NHẬN XÉT HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU BẰNG KEM EMLA 5% KHI ĐẶT ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH TĨNH MẠCH NGOẠI VI Ở TRẺ TRÊN 5 TUỔI TẠI KHOA NỘI NHI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN E

Kem Emla 5% cho thấy hiệu quả rõ rệt trong giảm đau khi đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ trên 5 tuổi tại Bệnh viện E. Nghiên cứu trên 59 bệnh nhi ghi nhận nhóm được can thiệp có điểm đau thấp hơn đáng kể so với nhóm không can thiệp, với hiệu quả giảm đau đạt 93,1%. Tuy vậy, để đạt tác dụng tối ưu, thời gian ủ tê trung bình cần khoảng 43 phút.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá mức độ giảm đau của kem Emla 5% khi đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ trên 5 tuổi.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng thang đo đau bằng số (Numberical Pain Rating ScaleNPRS) để đánh giá điểm đau của 59 trẻ trên 5 tuổi điều trị tại khoa Nội nhi tổng hợp, Bệnh viện E. Thời gian từ tháng 1/2024 đến 10/2024. Thông tin nghiên cứu được thu thập bằng phần mềm RedCap bảo đảm bảo mật, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và được sự đồng ý tham gia của bố mẹ trẻ.

Kết quả: Điểm đau của nhóm trẻ có can thiệp là 1,72 ± 1,81 thấp hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm không can thiệp với điểm đau (3,83 ± 2,13) với p < 0,01. Hiệu quả giảm đau trên nhóm có can thiệp đạt 93,1% với thời gian ủ tê trung bình 43,11 ± 3,8 phút.

Kết luận: Sử dụng kem Emla 5% giảm đau tại chỗ khi can thiệp tĩnh mạch ngoại vi cho trẻ có hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cần trung bình 43 phút ủ tê để đạt hiệu quả giảm đau mong muốn.

Từ khóa: Trẻ em, giảm đau, gây tê, kem Emla 5%

ABSTRACT

Objective: Evaluation the pain relief of Emla 5% cream during peripheral intravenous catheter placement in children over 5 years of age.

Method: Cross-sectional descriptive study, using Numerical Pain Rating Scale (NPRS) to evaluate pain scores of 59 children over 5 years old treated at theDepartment of General Pediatric Medicine, E Hospital. From 1/2024 to 10/2024. Research information was collected using Redcap software, ensuring confidentiality that used only for research purposes. Children’s parents
agreed to participate.
Results: The pain score of the intervention group was (1,72 ± 1,81), significantly lower than that of the nonintervention group with pain score of (3,83 ± 2,13) with p < 0,01. The pain relief effect in the intervention group was 93,1% with an average anesthesia incubation time of 43,11 ± 3,8 minutes.
Conclusion: Using Emla 5% cream for local pain relief during peripheral vein intervention in children is effective. However, the procedure requires an average of 43 minutes of anesthesia to achieve the desired pain relief.
Keywords: Children, pain relief, anesthesia, Emla 5% cream

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

90% người bệnh (NB) đều cần đặt đường truyền tĩnh mạch nhằm lấy bệnh phẩm máu làm xét nghiệm hoặc đưa thuốc vào người bệnh thông qua đường máu. Quy trình đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi là một phương pháp luồn kim vào tĩnh mạch để lấy mẫu máu xét nghiệm, tiêm thuốc cấp cứu, thuốc kháng sinh một số thuốc khác hay truyền dịch nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch. Đây
cũng là một quy trình kĩ thuật rất quen thuộc đối với nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng. Tuy nhiên, đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ em thường gây đau, khó chịu dẫn đến sợ hãi và gặp nhiều khó khăn liên quan đến các hành vi chống đối, không hợp tác, để lại trải nghiệm không tốt cho người bệnh đặc biệt, với trẻ em. Khoảng 25% người trưởng thành mắc chứng sợ bệnh viện, né tránh dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ do trải nghiệm đau đớn khi tiêm chủng thời thơ ấu4,6. Tại Việt Nam đã có cơ sở y tế sử dụng ủ tê bằng kem Emla 5% cho người bệnh và chỉ ra hiệu quả rõ ràng trong việc giảm đau cho người bệnh2 . Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện với với mục tiêu: Đánh giá mức độ giảm đau của kem Emla 5% khi đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ trên 5 tuổi.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu:

Khoa Nội Nhi Tổng hợp, Bệnh viện E

2.2. Đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn
- Trẻ từ 5 tuổi trở lên có thể nhận biết chữ số
- Điều trị nội trú tại khoa Nhi tại Bệnh viện E
- Có chỉ định đặt đường truyền tĩnh mạch hoặc lấy máu xét nghiệm
- Gia đình đồng ý tham gia
Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ đang trong tình trạng nặng, cấp cứu, hôn mê
- Tiền sử dị ứng

