ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẤT NGỦ THEO THANG ĐIỂM SF-36 ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất trong dân số nói chung, ước tính mất ngủ ảnh hưởng đến 22,1% dân số tại Hoa Kỳ[1]. Một người được coi là mất ngủ nếu họ ngủ ít hơn bình thường từ 2 giờ trở lên. Mất ngủ bao gồm các dấu hiệu sau: khó vào giấc ngủ (từ sau 30 phút kể từ khi lên giường ngủ mà không ngủ được), mất ngủ giữa giấc (đang ngủ thì tỉnh giấc và phải mất một thời gian dài mới ngủ lại được) hoặc mất ngủ cuối giấc (thức dậy sớm hơn so với bình thường mà không ngủ lại được), khi tất cả các dạng mất ngủ này nặng lên, người bệnh sẽ mất ngủ hoàn toàn; các triệu chứng này cần tồn tại ít nhất 3 tháng theo tiêu chuẩn của DSM-V [8].
Mất ngủ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự mất mát hàng năm về tuổi thọ do mất ngủ lớn hơn sự mất mát do các tình trạng bệnh lý cơ thểvà tâm thần khác, bao gồm viêm khớp, trầm cảm và tăng huyết áp.[13] [CĐ1] Mất ngủ ngoài những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất của người bệnh còn ảnh hưởng lớn sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội của người bệnh.[14] Hơn nữa, mất ngủ còn gây ra áp lực chi phí trực tiếp và gián tiếp cho người bệnh, dự kiến ở Hoa Kỳ, chi phí vượt quá 100 tỷ đô la hàng năm cho việc điều trị mất ngủ.[15]
Mặc dù mất ngủ gây suy giảm đáng kể chức năng nghề nghiệp, xã hội của người bệnh trong cuộc sống hằng ngày; vấn đề này đã được các tác giả trên thế giới nghiên cứu nhiều như Léger và cộng sự [16], hay của Pachikian và cộng sự[17]. Tuy nhiên ở Việt Nam có ít nghiên cứu về vấn đề này. Các dữ kiện về mức độ suy giảm chức năng cuộc sống ở người bệnh mất ngủ, mối liên quan giữa mức độ ảnh hưởng của mức độ nặng của mất ngủ và sự suy giảm chức năng người bệnh còn thiếu. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: “Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mất ngủ đang điều trị tại khoa y học cổ truyền theo thang điểm SF-36”.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng: Người bệnh mất ngủ
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu, đủ tiêu chuẩn chẩn đoán là mất ngủ, theo tiêu chuẩn của DSM V (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders V: Tài liệu chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản thứ 5).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có các bệnh cơ thể nặng kèm theo làm hạn chế khả năng giao tiếp của người bệnh.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại khoa y học cổ truyền, bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2 từ tháng 2/2024 đến tháng 5/2024.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu : Chọn mẫu toàn bộ, lấy tất cả các người bệnh đang điều trị tại khoa y học cổ truyền trong thời gian nghiên cứu và và thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn đều được đưa vào nghiên cứu. Tổng số người bệnh là 50 người.
2.3.3.Công cụ thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá:
1. PSQI (Pittsburgh Sleep Quality Index) là thang đánh giá chất lượng giấc ngủ thường được dùng trong lâm sàng. PSQI là thang tự đánh giá bao gồm 7 thành phần và cấu thành 3 yếu tố lớn: hiệu quả giấc ngủ, chất lượng giấc ngủ và rối loạn hàng ngày. Mỗi mục có điểm từ 0 –3, số điểm PSQI được tính bằng cách lấy tổng của bảy điểm thành phần, cho ta một điểm số từ 0 –21, trong đó điểm số càng cao thể hiện một chất lượng giấc ngủ càng kém. Độ nhạy 89,6%, độ đặc hiệu 86,5%.[18] Điểm đánh giá như sau:0 –4: Không rối loạn giấc ngủ≥ 5: Rối loạn giấc ngủ [8].
