CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT BƠM XI MĂNG TẠO HÌNH THÂN ĐỐT SỐNG NGỰC, THẮT LƯNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2024

Tóm tắt Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh trước khi bơm, trước khi ra viện và một tháng sau phẫu thuật bơm Xi măng tạo hình thân đốt sống tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2024; Phân tích một số yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh sau 1 tháng phẫu thuật bơm xi măng tạo hình thân đốt sống. Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiến cứu. Số liệu được thu thập thông qua 4 bộ câu hỏi gồm bộ câu hỏi về đặc điểm người bệnh, điểm VAS, mức độ lo âu tại bệnh viện, và CLCS tại 3 thời điểm khác nhau: trước khi bơm, trước khi ra viện và sau ra viện 1 tháng trên 286 người bệnh tại khoa Phẫu thuật cột sống- Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 02 đến tháng 08/2024. Kết quả: Điểm CLCS trước khi bơm là 0,535 (0,11), trước khi ra viện là 0,684 (0,09), và sau ra viện 1 tháng là 0,709 (0,09). Kết quả phân tích đa biến chỉ ra tuổi, thu nhập, số người sống cùng, vị trí đốt sống bị tổn thương, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước khi ra viện, và điểm đau trước khi bơm đã tiên lượng 25,7% chất lượng cuộc sống của người bệnh. Trong đó nghề nghiệp, thu nhập, số người sống cùng, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước phẫu thuật, và điểm đau trước khi bơm là những biến tiên lượng độc lập đến CLCS của người bệnh (p<0,005). Kết luận: Điểm CLCS của người bệnh sau phẫu thuật 1 tháng tương đối cao. Trong tương lai, cần có những nghiên cứu cải tiến các quy trình kỹ thuật để rút ngắn thời gian phẫu thuật, áp dụng phương pháp giảm đau mới, hiện đại để giảm đau cũng như tăng CLCS của người bệnh.

Từ khóa: Bơm xi măng tạo hình đốt sống, Chất lượng cuộc sống, Điểm VAS, Lo âu.

Abstract

Objective: To describe the quality of life (QoL) of patients before vertebroplasty, before discharge, and one month after undergoing vertebral body cement augmentation surgery at Viet Duc University Hospital in 2024; to analyze several factors associated with patients' QoL after one month. Methods: This prospective study were collected data using four questionnaires, including demographic data questionnaire, VAS scores, hospital anxiety scale, and EQ-5D at three different time points: before vertebroplasty, before discharge, and one month after discharge. A total of 286 patients from the Spinal Surgery Department of Viet Duc University Hospital were included in the study, which was conducted from February to August 2024. Results: The EQ-5D scores were 0.535 (0.11) before vertebroplasty, 0.684 (0.09) before discharge, and 0.709 (0.09) one month after discharge. Multivariate regression analysis indicated that age, income, the number of cohabiting individuals, the location of the affected vertebrae, surgery duration, pain management methods before discharge, and pre-procedure pain scores accounted for 25.7% of the variance in patients' EQ-5D. Among these, occupation, income, number of cohabiting individuals, surgery duration, pre-surgery pain management methods, and pre-procedure pain scores were identified as independent predictors of patients' QoL (p<0.005). Conclusion: Patients' EQ-5D scores were relatively high at one month after surgery. Future research should focus on improving technical procedures to shorten surgery duration and implementing modern pain management methods to alleviate pain and enhance patients' QoL.

Keyword: Vertebroplasty, Quality of life, VAS, Anxiety.

  1. Đặt vấn đề

Xẹp đốt sống hay lún đốt sống là tình trạng thân đốt sống không giữ được chiều cao vốn có, gây tổn thương vùng cột sống và những cơn đau dữ dội cho người bệnh [5].  Loãng xương là nguyên nhân chính gây xẹp đốt sống, và là 1 bệnh phổ biến về xương khớp gây ảnh hưởng đến 33% phụ nữ và 20% nam giới trên 50 tuổi trên toàn thế giới [6]. Với sự già hóa nhanh chóng của dân số trên toàn thế giới và những thay đổi trong thói quen sinh hoạt, tỷ lệ mắc bệnh loãng xương đã tăng lên đáng kể, và loãng xương được coi là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng [1]. Cho đến nay, điều trị bảo tồn cho những người bệnh lún xẹp đốt sống có loãng xương là bất động tại chỗ, dùng thuốc giảm đau, mặc áo nẹp và điều trị loãng xương. Tuy nhiên người cao tuổi nằm bất động lâu sẽ lại dẫn đến các biến chứng như loét vùng tỳ đè, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm tắc tĩnh mạch, loãng xương gia tăng… và tỷ lệ liền xương rất thấp. Bơm xi măng cột sống là phương pháp được chỉ định trong điều trị tình trạng lún xẹp đốt sống, giúp giảm đau nhanh chóng, tăng chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh (NB) [2].