2.2.2. Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 1/2024 đến tháng 10/2024

2.2.3. Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng

Cỡ mẫu: Cỡ mẫu lấy thuận tiện chia 2 nhóm: nhóm can thiệp và nhóm chứng. Quá trình thực hiện có 59 trẻ đủ điều kiện và đồng ý tham gia. Nhóm can thiệp có 29 trẻ; nhóm chứng 30 trẻ

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, trẻ từ 5 tuổi trở lên khi nhập viện có chỉ định lấy máu xét nghiệm hoặc đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi.

Phương pháp đánh giá: Tư vấn gia đình người bệnh về lựa chọn tham gia nghiên cứu, sử dụng kem Emla 5% gây tê tại chỗ. Ghi nhận thông số: nhịp tim, độ bão hoà oxy, nhiệt độ trước khi thực hiện thuật đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi và lấy máu xét nghiệm. Ủ tê bằng kem Emla 5% tại vùng da xác định đặt đường truyền trong thời gian từ 30 - 60 phút. Ghi nhận lại thông số: nhịp tim, nhiệt độ và độ bão hoà oxy sau khi thực hiện thủ thuật từ 15- 30 phút. Điền thông tin dữ liệu trên phần mềm RedCap. Sử dụng thang đo đau bằng số (Numberical Pain Rating Scale- NPRS) từ 1 đến 10 là thước đo mức độ đau của trẻ. Hiệu quả giảm đau đạt khi điểm đau từ 0-3 điểm; không đạt khi điểm đau từ 6-10 điểm. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tuổi trung bình của trẻ là 9,54 ± 3,09. Trong đó trẻ nam chiếm 62,7% và nữ chiếm 37,3%. Nhóm trẻ thừa cân chiếm 33,9%, thiếu cân chiếm 20,3%. Đa số trẻ mới nhập viện lần đầu chiếm 62%. Giữa 2 nhóm có sự tương đồng về độ tuổi, BMI và tiền sử nhập viện điều trị.

Bảng 3.2. Điểm đau và mức độ đau của 2 nhóm: nhóm can thiệp và nhóm chứng

Chỉ số

Nhóm chứng (n=30)

Nhóm can thiệp (n=29)

p

Điểm đau (Mean ± SD)

3,83 ± 2,13

1,72 ± 1,81

<0,01

Nhận xét: Nhóm trẻ can thiệp có điểm đau thấp hơn nhóm không can thiệp với điểm đau trung bình là 1,72 ± 1,81 với p< 0,05, có ý nghĩa thống kê

Nhận xét: Điểm đau trung bình ở nhóm can thiệp là 1,72 ± 1,81 chiếm 93,1%. Chỉ có 2 trường hợp đánh giá mức độ đau trên 4 điểm, không đạt chiếm 6,9%.

Bảng 3.3. So sánh đặc điểm biến thiên chỉ số dấu hiệu sinh tồn giữa 2 nhóm

Chỉ số

Nhóm chứng (n=30)

Nhóm can thiệp (n=29)

p (test Mann-Whitney)

Biến thiên SpO2 trung bình

0,17 ± 0,46

0,07 ± 0,75

0,55

Biến thiên mạch trung bình

6,07 ± 3,80

3,62 ± 6,72

p > 0,05

Nhận xét: Nhóm trẻ can thiệp có sự biến thiên mạch và độ bão hoà oxy thấp hơn so với nhóm trẻ không can thiệp.

Bảng 3.4. Liên quan giữa thời gian ủ tê và tuổi đến hiệu quả giảm đau

 

Yếu tố liên quan

Hiệu quả giảm đau

p

OR (95%CI)

Không

 

 

n

%

n

%

 

 

Thời gian ủ tê kem EMLA

<60p

24

92,3

2

7,7

-

-

 

>60p

3

100

0

0

 

 

Tuổi

5-7

9

90

1

10

0,579

0,95 (0,753-1,198)

 

8-15

18

94,7

1

5,3

 

 

Nhận xét: Hiệu quả giảm đau đạt khi thời gian ủ tê dao động từ đủ 30 phút đến dưới 60 phút với 92,3%. Lứa tuổi 8 đến 15 tuổi đạt hiệu quả giảm đau cao hơn ở nhóm tuổi nhỏ hơn từ 5-7 tuổi với p>0,05, không có ý nghĩa thống kê.

4. BÀN LUẬN

Hiệu quả giảm đau bằng kem Emla 5%.