2. Bộ câu hỏi Short form 36 (SF -36) là một công cụ được phát triển bởi nhóm nghiên cứu y tế (Medical Outcomes Study -MOS) thuộc tập đoàn RAND. SF -36 gồm 36 câu hỏi đánh giá về sức khoẻ thể chất (hoạt động thể chất, hạn chế do sức khỏe thể chất, cảm giác đau, tình trạng sức khỏe chung) và về sức khoẻ tinh thần (năng lượng, chức năng xã hội, hạn chế do vấn đề cảm xúc, tình trạng tinh thần). Mỗi câu trả lời đều có điểm số thay đổi từ 0 đến 100. Điểm càng cao thì xác định tình trạng sức khỏe càng tốt. Trên cơ sở điểm trung bình chung, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được phân loại thành 3 mức như sau:
Từ 0 đến ≤ 25 điểm: Chất lượng cuộc sống thấp.Từ 25 đến 75 điểm: Chất lượng cuộc sống trung bình. Từ > 75 điểm: Chất lượng cuộc sống cao.
2.3.4. Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập, làm sạch và nhập bằng phần mềm Epi Data và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0[CĐ2] .[CĐ3]
3. KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu (n = 50)
|
Đặc điểm chung |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
|
|
Giới tính |
Nam |
12 |
24 |
|
Nữ |
38 |
76 |
|
|
Trình độ học vấn |
Tiểu học |
33 |
66 |
|
Trung học cơ sở |
4 |
8 |
|
|
Trung học phổ thông |
1 |
2 |
|
|
Đại học/ Cao đẳng |
1 |
1 |
|
|
Mù chữ |
11 |
22 |
|
|
Nghề nghiệp |
Nông dân |
46 |
92 |
|
Công dân |
1 |
2 |
|
|
Viên chức nhà nước |
1 |
2 |
|
|
Hưu trí |
2 |
4 |
|
|
Nhóm tuổi |
18-45 |
3 |
6 |
|
46-59 |
5 |
10 |
|
|
≥ 60 |
42 |
84 |
|
|
Tuổi trung bình |
73.5±13.7 |
||
|
PSQI |
16.6±3.97 |
||
Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh nữ chiếm 76%, nam 24%. Đa số người bệnh có trình độ tiểu học (chiếm 66%) cao nhất trong các nghề nghiệp. Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỉ lệ cao nhất 84%, điểm PSQI trung bình là 16.6±3.97 .
Bảng 2. Đặc điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm SF-36 (n = 50)
|
Thang điểm SF-36 |
X̅± SD |
||
|
Sức khỏe thể chất |
Hoạt động thể chất |
69.3±23.9 |
64.7±17.0 |
|
Hạn chế do sức khỏe thể chất |
81.8±28.1 |
||
|
Cảm giác đau |
67.1±19.2 |
||
|
Tình trạng sức khỏe chung |
40.6±49.3 |
||
|
Sức khỏe tinh thần |
Năng lượng |
43±11.1 |
59.9±16.6 |
|
Chất năng xã hội |
67.5±47.1 |
||
|
Hạn chế do vấn đề cảm xúc |
81.3±30.9 |
||
|
Tình trạng tinh thần |
48±10.7 |
||
|
Tổng điểm SF-36 |
62.3±13.5 |
||
Nhận xét: Bệnh nhân nghiên cứu có điểm chất lượng cuộc sống theo SF-36 là 62.3±13.5 (mức độ trung bình). Điểm chất lượng sức khỏe tinh thần trung bình là 59.9±16.6, thấp hơn điểm trung bình chất lượng sức khỏe thể chất 64.7±17.0 .
Biểu đồ1. Phân bố mức độ chất lượng cuộc sống theo SF -36 (n = 50)
Nhận xét: Đa số bệnh nhân nghiên cứu có chất lượng cuộc sống theo SF-36 ở mức trung bình (92%). Không có bệnh nhân nào có chất lượng cuộc sống thấp. Chỉ có 8% bệnh nhân có chất lượng cuộc sống cao.
