ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẤT NGỦ THEO THANG ĐIỂM SF-36 ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN

TÓM TẮT Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất trong dân số nói chung, mất ngủ không những để lại những hậu quả lớn đến bản thân người bệnh mà còn gây ra gánh nặng xã hội lớn về chi phí điều trị. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 50 người bệnh đang điều trị tại khoa y học cổ truyền, có chẩn đoán kèm theo mất ngủ từ tháng 2/2024 đến tháng 5/2024. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bảng điểm SF36 ở người mất ngủ đang điều trị tại khoa y học cổ truyền,. Kết quả: điểm đánh giá mất ngủ PSQI trung bình là 16,6±3,97 điểm. Đa số người bệnh có điểm chất lượng cuộc sống theo SF-36 ở mức độ trung bình (62.3±13.5), mức độ suy giảm về sức khỏe thể chất thấp hơn sức khỏe tâm thần. Mối tương quan nghịch biến (r = -0.840;p<0,01) giữa mức độ mất ngủ theo thang PSQI và điểm chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 bệnh nhân càng mất ngủ nặng thì mức độ suy giảm chất lượng cuộc sống càng nhiều. Từ khóa: mất ngủ, chất lượng cuộc sống, PSQI, SF36.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất  trong  dân  số nói chung, ước  tính  mất ngủ ảnh hưởng đến  22,1%  dân  số tại  Hoa  Kỳ[1]. Một người được  coi  là  mất  ngủ nếu  họ ngủ ít hơn bình thường  từ 2  giờ trở lên.  Mất  ngủ bao  gồm các  dấu  hiệu  sau:  khó  vào giấc  ngủ (từ sau  30 phút  kể từ khi lên giường  ngủ mà  không  ngủ được), mất ngủ giữa giấc (đang ngủ thì tỉnh giấc và phải mất một thời gian dài mới ngủ lại được) hoặc  mất  ngủ cuối  giấc  (thức  dậy  sớm hơn so với bình thường mà không ngủ lại được), khi tất cả các  dạng  mất  ngủ này nặng lên, người  bệnh sẽ mất  ngủ hoàn  toàn;  các  triệu  chứng  này  cần tồn tại ít nhất 3 tháng theo tiêu chuẩn của DSM-V  [8].

       Mất  ngủ có ảnh  hưởng  nghiêm  trọng  đến sức  khỏe  của người  bệnh,  các  nghiên  cứu  trên thế giới  cho thấy  sự mất mát hàng năm về tuổi thọ do mất ngủ lớn hơn sự mất mát do các tình trạng bệnh lý cơ thểvà tâm thần khác, bao gồm viêm khớp, trầm cảm và tăng huyết áp.[13] [CĐ1] Mất ngủ ngoài  những ảnh hưởng  nghiêm  trọng đến  sức khỏe  thể chất  của người  bệnh  còn ảnh hưởng lớn  sức  khỏe  tinh  thần,  mối  quan  hệ xã  hội  của người  bệnh.[14]  Hơn nữa,  mất  ngủ còn  gây  ra  áp lực chi phí trực tiếp và gián tiếp cho người bệnh, dự kiến ở Hoa Kỳ, chi phí vượt quá 100 tỷ đô la hàng năm cho việc điều trị mất ngủ.[15]

         Mặc dù mất ngủ gây suy giảm đáng kể chức năng nghề nghiệp,  xã  hội  của người  bệnh  trong cuộc  sống  hằng  ngày;  vấn đề này đã được  các tác giả trên thế giới nghiên cứu nhiều như Léger và cộng sự [16], hay của Pachikian và cộng sự[17]. Tuy nhiên ở Việt Nam có ít nghiên  cứu  về vấn đề này.  Các  dữ kiện  về mức độ suy  giảm chức năng cuộc sống ở người bệnh mất ngủ, mối liên  quan  giữa  mức độ ảnh hưởng  của  mức độ nặng  của  mất  ngủ và  sự suy  giảm  chức năng người  bệnh  còn  thiếu.  Chính  vì  vậy,  chúng  tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: “Đánh giá chất lượng  cuộc  sống  của bệnh nhân mất ngủ đang điều trị tại khoa y học cổ truyền theo thang điểm SF-36”.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng: Người bệnh mất ngủ

  • Tiêu  chuẩn  lựa  chọn: Bệnh nhân đồng  ý tham  gia  vào  nghiên  cứu, đủ tiêu  chuẩn  chẩn đoán là mất  ngủ,  theo  tiêu  chuẩn  của  DSM  V (Diagnostic   and   Statistical   Manual   of   Mental Disorders V: Tài liệu chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản thứ 5).
  • Tiêu  chuẩn  loại  trừ: Bệnh  nhân  có các bệnh  cơ  thể nặng  kèm  theo  làm  hạn  chế khả năng giao tiếp  của người  bệnh. 