CLCS là nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh văn hóa, xã hội và môi trường cụ thể. Đặc biệt là chất lượng cuộc sống của người bệnh sau bơm xi-măng thường rất ít được chú ý tại Việt Nam, cũng như là bệnh viện Việt Đức. Thêm vào đó, hiện tại trên lâm sàng đang sự dụng 1 số bộ công cụ để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh như SF-36, EuroQOL-5 (EQ-5D). Tuy nhiên bộ công cụ SF36 hiện nay đang sử dụng tại Việt Nam thường dùng chung cho tất cả người bệnh ở các bệnh khác nhau. Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam cũng như tại bệnh viện Việt Đức sử dụng bộ công cụ EQ-5D phiên bản tiếng việt trên người bệnh sau bơm xi măng hình thân đốt sống. Do vậy chúng tôi làm đề tài “Chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau phẫu thuật bơm xi măng tạo hình thân đốt sống ngực, thắt lưng tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2024” với hai mục tiêu: (1) Mô tả CLCS của người bệnh trước và hai thời điểm trước khi ra viện và một tháng sau phẫu thuật bơm Xi măng tạo hình thân đốt sống tại Khoa Phẫu thuật cột sống Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2024; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến CLCS của NB sau 1 tháng phẫu thuật bơm xi măng tạo hình thân đốt sống.

  1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
    1. Đối tượng nghiên cứu

NB phẫu thuật bơm xi măng tạo hình đốt sống, phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn: có chỉ định phẫu thuật bơm xi măng tạo hình đốt sống ngực, thắt lưng; NB trên 18 tuổi.

Tiêu chuẩn loại trừ: xảy ra biến chứng nặng trong thời gian nghiên cứu.

    1. Địa điểm.

Tại khoa Phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2024.

    1. Thiết kế nghiên cứu.

 Nghiên cứu tiến cứu được áp dụng trong nghiên cứu này

    1. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn toàn bộ 286 NB theo phương pháp thuận tiện

    1. Bộ công cụ sử dụng trong nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng 04 bộ câu hỏi, bao gồm: (1) bộ câu hỏi về thông tin NB, được xây dựng bởi nhóm tác giả, bao gồm 15 câu hỏi như tuổi, giới tính, số ngày nằm viện, nơi cư trú, …; (2) bộ câu hỏi đánh giá điểm đau VAS được xây dựng bởi Hayes và Patterson (1921), điểm đau từ mức 0 (không đau) đến 10 (rất đau); (3) bộ câu hỏi đánh giá mức độ lo âu tại bệnh viện, được xây dựng bởi Bộ câu hỏi về lo âu tại bệnh viện được xây dựng bởi Zigmond và Snaith năm 1983 [9] gồm 7 câu hỏi, mỗi câu hỏi theo thang điểm likert từ mức 0 đến mức 3. Do vậy thang điểm range từ 0 đến 21 điểm. Điểm càng cao thì mức độ lo âu. Chia ra làm 3 mức độ từ 0-7 điểm (bình thường), từ 8-10 điểm (có thể có triệu chứng lo âu), từ 11-21 điểm (bị lo âu); (4) bộ câu hỏi về CLCS (EQ-5D) được xây dựng bởi do Hiệp hội khoa học Châu Âu, gồm 5 câu hỏi về các lĩnh vực đi lại, tự chăm sóc, hoạt động hàng ngày, đau đớn/khó chịu, lo lắng/buồn phiền. Mỗi khía cạnh có 5 mức độ ảnh hưởng do tình trạng bệnh gây ra từ mức 1(Không ảnh hưởng); đến mức 5 (Ảnh hưởng rất nhiều/không thể làm được). Điểm CLCS từ - 0.5115 tới 1 [7].

    1. Xử lý và phân tích số liệu

        Số liệu sau khi được làm sạch  và xử lý bằng phần mền SPSS phiên bản 25.0. Thống kê mô tả, Pearson correlation, ANOVA, hồi quy đa biến sẽ được dùng trong nghiên cứu này dùng để phân tích mối quan hệ giữa CLCS với 1 số yếu tố liên quan.