Bảng 4. Mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 và tình trạng mất ngủ theo thang đo PSQI
|
Chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 |
Tình trạng mất ngủ (thao đo PSQI) |
|
|
r |
p |
|
|
Sức khỏe thể chất |
-0.624 |
<0.01 |
|
Sức khỏe tinh thần |
-0.729 |
<0.01 |
|
Tổng điểm SF-36 |
-0.840 |
<0.01 |
Nhận xét: PSQI và sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và tổng điểm SF –36 có mối tương quan chặt chẽ, đều với giá trị p < 0,01.
4. BÀN LUẬN
Về phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn ra 50 cá nhân có sự xuất hiện và mức độ nghiêm trọng của rối loạn giấc ngủ. Chúng tôi đã sử dụng bảng câu hỏi PSQI dựa trên tiêu chí DSM-IV để xác định những người mắc chứng mất ngủ. Hơn nữa, chúng tôi đã không điều tra nguyên nhân gây mất ngủ trong nghiên cứu này và một số đối tượng có thể bị rối loạn giấc ngủ do các bệnh tế bào. Tuy nhiên, chúng tôi đã sử dụng và xác nhận ước tính này trong các nghiên cứu sâu rộng [6], [7]; nó được coi là phù hợp vì mục đích của nghiên cứu không phải là phân biệt chứng mất ngủ nguyên phát hay thứ phát mà là đánh giá hậu quả của việc ngủ kém đối với chất lượng cuộc sống. Chúng tôi cũng muốn tránh một số yếu tố gây nhầm lẫn trong việc xác định hậu quả ban ngày của chứng mất ngủ. Rối loạn trầm cảm hoặc lo âu có thể có tác động đáng kể đến hoạt động ban ngày của đối tượng và do đó gây ra sự suy giảm đáng kể về chất lượng cuộc sống, đặc biệt là khi đánh giá sức khỏe tâm thần và vai trò của các khía cạnh cảm xúc. Đây là lý do tại sao chúng tôi loại những bệnh nhân có biểu hiện rối loạn trầm cảm hoặc lo âu khỏi nhóm của mình. Tuy nhiên, người ta đã chứng minh rằng chứng mất ngủ và các rối loạn tâm thần như lo lắng và trầm cảm có mối liên hệ với nhau. Mellinger và cộng sự. [9] nhấn mạnh “mất ngủ có thể là nguyên nhân hoặc hậu quả của những rắc rối tâm lý xuất hiện một cách tình cờ”. Ngoài ra, Ford và Kamerow [10] đã chứng minh trong một nghiên cứu tiền cứu rằng những người mất ngủ không điều trị có nguy cơ phát triển trầm cảm và nghiện rượu cao gấp 4,5 lần so với những người mất ngủ được điều trị.[CĐ4]
Trong 50 người bệnh nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nam : nữ là 1 : 3. Tỷ lệ này khác nhau giữa các nghiên cứu, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của các người bệnh là 73.5±13.7, trong đó đa số là người cao tuổi. Số người từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ 84%, trong đó chỉ có 3 người từ 18 đến 45 tuổi (6,0%). Đây là điều dễ hiểu và phù hợp với đa số các nghiên cứu khác trên thế giới vì mất ngủ ở cộng đồng thường gặp ở người cao tuổi. Tác giả Vivian và cộng sự trong nghiên cứu năm 2019 thấy rằng có đến 52,9% số người từ 60 đến 79 tuổi có mất ngủ.[18] Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại khoa y học cổ truyền và bệnh viện ở nông thôn [CĐ5] nên đa số người bệnh có nghề nghiệp là nông dân (92,0%), đồng thời xét về trình độ học vấn của họ thì phần lớn chỉ học hết tiểu học (66,0%), có 11 người không biết chữ chiếm 22%. Điều này là do các đối tượng nghiên cứu đa số có tuổi cao, họ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp của Việt Nam, sau đó lại đến thời kỳ kinh tế khó khăn lúc chế độ bao cấp, dẫn đến là người dân nông thôn Việt Nam ở lứa tuổi đó thường chỉ được học tập ít, đến bậc tiểu học. Chất lượng cuộc sống là một hiện tượng đa chiều được sử dụng để miêu tả nhận thức, sự hài lòng cá nhân và phản ánh các khía cạnh khác nhau của cuộc sống như khả năng hoạt động, tâm lý, cảm xúc cũng như các mối quan hệ xã hội.