2.2. Thời gian và địa điểm  nghiên  cứu: Nghiên cứu được tiến  hành tại khoa y học cổ truyền, bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2  từ tháng 2/2024 đến tháng 5/2024.

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết  kế nghiên  cứu: Nghiên  cứu  mô  tả cắt ngang.

2.3.2. Cỡ mẫu và phương  pháp  chọn   mẫu   : Chọn  mẫu toàn bộ, lấy  tất  cả các người bệnh đang điều trị tại khoa y học cổ truyền  trong thời  gian  nghiên  cứu  và  và  thỏa  mãn  các  tiêu chuẩn  lựa  chọn đều được đưa vào nghiên cứu. Tổng số người bệnh là 50 người.

2.3.3.Công cụ thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá:

1. PSQI  (Pittsburgh  Sleep  Quality  Index)  là thang đánh giá chất lượng giấc ngủ thường được dùng trong lâm sàng. PSQI là thang tự đánh giá bao  gồm  7  thành  phần  và  cấu  thành  3  yếu  tố lớn:  hiệu  quả giấc  ngủ,  chất lượng  giấc  ngủ và rối loạn hàng ngày. Mỗi mục có điểm từ 0 –3, số điểm PSQI được tính bằng cách lấy tổng của bảy điểm thành phần, cho ta một điểm số từ 0 –21, trong đó điểm  số càng  cao  thể hiện  một  chất lượng  giấc  ngủ càng kém. Độ nhạy 89,6%, độ đặc hiệu 86,5%.[18]  Điểm đánh giá như sau:0 –4: Không rối loạn giấc ngủ≥ 5: Rối loạn giấc ngủ [8].

2. Bộ câu hỏi Short form 36 (SF -36) là một công  cụ được phát triển bởi nhóm  nghiên cứu  y tế (Medical  Outcomes  Study -MOS)  thuộc  tập đoàn RAND. SF -36 gồm 36 câu hỏi đánh giá về sức khoẻ thể chất (hoạt động thể chất, hạn chế do  sức  khỏe  thể chất,  cảm giác đau, tình  trạng sức khỏe chung) và về sức khoẻ tinh thần (năng lượng, chức năng xã hội, hạn chế do vấn đề cảm xúc, tình trạng tinh thần). Mỗi câu trả lời đều có điểm số thay đổi từ 0 đến 100. Điểm càng cao thì xác định  tình  trạng sức khỏe càng tốt. Trên  cơ  sở điểm  trung  bình  chung,  chất lượng  cuộc  sống  của  bệnh nhân được  phân  loại thành 3 mức như sau:

Từ 0 đến ≤ 25 điểm: Chất lượng cuộc sống thấp.Từ 25 đến 75 điểm:  Chất lượng  cuộc  sống trung bình. Từ > 75 điểm: Chất lượng cuộc sống cao.

2.3.4. Xử lý số liệu: Số liệu được  thu  thập,  làm sạch và nhập bằng phần mềm Epi Data và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0[CĐ2] .[CĐ3] 

 

3. KẾT QUẢ

Bảng 1. Đặc điểm  chung  của nhóm đối tượng nghiên cứu (n = 50)

Đặc điểm chung

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Giới tính

Nam

12

24

Nữ

38

76

Trình độ học vấn

Tiểu học

33

66

Trung học cơ sở

4

8

Trung học phổ thông

1

2

Đại học/ Cao đẳng

1

1

Mù chữ

11

22

Nghề nghiệp

Nông dân

46

92

Công dân

1

2

Viên chức nhà nước

1

2

Hưu trí

2

4

Nhóm tuổi

18-45

3

6

46-59

5

10

≥ 60

42

84

Tuổi trung bình

73.5±13.7

PSQI

16.6±3.97

Nhận   xét: Tỷ lệ người  bệnh  nữ chiếm 76%, nam 24%. Đa số người  bệnh có trình độ tiểu học (chiếm 66%) cao nhất trong các nghề nghiệp.  Nhóm  tuổi  trên 60 chiếm tỉ lệ cao nhất 84%, điểm PSQI trung bình là 16.6±3.97        .