  1. Kết quả
    1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Tổng 286 NB đã tham gia vào nghiên cứu, đa số NB là nữ giới (80,8%), có độ tuổi trung bình là 70,4 (9,9) tuổi, 45,8% NB có nghề nghiệp là nông dân/công nhân. 99,3% số người bệnh được sự hỗ trợ trong thời gian nằm viện. Với mức thu nhập trung bình là 8,1 triệu VND/tháng (chi tiết bảng 1).

Bảng 1. Đặc điểm thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=286).

Biến

Tần suất

Tỷ lệ %

Tuổi               Min: 40               Max :95           Giá trị trung bình (SD): 70,4 (9,9)

Giới tính

  Nam

  Nữ

 

55

231

 

19,2

80,8

Nơi cư trú

  Thành phố/thị xã

  Nông thôn/miền núi

 

92

194

 

32,2

67,7

Nghề nghiệp

   Nông dân/công nhân   

   Công chức/Viên chức  

   Tự do     

   Khác

 

131

10

33

112

 

45,8

3,5

11,5

39,2

Tình trạng hôn nhân

   Đã kết hôn

   Ly hôn

   Chưa kết hôn

 

286

0

0

 

100

0

0

Hỗ trợ khi nằm viện

   Có

   Không

 

284

2

 

99,3

0,7

Thu nhập (triệu VND) Min: 2      Max: 20        Giá trị trung bình (SD): 8,1 (3,6)

Số người sống cùng    Min:1          Max: 7         Giá trị trung bình (SD): 3,6 (1,2)

Ghi chú: Min, giá trị nhỏ nhất; Max, giá trị lớn nhất; SD, độ lệch chuẩn

    1. Sự thay đồi điểm đau VAS, mức độ lo âu, và chất lượng cuộc sống.

Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh trước khi bơm thấp nhất là 0,112 điểm, cao nhất là 0,855 điểm, điểm trung bình là 0,564 (0,09). Có sự thay đổi về điểm CLCS có ý nghĩa thống kê giữa trước khi bơm xi măng với trước khi ra viện, và sau khi ra viện 1 tháng (p<0,0001). Tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê giữa trước khi ra viện và sau khi ra viện 1 tháng (0.99) (chi tiết bảng 2).

Bảng 2. Sự thay đổi điểm VAS, mức độ lo âu, và chất lượng cuộc sống, của người bệnh phẫu thuật bơm xi măng tạo hình đốt sống (n=286).

 

 

Biến

 

Giá trị nhỏ nhất

 

Giá trị lớn nhất

 

Điểm TB (SD)

Điểm chênh lệch TB (SD)

 

Giá trị p

 

Điểm đau trước khi bơm (1)

 

7

 

9

 

7,4 (0,6)

(1)-(2)

3,3 (0,7)

 

<0,0001

 

Điểm đau trước khi ra viện (2)

 

1

 

7

 

4,2 (0,9)

(2)-(3)

2,8 (0,9)

 

<0,0001

 

Điểm đau trước khi ra viện (3)

 

0

 

5

 

1,3 (0,5)

(1)-(3)

6,2 (0,6)

 

<0,0001

 

Điểm lo âu trước khi bơm (1)

 

4

 

16

 

6,1 (1,9)

(1)-(2)

1,5 (2,3)

 

<0,0001

 

Điểm lo âu trước ra viện (2)

 

2

 

11

 

4,5 (1,5)

(2)-(3)

3,1 (1,5)

 

<0,0001

 

Điểm lo âu sau ra viện 1 tháng (3)

 

2

 

6

 

3,0 (0,8)

(1)-(3)

1,5 (1,5)

 

<0,0001

 

Điểm QoL trước khi bơm (1)

 

0,112

 

0,855

 

0,535 (0,11)

(1)-(2)

-0,149 (0,07)

 

<0,0001

 

Điểm QoL trước ra viện (2)

 

0,232

 

0,975

 

0,684 (0,09)

(2)-(3)

-0,025 (0,03)

 

<0,0001

 

Điểm QoL sau ra viện 1 tháng (3)

 

0,257

 

1

 

0,709 (0,09)

(1)-(3)

-0,174 (0,07)

 

0.99

Ghi chú: QoL, chất lượng cuộc sống; SD, độ lệch chuẩn; TB, trung bình.  

