SỰ TỰ TIN TRONG THỰC HÀNH KỸ NĂNG LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ, THIẾT BỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2024

TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả mức độ tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức, và xác định các yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 54 sinh viên điều dưỡng năm 3, sử dụng bộ công cụ NCSES (Nursing Care Self-Efficacy Scale) đã được dịch và chuẩn hóa. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0, sử dụng các thống kê mô tả và kiểm định t-test để tìm mối liên quan giữa mức độ tự tin và các yếu tố. Kết quả: Điểm tự tin trung bình của sinh viên là 7,85 ± 1,1, tương ứng mức "Tự tin". Các kỹ thuật cơ bản như đo dấu hiệu sinh tồn (9,67 điểm) có mức độ tự tin cao nhất, trong khi kỹ thuật phức tạp như hồi sức tim phổi (5,35 điểm) có mức tự tin thấp. Yếu tố tích cực tham gia thảo luận, việc chuyên cần tham gia các buổi học lâm sàng và phương pháp giảng dạy phù hợp có tác động tích cực đến mức độ tự tin của sinh viên.

Kết luận: Nghiên cứu khẳng định vai trò của thực hành lâm sàng, sự hướng dẫn từ giảng viên, nỗ lực từ bản thân và môi trường học tập trong việc nâng cao sự tự tin của sinh viên điều dưỡng.

Từ khóa: tự tin, thực hành kỹ năng lâm sàng, sinh viên điều dưỡng, NCSES

ABSTRACT:

Objective: To describe the level of self-eficacy in clinical skill practice among nursing students at Viet Duc Medical and Equipment College and identify related factors.

Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 54 third-year nursing students using the Nursing Care Self-Efficacy Scale (NCSES), which had been translated and validated. Data were analyzed using SPSS 22.0, employing descriptive statistics and t-tests to identify associations between self-confidence levels and related factors.

Results: The students' average self-efficacy score was 7.85 ± 1.1, corresponding to the "Confidence" level. Basic techniques such as vital sign measurement (9.67 points) had the highest confidence scores, while complex techniques like cardiopulmonary resuscitation (5.35 points) showed lower confidence levels. Male students and those with high academic performance were more confident than female students, Active participation in discussions, diligent participation in clinical sessions and encouragement from lecturers and appropriate teaching methods have a positive impact on students' confidence levels and those with average academic performance (p<0.05). Encouragement from instructors and appropriate teaching methods positively impacted students' confidence.

Conclusion: The study emphasizes the role of clinical practice, instructor guidance, and a supportive learning environment in enhancing nursing students' self-efficacy.

Keywords: self-efficacy, clinical skill practice, nursing students, NCSES

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều dưỡng đóng vai trò thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt tại Việt Nam, nơi thời gian tiếp xúc của người bệnh với điều dưỡng thường cao gấp 6-8 lần so với bác sĩ. Sự tự tin trong thực hành lâm sàng không chỉ quyết định chất lượng chăm sóc mà còn phản ánh năng lực của người điều dưỡng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sinh viên (SV) điều dưỡng, đặc biệt ở giai đoạn thực tập lâm sàng, thường thiếu tự tin, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đưa ra quyết định và hiệu quả chăm sóc.

Tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức, chưa có nghiên cứu nào đánh giá mức độ tự tin của sinh viên điều dưỡng khi thực hành lâm sàng. Vì vậy, nghiên cứu này với 2 mục tiêu:

1. Mô tả mức độ tự tin của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức năm 2024.

2. Xác định các yếu tố liên quan đến sự tư tin của sinh viên, từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn để cải thiện chương trình đào tạo.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2024 trên 54 SV điều dưỡng năm 3 tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm SV đã hoàn thành thực tập lâm sàng cơ bản và đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bộ công cụ NCSES với 20 câu hỏi đánh giá mức độ tự tin trong thực hành các kỹ năng lâm sàng, điểm từ 1 (không tự tin) đến 10 (rất tự tin) được đánh giá 6 mức độ:Không tự tin: < 4 điểm;Tự tin thấp: 4 đến < 5 điểm;Tự tin trung bình: 5 đến < 7 điểm;Tự tin: 7 đến < 8 điểm;Tự tin cao: 8 đến < 9 điểm;Rất tự tin: 9 đến 10 điểm.. Bộ công cụ đã được dịch và kiểm định tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng nghiên cứu[ht1] [NV2] [1].