Bảng 2. Đặc điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm SF-36 (n = 50)

Thang điểm SF-36

X̅± SD

Sức khỏe thể chất

Hoạt động thể chất

69.3±23.9

 

64.7±17.0

Hạn chế do sức khỏe thể chất

81.8±28.1

Cảm giác đau

67.1±19.2

Tình trạng sức khỏe chung

40.6±49.3

Sức khỏe tinh thần

Năng lượng

43±11.1

 

59.9±16.6

Chất năng xã hội

67.5±47.1

Hạn chế do vấn đề cảm xúc

81.3±30.9

Tình trạng tinh thần

48±10.7

Tổng điểm SF-36

62.3±13.5

Nhận  xét: Bệnh  nhân  nghiên  cứu có điểm chất lượng cuộc sống theo SF-36 là 62.3±13.5 (mức độ trung bình). Điểm chất lượng sức khỏe tinh  thần  trung  bình  là 59.9±16.6,  thấp hơn điểm  trung  bình chất lượng sức  khỏe  thể chất 64.7±17.0       .

Biểu đồ1. Phân bố mức độ chất lượng cuộc sống theo SF -36 (n = 50)

 

Nhận  xét: Đa số bệnh nhân nghiên cứu có chất lượng  cuộc  sống  theo  SF-36 ở mức  trung bình (92%). Không có bệnh nhân nào  có  chất lượng  cuộc  sống  thấp.  Chỉ có 8% bệnh nhân có chất lượng cuộc sống cao.

Bảng 4. Mối  tương quan giữa chất lượng cuộc sống theo thang  SF-36  và tình trạng mất ngủ theo thang đo PSQI

Chất lượng cuộc sống theo thang SF-36

Tình trạng mất ngủ (thao đo PSQI)

r

p

Sức khỏe thể chất

-0.624

<0.01

Sức khỏe tinh thần

-0.729

<0.01

Tổng điểm SF-36

-0.840

<0.01

Nhận  xét: PSQI  và  sức  khỏe  thể chất,  sức khỏe  tinh  thần  và  tổng  điểm  SF –36  có  mối tương quan chặt chẽ, đều với giá trị  p < 0,01.

4. BÀN LUẬN

Về phương pháp chọn mẫu

Chúng tôi đã chọn ra 50 cá nhân có sự xuất hiện và mức độ nghiêm trọng của rối loạn giấc ngủ. Chúng tôi đã sử dụng bảng câu hỏi PSQI dựa trên tiêu chí DSM-IV để xác định những người mắc chứng mất ngủ. Hơn nữa, chúng tôi đã không điều tra nguyên nhân gây mất ngủ trong nghiên cứu này và một số đối tượng có thể bị rối loạn giấc ngủ do các bệnh tế bào. Tuy nhiên, chúng tôi đã sử dụng và xác nhận ước tính này trong các nghiên cứu sâu rộng [6], [7]; nó được coi là phù hợp vì mục đích của nghiên cứu không phải là phân biệt chứng mất ngủ nguyên phát hay thứ phát mà là đánh giá hậu quả của việc ngủ kém đối với chất lượng cuộc sống. Chúng tôi cũng muốn tránh một số yếu tố gây nhầm lẫn trong việc xác định hậu quả ban ngày của chứng mất ngủ. Rối loạn trầm cảm hoặc lo âu có thể có tác động đáng kể đến hoạt động ban ngày của đối tượng và do đó gây ra sự suy giảm đáng kể về chất lượng cuộc sống, đặc biệt là khi đánh giá sức khỏe tâm thần và vai trò của các khía cạnh cảm xúc. Đây là lý do tại sao chúng tôi loại những bệnh nhân có biểu hiện rối loạn trầm cảm hoặc lo âu khỏi nhóm của mình. Tuy nhiên, người ta đã chứng minh rằng chứng mất ngủ và các rối loạn tâm thần như lo lắng và trầm cảm có mối liên hệ với nhau. Mellinger và cộng sự. [9] nhấn mạnh “mất ngủ có thể là nguyên nhân hoặc hậu quả của những rắc rối tâm lý xuất hiện một cách tình cờ”. Ngoài ra, Ford và Kamerow [10] đã chứng minh trong một nghiên cứu tiền cứu rằng những người mất ngủ không điều trị có nguy cơ phát triển trầm cảm và nghiện rượu cao gấp 4,5 lần so với những người mất ngủ được điều trị.[CĐ4] 