Chăm sóc đau là một trong nhiệm vụ trong công tác điều dưỡng, người điều dưỡng qua việc đánh giá đau bằng thang đo đồng thời nhận định dấu hiệu lâm sàng như thay đổi nhịp tim, độ bão oxy… để xác định rõ ràng mức độ đau của người bệnh, giúp điều dưỡng đưa ra can thiệp chăm sóc phù hợp. Có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng tới mức độ đau và ngưỡng đau có tính cá thể hoá như yếu tố văn hoá, xã hội, chủng tộc, thể chất…Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả giảm đau rõ ràng tại nhóm có can thiệp với điểm đau thấp hơn nhóm không can thiệp lần lượt là 1,72 ± 1,81 và 3,83 ± 2,13 với p< 0,05, có ý nghĩa thống kê. Đồng thời sự thay đổi về dấu hiệu sinh tồn như nhịp tim, độ bão hoà oxy qua da có sự biến thiên ít hơn so với nhóm không can thiệp. Tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả. Trần Thị Ái Nương tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, hiệu quả giảm đau đạt 1,75 ±1,12 ².Nhiều nghiên cứu trên Thế giới cũng như trong nước cũng đưa ra kết quả tương tự. Tác giả Shahid và cộng sự nghiên cứu hiệu quả và tính an toàn của kem Emla 5% trong việc kiểm soát cơn đau do chọc tĩnh mạch trẻ sơ sinh tại Canada năm 2019 cho thấy trong 907 trẻ được nghiên cứu so với giải dược thì Emla có tác dụng từ nhỏ trong việc giảm đau với OR= 0,14 (95%CI : -0,17-0,45) 5.Một nghiên cứu khác của tác giả Navratan Kumar Gupta năm 2013 đánh giá nhóm trẻ được dùng giảm đau bằng kem Emla 5% trước khi thực hiện tiêm chủng cho thấy kem Emla 5% có hiệu quả trong việc giảm đau và có tác dụng hiệp đồng trong giảm đau khi kết hợp với việc cho con bú trong quá trình tiêm chủng ở trẻ 4 . Đây là một bằng chứng ý nghĩa cho thấy việc sử dụng kem Emla 5% giảm đau tại chỗ cho nhóm trẻ nhỏ tuổi hơn cũng có hiệu quả.

5. KẾT LUẬN

Điểm đau của nhóm can thiệp là 1,72 ± 1,81 thấp hơn một cách có ý nghĩa so nhóm chứng với điểm đau là 3,83 ± 2,13 (p<0,05).

6. KHUYẾN NGHỊ

Giảm đau là một nghiệm pháp điều trị văn minh, giúp người bệnh tự tin và dễ dàng đối diện với dịch vụ chăm sóc y tế mà không phải lo ngại đau đớn hay không để lại nỗi ám ảnh khi phải đến cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh khi cần.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Nương, T.N.Á., Lệ, N.T.C., Hòa, T.T.V., 2024. Kết quả giảm đau của kem Lidocaine-Prilocaine 5% trong thực hiện thủ thuật lấy máu tĩnh mạch ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Tạp chí Y học Việt Nam, 537(2).

2. Trang, N.T., Cúc, H.K., Hởi, N.T., Định, V.Đ., 2023. Đánh giá hiệu quả giảm đau của kem EMLA 5% khi đặt đường truyền tĩnh mạch tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc. Tạp chí Y học Việt Nam, 531(1).

Tài liệu nước ngoài

3. Chung, Y.S., Park, K.W., Kim, J.S., 2006. Effects of EMLA Cream to Decrease Venipuncture Related Pain and Anxiety in Children. Journal of Korean Academy of Child Health Nursing, 12(2), 253-259.

4. Gupta, N.K., Upadhyay, A., Agarwal, A., Goswami, G., Kumar, J., Sreenivas, V., 2013. Randomized controlled trial of topical EMLA and breastfeeding for reducing pain during wDPT vaccination. European Journal of Pediatrics, 172, 1527-1533.

5. Shahid, S., Florez, I.D., Mbuagbaw, L., 2019. Efficacy and safety of EMLA cream for pain control due to venipuncture in infants: a meta-analysis. Pediatrics, 143(1).

6. Taddio, A., Wong, H., Welkovics, B., et al., 2016. A randomized trial of the effect of vaccine injection speed on acute pain in infants. Vaccine, 34(39), 4672-4677.

 

NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH , NGUYỄN THỊ THU TRANG , LÊ THỊ TÂM, NINH THỊ PHƯƠNG MAI , TRƯƠNG VĂN QUÝ,

 Đại học Y Hà Nội,  Bệnh viện E


Tin mới