2.3. Phương pháp phân tích số liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0. Các thống kê mô tả được sử dụng để trình bày đặc điểm đối tượng và mức độ tự tin. Kiểm định t-test và phân tích tương quan Pearson được áp dụng để xác định mối liên quan giữa mức độ tự tin và các yếu tố cá nhân, môi trường.

2.4 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo đức bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tại Quyết định số 6324/QĐ-VĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024. Quá trình nghiên cứu thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu được báo cáo với lãnh đạo nhà trường.

3. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học

Nghiên cứu được thực hiện trên 54 SV điều dưỡng năm 3 của Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức, trong đó:

  • Giới tính: Phần lớn đối tượng nghiên cứu là nữ (66,7%), nam giới chiếm 33,3%. Tỷ lệ này phản ánh sự phân bổ giới tính thường thấy trong ngành điều dưỡng tại Việt Nam, nơi nữ giới chiếm đa số.
  • Tuổi: Độ tuổi trung bình là 20,2 ± 1,2 tuổi, phần lớn SV ở độ tuổi từ 20 trở xuống (83,3%). Điều này phù hợp với giai đoạn cuối của chương trình đào tạo cao đẳng điều dưỡng.

3.1.2. Điểm trung bình học tập

  • Học lực: Đa số SV đạt học lực khá (85%), trong khi nhóm đạt học lực giỏi chiếm 9%, và nhóm trung bình chiếm 6%. Điều này cho thấy phần lớn SV có nền tảng học thuật tốt, nhưng vẫn tồn tại một số SV cần được hỗ trợ để nâng cao khả năng thực hành lâm sàng.

3.1.3. Yếu tố lựa chọn trường và ngành học

  • Có tới 40,4% SV xuất thân từ gia đình có người làm trong ngành y tế, cho thấy truyền thống gia đình là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng.
  • Phần lớn SV (84,6%) cho biết lựa chọn ngành điều dưỡng là quyết định cá nhân, cho thấy động lực và ý thức rõ ràng trong việc theo đuổi nghề nghiệp.

3.2. Mức độ tự tin của sinh viên

3.2.1. Điểm tự tin trung bình

Bảng 1. Kết quả đánh giá mức độ tự tin của sinh viên điều dưỡng trong thực hành kỹ năng lâm sàng

Mức độ tự tin

Số lượng sinh viên (n=54)

%

Điểm tự tin trung bình

Mức 1 (rất tự tin)

7

12.96

7.85 ±1.1

Mức 2 (tự tin cao)

22

40.74

Mức 3 (tự tin)

12

22.22

Mức 4 (tự tin trung bình)

13

24.07

Mức 5 (tự tin thấp)

0

0

Mức 6 (không tự tin)

0

0

 

Nhận xét: Điểm tự tin trung bình của SV là 7,85 ± 1,1, tương ứng với mức "Tự tin". Không có SV nào thuộc nhóm "Tự tin thấp" hoặc "Không tự tin". Đây là một kết quả tích cực, cho thấy chương trình đào tạo tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức có hiệu quả nhất định trong việc chuẩn bị SV cho thực hành lâm sàng.

3.2.2. Mức độ tự tin theo kỹ năng

Mức độ tự tin khác nhau giữa các kỹ năng cụ thể:

  • Kỹ thuật cơ bản: Các kỹ thuật thường xuyên được thực hành như đo dấu hiệu sinh tồn (9,67 điểm) và hỗ trợ xét nghiệm (9,33 điểm). Đạt mức tự tin cao nhất 94,4% SV tự nhận "Rất tự tin" khi thực hiện đo dấu hiệu sinh tồn.

