M. J. (2023). Psychometric properties of the perceived stress scale (pss-10) with breast cancer patients. Stress and health : journal of the International Society for the Investigation of Stress, 39(1), 115–124. https://doi.org/10.1002/smi.3170
  13. World Health Organization (2018), Cancer, https://www.who.int/en/news-room/fact- sheets/detail/cancer
  14. World Health Organization (2023), Fact sheet polution countries, https://gco.iarc.fr/today/en/fact-sheets-populations#countries

 

 


Tin mới