    1. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuốc sống của người bệnh sau 1 tháng ra viện

Kết quả phân tích đa biến chỉ ra các biến độc lập gồm tuổi, thu nhập, số người sống cùng, vị trí đốt sống bị tổn thương, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước khi ra viện, và điểm đau trước khi bơm đã tiên lượng 25,7% chất lượng cuộc sống của người bệnh. Trong đó,  nghề nghiệp, thu nhập, số người sống cùng, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước phẫu thuật, và điểm đau trước khi bơm là những biến tiên lượng độc lập đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (p<0,005). Trong khi đó, không  có ý nghĩa thống kê giữa  tuổi, vị trí đốt sống bị tổn thương trong mô hình phân tích hồi quy đa biến (chi tiết tại bảng 3).

Bảng 3. Phân tích đa biến giữa chất lượng cuộc sống của người bệnh sau 1 tháng phẫu thuật bơm xi măng tạo hình đốt sống và một số yếu tố liên quan (n=286)

 

Biến

Hệ số tuyến tính tiêu chuẩn

(Beta)

 

S.E

 

Giá trị t

 

Giá trị

p

Hằng số

-

0,1

10,61

<0,001

Tuổi

-0.013

0,001

-0,23

0,81

Nghề nghiệp

-0,125

0,003

-2,34

0,02

Thu nhập   

0,158

0,001

2,88

0,004

Số người sống cũng

-0,11

0,004

-2,03

0,043

Vị trí đốt sống bị tổn thương

-0,03

0,009

-0,54

0,593

Thời gian phẫu thuật

-0,12

0,011

-2,08

0,038

Phương pháp giảm đau trước khi ra viện

0,13

0,012

1,99

0,047

Điểm đau trước khi bơm

-0,28

0,01

-4,31

<0,001

R2 = 25,7% , R2 hiệu chỉnh = 23,5%

  1. Bàn luận

Nghiên cứu cho thấy, có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về tình trạng  đau của NB, mức độ lo âu, và CLCS của NB tại các thời điểm trước khi bơm xi măng, trước khi ra viện, và sau khi ra viện 1 tháng. Thêm vào đó, phân tích đa biến chỉ ra các yếu tố gồm tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, số người sống cùng, vị trí đốt sống bị tổn thương, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước khi ra viện và điểm đau trước khi bơm đã tiên lượng 25,7% CLCS của NB. Điều này có thể giải thích bằng một số nghiên cứu trước đã chỉ ra nghề nghiệp đóng một vai trò quan trọng như sử dụng quá nhiều lực ở lưng để nâng hay di chuyển các vật nặng, thiếu vận động, lặp đi lặp lại các chuyển động (đặc biệt là vặn, xoay cột sống). Nhiều ngành nghề đòi hỏi mức độ lao động nặng như lái xe, nhân viên văn phòng, công nhân xây dựng, công nhân nhà máy… rất dễ bị bệnh về cột sống [10]. Trong nghiên cứu này có đến 45,8% NB làm công nhân/nông nhân, đây là những ngành nghề đòi hỏi dùng nhiều sức lực, hoặc đứng, ngồi lâu tại các công xưởng cũng dễ gây nên bệnh. Do vậy, các nhà sử dụng lao động cần có những chính xách, chế độ giúp cho người lao động không phải ngồi lâu, phân bổ sức lao động cho phù hợp. Nghiên cứu trước  của Teoli (2023) cũng chỉ ra, thu nhập liên quan mạnh tới CLCS và có thể ảnh hưởng nhiều khía cạnh của cuộc sống, bao gồm : (1) sức khỏe, mọi người cần một mức thu nhập nhất định để đủ khả năng mua thực phẩm, nhà ở chất lượng và các nhu cầu cơ bản khác cho một cuộc sống khỏe mạnh. Sự ổn định kinh tế cũng có thể dẫn đến sức khỏe tốt hơn; (2) Sự hài lòng trong công việc, sự hài lòng trong công việc là một thành phần quan trọng của chất lượng cuộc sống và có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác của cuộc sống; (3) Không còn lo lắng, nhiều tiền hơn thường có nghĩa là thoải mái hơn và không còn nhiều lo lắng; (4) Sự lạc quan: Nhiều tiền hơn thường có thể dẫn đến triển vọng lạc quan cho tương lai [8].