      Trong 50 người bệnh nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nam : nữ là 1 : 3. Tỷ lệ này khác nhau  giữa  các  nghiên  cứu,  tùy  thuộc  vào  đối tượng  nghiên  cứu  khác  nhau.  Trong  nghiên  cứu này,  tuổi  trung  bình  của các người  bệnh  là  73.5±13.7,  trong  đó  đa  số là  người  cao  tuổi.  Số người từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ 84%, trong đó chỉ có 3 người từ 18 đến 45 tuổi (6,0%). Đây là điều dễ hiểu  và  phù  hợp  với đa số các  nghiên cứu  khác  trên  thế giới  vì  mất  ngủ ở cộng đồng thường  gặp ở người  cao  tuổi.  Tác  giả Vivian  và cộng  sự trong  nghiên  cứu năm 2019 thấy  rằng có đến 52,9% số người từ 60 đến 79 tuổi có mất ngủ.[18]  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thực  hiện  tại khoa y học cổ truyền và bệnh viện ở nông thôn [CĐ5] nên đa số người bệnh có nghề nghiệp là nông dân (92,0%), đồng thời xét về trình độ học  vấn  của  họ thì  phần  lớn  chỉ học hết tiểu học (66,0%), có 11 người không biết chữ chiếm 22%. Điều này là do các đối tượng nghiên cứu đa số có tuổi cao, họ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ kháng  chiến  chống  Mỹ, chống Pháp của Việt Nam, sau đó lại đến thời kỳ kinh tế khó khăn lúc chế độ bao cấp,  dẫn đến là người  dân  nông thôn Việt Nam ở lứa tuổi đó thường chỉ được học tập ít, đến bậc tiểu học. Chất lượng cuộc sống  là  một  hiện tượng đa chiều được sử dụng để miêu tả nhận thức, sự hài lòng cá nhân và phản ánh các khía cạnh khác nhau  của  cuộc  sống như khả năng hoạt động, tâm  lý,  cảm xúc cũng như các mối quan hệ xã hội.

          Theo  bảng 2,  chất lượng  cuộc  sống  trung bình  của người  bệnh  mất  ngủ theo  thang  SF-36 là 62.3±13.5  (mức  trung  bình).  Điểm chất lượng sức  khỏe  tinh  thần  trung  bình  là 59.9±16.6, thấp hơn điểm  trung  bình chất lượng sức khỏe thể chất (64.7±17.0), kết quả này có thể là do đa số người  bệnh  trong  nghiên  cứu  của chúng tôi nghề nghiệp là nông dân (92%) lao động tay chân nhiều và ít thời gian cho các hoạt động vui chơi giải trí nên sức khỏe thể chất cao hơn sức khỏe tinh thần. Cũng cùng lí do trên, điểm  hoạt  động  thể chất ở người  bệnh  trong nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là 69.3±23.9; cảm giác  đau  là  67.1±19.2;  tình  trạng  sức  khỏe chung là 40.6±49.3; chức năng xã hội là 63,0 ± 16,2, tình trạng tinh thần là 66,6 ± 6,2 thấp hơn nghiên cứu của Léger và cộng sự.[2] Theo số liệu từ biểu đồ 1, đa số người bệnh có chất lượng giấc ngủ trung bình (92%) và không  có  người  bệnh  nào  có  chất  lượng  cuộc sống ở mức thấp. Và tỉ lệ phân bố này cũng tương tự như nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mất ngủ trong cộng đồng được thực hiện bởi Ngô Tuấn Khiêm và cộng sự.[3] [CĐ6] 