Theo bảng 2, chất lượng cuộc sống trung bình của người bệnh mất ngủ theo thang SF-36 là 62.3±13.5 (mức trung bình). Điểm chất lượng sức khỏe tinh thần trung bình là 59.9±16.6, thấp hơn điểm trung bình chất lượng sức khỏe thể chất (64.7±17.0), kết quả này có thể là do đa số người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi nghề nghiệp là nông dân (92%) lao động tay chân nhiều và ít thời gian cho các hoạt động vui chơi giải trí nên sức khỏe thể chất cao hơn sức khỏe tinh thần. Cũng cùng lí do trên, điểm hoạt động thể chất ở người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là 69.3±23.9; cảm giác đau là 67.1±19.2; tình trạng sức khỏe chung là 40.6±49.3; chức năng xã hội là 63,0 ± 16,2, tình trạng tinh thần là 66,6 ± 6,2 thấp hơn nghiên cứu của Léger và cộng sự.[2] Theo số liệu từ biểu đồ 1, đa số người bệnh có chất lượng giấc ngủ trung bình (92%) và không có người bệnh nào có chất lượng cuộc sống ở mức thấp. Và tỉ lệ phân bố này cũng tương tự như nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mất ngủ trong cộng đồng được thực hiện bởi Ngô Tuấn Khiêm và cộng sự.[3] [CĐ6]
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có mối tương quan nghịch biến giữa mức độ mất ngủ theo thang PSQI và điểm chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 (r = -0.840;p<0,01).Kết quả tương tự khi đánh giá mối tương quan này đối với SF-36 thể chất và SF-36 tinh thần với hệ số tương quan theo thứ tự là r = -0.624 và r = -0.729 (p <0,01), điều này có nghĩa là khi tình trạng mất ngủ càng nặng thì chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy giảm càng nhiều. Điều này phù hợp với các nghiên cứu khác trên thế giới, chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Wang và cộng sự năm 2020.[4] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các rối loạn lâm sàng có liên quan đến giấc ngủ kém [11]. Ngược lại, chứng mất ngủ cũng bị nghi ngờ là nguyên nhân thúc đẩy các bệnh lý lâm sàng và tâm thần [10], [12]. Một khía cạnh thú vị của cuộc tranh luận đó được minh họa trong thang đo SF-36 thông qua mối quan hệ giữa chứng mất ngủ và cơn đau cơ thể. Đau nhức cơ thể do nhiều bệnh khác nhau (tim, hô hấp, bệnh khớp và những bệnh tương tự) tất nhiên có thể dẫn đến ngủ kém và đồng thời chất lượng cuộc sống kém[CĐ7] ; tuy nhiên, cũng có thể tình trạng thiếu ngủ và ngủ kém có thể làm tăng độ nhạy cảm của người mất ngủ với cơn đau. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng mất ngủ và cơn đau cơ thể. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa khẳng định được chất lượng cuộc sống kém ở những người mất ngủ trầm trọng là do ngủ kém hay do sức khỏe kém dẫn đến ngủ kém hơn. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng mất ngủ và chất lượng cuộc sống. Chứng mất ngủ càng nghiêm trọng thì chất lượng cuộc sống càng tệ. Nghiên cứu của Hatoum et alnhận thấy rằng sau khi kiểm soát các biến số nhân khẩu học và tình trạng bệnh đi kèm, mối liên hệ tiêu cực của chứng mất ngủ vẫn có ý nghĩa trong điểm số SF-36 của tất cả những người tham gia [5]. Khi đó, có vẻ như ngoài việc chất lượng cuộc sống bị suy giảm do các bệnh khác, chứng mất ngủ còn xuất hiện như một yếu tố độc lập có thể giải thích cho chất lượng cuộc sống tồi tệ hơn của những người mất ngủ khi so sánh với những người ngủ ngon. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng đối với các bác sĩ trong việc điều tra cẩn thận lời phàn nàn về chứng mất ngủ.[CĐ8]