Nghiên cứu này chỉ ra số người sống cùng là một yếu tố tiên lượng độc lập đến CLCS, điều này cũng tương tự với nghiên cứu của Brown và Brown  (2014) đã chỉ ra, Quy mô gia đình có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các thành viên theo nhiều cách, như giáo dục (các gia đình nhỏ hơn có thể tiếp cận giáo dục tốt hơn), thu nhập (các gia đình nhỏ hơn có thể có thu nhập cao hơn), sức khỏe (các gia đình nhỏ hơn có thể có sức khỏe tốt hơn); tình trạng kinh tế (các gia đình nhỏ hơn có thể có tình trạng kinh tế tốt hơn) [4]. Hơn thế nữa, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau, và điểm đau cũng là những yếu tố tiên lượng độc lập đến CLCS của NB. Tác giả Azizabadi và Assari (2010) đã chỉ ra kiểm soát đau rất quan trọng và ảnh hưởng lớn tới CLCS của NB. Đau dai dẳng và không kiểm soát được có thể có tác động bất lợi và xấu đi đến cuộc sống của bệnh nhân. Nó gây ra lo lắng và tiêu cực về mặt cảm xúc; làm suy yếu sức khỏe; cản trở khả năng hoạt động; và cản trở khả năng hoàn thành các vai trò gia đình, xã hội và nghề nghiệp [3]. Do vậy các bệnh viện cần có những bộ công cụ đánh giá điểm đau, quy định điều trị và chăm sóc đau phù phù hợp cho từng đối tượng, từ đó sẽ nâng cao CLCS hơn cho NB.

  1. Kết luận

Điểm CLCS của NB sau phẫu thuật 1 tháng tương đối cao. Trong đó,  nghề nghiệp, thu nhập, số người sống cùng, thời gian phẫu thuật, phương pháp giảm đau trước phẫu thuật, và điểm đau trước khi bơm là những biến tiên lượng độc lập đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Trong tương lai, cần có những nghiên cứu cải tiến các quy trình kỹ thuật để rút ngắn thời gian phẫu thuật, cũng như các nghiên cứu can thiệp khác tập trung vào các yếu tố tiên lượng độc lập trên để nâng cao chất lượng chăm sóc của NB.

  1. Tài liệu tham khảo

Tiếng việt

[1] Nguyễn Thanh Sơn (2017), Chất lượng cuộc sống và hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc người bệnh đái tháo đường typ 2 tại nhà tỉnh Thái Bình, Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng, Đại học Y Dược Thái Bình.

[2] Như Hiển, T., et al., Đánh giá kết sớm bơm cement sinh học có bóng tạo hình thân đốt sống ngực, thắt lưng bị xẹp do loãng xương tại bệnh viện đa khoa tỉnh hòa bình năm 2020. Y Học Thực Hành, 2021. 12(3).

Tiếng anh

[3] Azizabadi Farahani, M., Assari, S. (2010). Relationship Between Pain and Quality of Life. In: Preedy, V.R., Watson, R.R. (eds) Handbook of Disease Burdens and Quality of Life Measures. Springer, New York, NY. https://doi.org/10.1007/978-0-387-78665-0_229

[4] Brown, R.I., Brown, I. (2014). Family Quality of Life. In: Michalos, A.C. (eds) Encyclopedia of Quality of Life and Well-Being Research. Springer, Dordrecht. https://doi.org/10.1007/978-94-007-0753-5_1006.

[5] Chandran, M., et al., Prevalence of osteoporosis and incidence of related fractures in developed economies in the Asia Pacific region: a systematic review. Osteoporos Int, 2023. 34(6): p. 1037-1053.

[6] Kpelao, E., et al., Spinal Cord Compression in Togo: Etiologies and Management. World Neurosurg, 2022. 162: p. e542-e545.

[7] Mai, Vu Quynh et al. “An EQ-5D-5L Value Set for Vietnam.” Quality of life research : an international journal of quality of life aspects of treatment, care and rehabilitation vol. 29,7 (2020): 1923-1933. doi:10.1007/s11136-020-02469-7

[8] Teoli D, Bhardwaj A. Quality Of Life. [Updated 2023 Mar 27]. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2024 Jan-. Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK536962/

[9] Zigmond, A.S. and R.P. Snaith, The hospital anxiety and depression scale. Acta Psychiatr Scand, 1983. 67(6): p. 361-70.

[10] Zhao L, Liu C, Chen X, He Z, Zhang S, Zhang A, Tang S, Wu Z, Liu C, Yuan Y. Injectable double-crosslinked bone cement with enhanced bone adhesion and improved osteoporotic pathophysiological microenvironment for osteoregeneration in osteoporosis. Bioact Mater. 2024 Oct 2;43:441-459. doi: 10.1016/j.bioactmat.2024.09.032. PMID: 39399835; PMCID: PMC11471141.


Tin liên quan

Tin mới