       Theo  kết  quả nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  có mối tương quan nghịch biến  giữa  mức độ mất ngủ theo thang PSQI và điểm chất lượng cuộc  sống  theo thang SF-36 (r = -0.840;p<0,01).Kết  quả tương  tự khi  đánh  giá  mối tương quan này đối với SF-36 thể chất và SF-36 tinh thần với hệ số tương quan theo thứ tự là r = -0.624 và  r  = -0.729 (p  <0,01), điều  này có nghĩa là khi tình trạng  mất  ngủ càng  nặng  thì chất  lượng  cuộc  sống ở người  bệnh  suy  giảm càng  nhiều.  Điều  này  phù  hợp  với  các  nghiên cứu  khác  trên  thế giới,  chẳng  hạn như nghiên cứu của tác giả Wang và cộng sự năm 2020.[4] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các rối loạn lâm sàng có liên quan đến giấc ngủ kém [11]. Ngược lại, chứng mất ngủ cũng bị nghi ngờ là nguyên nhân thúc đẩy các bệnh lý lâm sàng và tâm thần [10], [12]. Một khía cạnh thú vị của cuộc tranh luận đó được minh họa trong thang đo SF-36 thông qua mối quan hệ giữa chứng mất ngủ và cơn đau cơ thể. Đau nhức cơ thể do nhiều bệnh khác nhau (tim, hô hấp, bệnh khớp và những bệnh tương tự) tất nhiên có thể dẫn đến ngủ kém và đồng thời chất lượng cuộc sống kém[CĐ7] ; tuy nhiên, cũng có thể tình trạng thiếu ngủ và ngủ kém có thể làm tăng độ nhạy cảm của người mất ngủ với cơn đau. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng mất ngủ và cơn đau cơ thể. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa khẳng định được chất lượng cuộc sống kém ở những người mất ngủ trầm trọng là do ngủ kém hay do sức khỏe kém dẫn đến ngủ kém hơn. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng mất ngủ và chất lượng cuộc sống. Chứng mất ngủ càng nghiêm trọng thì chất lượng cuộc sống càng tệ. Nghiên cứu của Hatoum et alnhận thấy rằng sau khi kiểm soát các biến số nhân khẩu học và tình trạng bệnh đi kèm, mối liên hệ tiêu cực của chứng mất ngủ vẫn có ý nghĩa trong điểm số SF-36 của tất cả những người tham gia [5]. Khi đó, có vẻ như ngoài việc chất lượng cuộc sống bị suy giảm do các bệnh khác, chứng mất ngủ còn xuất hiện như một yếu tố độc lập có thể giải thích cho chất lượng cuộc sống tồi tệ hơn của những người mất ngủ khi so sánh với những người ngủ ngon. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng đối với các bác sĩ trong việc điều tra cẩn thận lời phàn nàn về chứng mất ngủ.[CĐ8] 

 KẾT LUẬN

       Đa số những người mất ngủ có nghề nghiệp nông dân là  những  người  cao  tuổi, thường  thấy  nhiều hơn ở nữ, thang điểm đánh giá mất ngủ PSQI trung bình là 16.6±3.97 điểm. Đa số người bệnh có điểm chất lượng cuộc sống theo  SF-36 ở mức độ trung  bình  (62.3±13.5), mức độ suy giảm  về sức  khỏe thể chất thấp hơn sức khỏe tâm thần. Mối tương quan nghịch biến giữa  mức độ mất ngủ theo  thang  PSQI và điểm chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 bệnh  nhân  càng  mất  ngủ nặng  thì  mức độ suy giảm chất lượng cuộc sống càng nhiều.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Appleton  SL,  Reynolds  AC,  Gill  TK,  Melaku YA,  Adams  RJ. Insomnia Prevalence Varies with Symptom   Criteria   Used   with   Implications   for Epidemiological Studies: Role of Anthropometrics, Sleep  Habit,  and  Comorbidities. Nat  Sci  Sleep. 2022;14:775-790. doi:10.2147/NSS.S359437.

2. Léger  D,  Scheuermaier  K,  Philip  P,  Paillard M,  Guilleminault  C. SF-36: evaluation of quality of  life  in  severe  and  mild  insomniacs  compared with good sleepers. Psychosom Med. 2001;63(1):49-55. doi:10.1097/00006842-200101000-00006.

3. Ngô Tuấn Khiêm, Đoàn Thị Huệ, Nguyễn Hoàng Yến, Nguyễn Văn Tuấn: Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm SF36 ở người mất ngủ tại xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tạp chí y học Việt Nam. 2023;526(5):325-328.