KẾT LUẬN
Đa số những người mất ngủ có nghề nghiệp nông dân là những người cao tuổi, thường thấy nhiều hơn ở nữ, thang điểm đánh giá mất ngủ PSQI trung bình là 16.6±3.97 điểm. Đa số người bệnh có điểm chất lượng cuộc sống theo SF-36 ở mức độ trung bình (62.3±13.5), mức độ suy giảm về sức khỏe thể chất thấp hơn sức khỏe tâm thần. Mối tương quan nghịch biến giữa mức độ mất ngủ theo thang PSQI và điểm chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 bệnh nhân càng mất ngủ nặng thì mức độ suy giảm chất lượng cuộc sống càng nhiều.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Appleton SL, Reynolds AC, Gill TK, Melaku YA, Adams RJ. Insomnia Prevalence Varies with Symptom Criteria Used with Implications for Epidemiological Studies: Role of Anthropometrics, Sleep Habit, and Comorbidities. Nat Sci Sleep. 2022;14:775-790. doi:10.2147/NSS.S359437.
2. Léger D, Scheuermaier K, Philip P, Paillard M, Guilleminault C. SF-36: evaluation of quality of life in severe and mild insomniacs compared with good sleepers. Psychosom Med. 2001;63(1):49-55. doi:10.1097/00006842-200101000-00006.
3. Ngô Tuấn Khiêm, Đoàn Thị Huệ, Nguyễn Hoàng Yến, Nguyễn Văn Tuấn: Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm SF36 ở người mất ngủ tại xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tạp chí y học Việt Nam. 2023;526(5):325-328.
4. Wang Z, Chen B, Li W, Xie F, Loke AY, Shu Q.Sleep quality and its impacts on quality of life among military personnel in remote frontier areas and extreme cold environments. Health Qual Life Outcomes. 2020;18(1):227. doi:10.1186/s12955-020-01460-7.
5. Hatoum HT, Kong SX, Kania CM, Wong JM, Mendelson WB. Insomnia, health-related quality of life and healthcare resource consumption: a study of managed-care organisation enrollees. Pharmacoeconomics 1998;14:629–37.
6. Léger D, Janus C, Pellois A, Dreyfus JP. Using DSM-IV to assess insomnia in epidemiological surveys [abstract]. Sleep Res 1995; 24A:481.
7. Léger D, Guilleminault C, Defrance R, Domont A, Paillard M. Blindness and sleep patterns. Lancet 1996;348:830–1.
8. David J.Kupfer, Darrel A.Regier. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. Insomnia Disorder, P362. 5th ed.; 2014.
9. Mellinger GD, Balter MB, Uhlenhuth EH. Insomnia and its treatment. Arch Gen Psychiatry 1985;42:225–32.
10. Ford DE, Kamerow DB. Epidemiologic study of sleep disturbances and psychiatric disorders: an opportunity for prevention? JAMA 1989;262:1479–84.
11. Katz DA, Mc Horney CA. Clinical correlates of insomnia in patients with chronic illnesses. Arch Intern Med 1998;158: 1099–107.
12. Bonnet MH, Arand DL. Heart rate variability in insomniacs and matched normal sleepers. Psychosom Med 1998;60:610–5.
13. Olfson M, Wall M, Liu SM, Morin CM, Blanco C.Insomnia and Impaired Quality of Life in the United States. J Clin Psychiatry. 2018;79(5):17m12020. doi:10.4088/JCP.17m12020.
14. Taddei-Allen P. Economic burden and managed care considerations for the treatment of insomnia. Am J Manag Care. 2020;26(4 Suppl):S91-S96. doi:10.37765/ajmc.2020.43008.
15. Wickwire EM, Shaya FT, Scharf SM. Health economics of insomnia treatments: The return on investment for a good night’s sleep. Sleep Med Rev. 2016;30:72-82. doi:10.1016/j.smrv.2015.11.004.
16. Léger D, Scheuermaier K, Philip P, Paillard M, Guilleminault C. SF-36: evaluation of quality of life in severe and mild insomniacs compared with good sleepers. Psychosom Med. 2001;63(1):49-55. doi:10.1097/00006842-200101000-00006.
17. Pachikian BD, Copine S, Suchareau M, Deldicque L. Effects of Saffron Extract on Sleep Quality: A Randomized Double-Blind Controlled Clinical Trial. Nutrients. 2021;13(5):1473. doi:10.3390/nu13051473.
18. Nguyen V, George T, Brewster GS.Insomnia in Older Adults. Curr Geriatr Rep. 2019;8(4):271-290. doi:10.1007/s13670-019-00300-x.
[CĐ1]Xem lại cách trích dẫn, đặt dấu chấm sau trích dẫn, rà soát lại toàn bộ bài báo
[CĐ2]Bổ sung Mục Đạo đức nghiên cứu: trong đó viết rõ số quyết định đạo đức nghiên cứu (nếu có)
[CĐ3]Mô tả rõ hơn các test thống kê đã xử lý phân tích
[CĐ4]Phần này xem xét bỏ, bài báo đang quá dài, phần này không tập trung vào nội dung chính của bài báo
[CĐ5]Ý muốn nói tời BV ở ngoại thành?
[CĐ6]Cần bàn luận với kết quả này thì vai trò của điều dưỡng như thế nào?
[CĐ7]Viết lại cách diễn đạt của đoạn này
[CĐ8]Xem lại diễn đạt câu văn
Tin liên quan
-
To describe postoperative complications and nursing care practices among high-risk women following cesarean section at a tertiary referral...
-
EVALUATION OF THE EFFECTIVENESS OF HEMODIALYSIS USING SINGLE-USE DIALYZERS THROUGH THE KT/V INDEX AT THE NEPHRO - UROLOGY DEPARTMENT IN 2025
This study aimed to evaluate the effectiveness of hemodialysis using single-use dialyzers in patients undergoing maintenance hemodialysis at... -
EXPERIENCES OF MEDICATION ERRORS IN CLINICAL PRACTICE AMONG NURSING STUDENTS: A QUALITATIVE STUDY IN HO CHI MINH CITY
This study explores the experiences and perceptions of nursing students, nursing lecturers, and clinical nurses regarding the factors... -
EMOTIONAL LABOR AND IT’S A SSOCIATED FACTORS AMONG NURSES: A CROSS- SECTIONAL AT THE NATIONAL HOSPITAL OF ENDOCRINOLOGY IN 2025
To describe the status of emotional labor among nurses and analyze related factors at the National Endocrinology Hospital... -
RESULTS OF AIDET BASED COMMUNICATION PRACTICE AMONG NURSES, MIDWIVES, AND MEDICAL TECHNICIANS AT VINMEC SMART CITY HOSPITAL IN 2025
(i) To describe the level of AIDET-based communication practice among nurses, midwives, and medical technicians; and (ii) to...