4. Wang  Z,  Chen  B,  Li  W,  Xie  F,  Loke  AY,  Shu Q.Sleep  quality and its impacts on quality of life among military personnel in remote frontier areas and  extreme  cold  environments. Health  Qual  Life Outcomes.  2020;18(1):227.  doi:10.1186/s12955-020-01460-7.

5. Hatoum HT, Kong SX, Kania CM, Wong JM, Mendelson WB. Insomnia, health-related quality of life and healthcare resource consumption: a study of managed-care organisation enrollees. Pharmacoeconomics 1998;14:629–37.

6. Léger D, Janus C, Pellois A, Dreyfus JP. Using DSM-IV to assess insomnia in epidemiological surveys [abstract]. Sleep Res 1995; 24A:481.

7. Léger D, Guilleminault C, Defrance R, Domont A, Paillard M. Blindness and sleep patterns. Lancet 1996;348:830–1.

8. David  J.Kupfer,  Darrel  A.Regier. Diagnostic and   Statistical   Manual   of   Mental   Disorders. Insomnia Disorder, P362. 5th ed.; 2014.

9. Mellinger GD, Balter MB, Uhlenhuth EH. Insomnia and its treatment. Arch Gen Psychiatry 1985;42:225–32.

10. Ford DE, Kamerow DB. Epidemiologic study of sleep disturbances and psychiatric disorders: an opportunity for prevention? JAMA 1989;262:1479–84.

11. Katz DA, Mc Horney CA. Clinical correlates of insomnia in patients with chronic illnesses. Arch Intern Med 1998;158: 1099–107.

12. Bonnet MH, Arand DL. Heart rate variability in insomniacs and matched normal sleepers. Psychosom Med 1998;60:610–5.

13. Olfson M, Wall M, Liu SM, Morin CM, Blanco C.Insomnia  and  Impaired  Quality  of  Life  in  the United    States. J Clin     Psychiatry.    2018;79(5):17m12020. doi:10.4088/JCP.17m12020.

14. Taddei-Allen  P. Economic burden and managed care considerations for the treatment of insomnia. Am  J  Manag  Care.  2020;26(4  Suppl):S91-S96. doi:10.37765/ajmc.2020.43008.

15. Wickwire  EM,  Shaya FT,  Scharf  SM. Health economics of insomnia treatments: The return on investment  for  a  good  night’s  sleep. Sleep  Med Rev. 2016;30:72-82. doi:10.1016/j.smrv.2015.11.004.

16. Léger  D,  Scheuermaier  K,  Philip  P,  Paillard M,  Guilleminault  C. SF-36: evaluation of quality of  life  in  severe  and  mild  insomniacs  compared with good sleepers. Psychosom Med. 2001;63(1):49-55. doi:10.1097/00006842-200101000-00006.

17. Pachikian   BD,   Copine   S,   Suchareau   M, Deldicque  L. Effects of Saffron Extract on Sleep Quality:  A  Randomized  Double-Blind  Controlled Clinical   Trial. Nutrients.   2021;13(5):1473.   doi:10.3390/nu13051473.

18. Nguyen  V,  George  T,  Brewster  GS.Insomnia in Older Adults. Curr Geriatr  Rep. 2019;8(4):271-290. doi:10.1007/s13670-019-00300-x.


 [CĐ1]Xem lại cách trích dẫn, đặt dấu chấm sau trích dẫn, rà soát lại toàn bộ bài báo

 [CĐ2]Bổ sung Mục Đạo đức nghiên cứu: trong đó viết rõ số quyết định đạo đức nghiên cứu (nếu có)

 [CĐ3]Mô tả rõ hơn các test thống kê đã xử lý phân tích

 [CĐ4]Phần này xem xét bỏ, bài báo đang quá dài, phần này không tập trung vào nội dung chính của bài báo

 [CĐ5]Ý muốn nói tời BV ở ngoại thành?

 [CĐ6]Cần bàn luận với kết quả này thì vai trò của điều dưỡng như thế nào?

 [CĐ7]Viết lại cách diễn đạt của đoạn này

 [CĐ8]Xem lại diễn đạt câu văn


Tin liên quan

Tin mới