Tin mới
-
Thầy thuốc Ưu tú Ngô Thị Mai Hương - Người giữ bình an cho những lần chào đời
Hơn 30 năm công tác trong ngành y, Thầy thuốc Ưu tú Ngô Thị Mai Hương, Trưởng phòng...06/03/2026 15:29 -
THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHỐI NGOẠI, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cho...06/03/2026 10:16 -
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẤT NGỦ THEO THANG ĐIỂM SF-36 ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN
TÓM TẮT Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất trong dân số nói chung,...06/03/2026 10:43 -
RESULTS OF AIDET BASED COMMUNICATION PRACTICE AMONG NURSES, MIDWIVES, AND MEDICAL TECHNICIANS AT VINMEC SMART CITY HOSPITAL IN 2025
(i) To describe the level of AIDET-based communication practice among nurses, midwives, and medical technicians; and (ii) to...05/03/2026 15:38 -
EMOTIONAL LABOR AND IT’S A SSOCIATED FACTORS AMONG NURSES: A CROSS- SECTIONAL AT THE NATIONAL HOSPITAL OF ENDOCRINOLOGY IN 2025
To describe the status of emotional labor among nurses and analyze related factors at the National Endocrinology Hospital...05/03/2026 14:00 -
EXPERIENCES OF MEDICATION ERRORS IN CLINICAL PRACTICE AMONG NURSING STUDENTS: A QUALITATIVE STUDY IN HO CHI MINH CITY
This study explores the experiences and perceptions of nursing students, nursing lecturers, and clinical nurses regarding the factors...05/03/2026 14:09 -
EVALUATION OF THE EFFECTIVENESS OF HEMODIALYSIS USING SINGLE-USE DIALYZERS THROUGH THE KT/V INDEX AT THE NEPHRO - UROLOGY DEPARTMENT IN 2025
This study aimed to evaluate the effectiveness of hemodialysis using single-use dialyzers in patients undergoing maintenance hemodialysis at...05/03/2026 12:13 -
THE CURRENT STATUS OF POSTOPERATIVE CARE FOR HIGH-RISK WOMEN AFTER CESAREAN SECTION AT THE OBSTETRICS DEPARTMENT, BACH MAI HOSPITAL, VIETNAM, 2024
To describe postoperative complications and nursing care practices among high-risk women following cesarean section at a tertiary referral...05/03/2026 12:27 -
COMPREHENSIVE NURSING CARE FOR PATIENTS WITH 46,XY DISORDERS OF SEX DEVELOPMENT (COMPLETE ANDROGEN INSENSITIVITY SYNDROME): A CASE REPORT
Complete androgen insensitivity syndrome (CAIS) is a rare 46,XY disorder of sex development (DSD) caused by pathogenic mutations...05/03/2026 12:13 -
ÁP DỤNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ VÀ RA QUYẾT ĐỊNH (I-DECIDED) TRONG CHĂM SÓC ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2023
TÓM TẮT Theo dõi và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (TMNV) là một trong những...05/03/2026 12:30 -
KNOWLEDGE AND ATTITUDES TOWARD ANAPHYLAXIS PREVENTION AND MANAGEMENT OF NURSES, MIDWIVES, AND TECHNICIANS AT VINMEC SMART CITY HOSPITAL IN 2025
(i) To describe the level of knowledge and attitudes regarding anaphylaxis prevention and management among nurses, midwives, and...05/03/2026 11:25 -
KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA ĐIỀU DƯỠNG TRONG VIỆC CHUẨN BỊ VÀ THỰC HIỆN THUỐC QUA ĐƯỜNG TĨNH MẠCH
TÓM TẮT Xem lại hướng dẫn của tòa soạn. Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang,...05/03/2026 11:12 -
HEALTHCARE STUDENTS' READINESS FOR FRONTLINE RESPONSE DURING HEALTH EMERGENCIES: LESSONS FROM THE COVID-19 PANDEMIC IN VIETNAM
This study aims to guide nursing education programs on enhancing healthcare students' readiness for frontline support during future...05/03/2026 11:35 -
THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHỐI NGOẠI, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2024
TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cho...05/03/2026 10:33