Kỹ thuật phức tạp: Các kỹ thuật ít được thực hành hoặc yêu cầu kỹ năng cao hơn như hồi sức tim phổi (5,35 điểm) và đặt nội khí quản (5.54 điểm) có mức tự tin thấp hơn rõ rệt. Điều này phản ánh sự thiếu cơ hội thực hành hoặc các rào cản tâm lý khi tiếp cận các kỹ thuật này

 Bảng 2. Mức độ tự tin về thực hiện kỹ năng lâm sàng của ĐTNC (n=54)

Kỹ thuật

Điểm trung bình tự tin

Mức độ tự tin

Rất tự tin

n (%)

Tự tin cao

n (%)

Tự tin

n (%)

Tự tin trung bình

n (%)

Tự tin thấp

n (%)

  1. Đo dấu hiệu sinh tồn

9.67

Mức 1

51 (94.4%)

3

(5.6%)

0

(0%)

0

(0%)

0

(0%)

  1. Hỗ trợ người bệnh thực hiện cận lâm sàng ( lấy máu, lấy nước tiểu XN)

9.33

Mức 1

45 (83.3%)

7

(13%)

0

(0%)

2

(3.7%)

0

(0%)

  1. Vệ sinh tay và mang trang phục y tế

9.63

Mức 1

51

(94.4%)

2

(3.7%)

0

(0%)

1

(1.9%)

0

(0%)

  1. Vệ sinh  cá nhân cho người bệnh

8.17

Mức 2

24

(44.4%)

15

(27.8%)

8

(14.8%)

5

(9.3%)

2

(3.7%)

  1. Chuẩn bị giường bệnh (trải ga, thay ga)

9.59

Mức 1

47

(87%)

6

(11.1%)

0

(0%)

1

(1.9%)

0

(0%)

  1. Hỗ trợ người bệnh di chuyển với phương tiện hỗ trợ

9.24

Mức 1

44

(81.5%)

5

(9.2%)

2

(3.7%)

3

(5.6%)

0

(0%)

  1. Hỗ trợ người bệnh đi lại (tự đi, với nạng, với khung tập đi)

8.85

Mức 2

38

(70.4%)

6

(11.1%)

4

(7.4%)

6

(11.1%)

0

(0%)

  1. Tiêm cho người bệnh (tiêm TM, bắp, trong da, dưới da)

8.78

Mức 2

 

31

(57.4%)

16

(29.6%)

5

(9.3%)

2

(3.7%)

0

(0%)

  1. Truyền tĩnh mạch

8.5

Mức 2

29

(53.7%)

13

(24.1%)

9

(16.7%)

3

(5.6%)

0

(0%)

  1. Cho người bệnh thở oxy

8.74

Mức 2

35

(64.8%)

10

(18.5%)

4

(7.4%)

5

(9.3%)

0

(0%)

  1. Khai thông đường thở, bóp bóng

6.54

Mức 4

7

(13%)

8

(14.8%)

14

(25.9%)

22

(40.7%)

3

(5.6%)

  1. Hồi sức tim phổi cơ bản (nhận định ngừng tuần hoàn, kỹ thuật cấp cứu ngừng tuần hoàn)

5.35

Mức 4

8

(14.8%)

2

(3.7%)

9

(16.7%)

18

(33.3%)

17

(31.5%)

  1. Chuẩn bị hỗ trợ đặt nội khí quản

5.54

Mức 4

5

(9.3%)

8

(14.8%)

11

(20.4%)

16

(29.6%)

14

(25.9%)

  1. Sơ cứu vết thương, các kiểu băng bó vết thương

7.0

Mức 3

12

(22.2%)

15

(27.8%)

11

(20.4%)

12

(22.2%)

4

(7.4%)

  1. Bất động xương chi trên

6.93

Mức 4

17

(31.5%)

10

(18.5%)

7

(13%)

16

(29.6%)

4

(7.4%)

  1. Bất động xương chi dưới

6.83

Mức 4

19

(35.1%)

7

(13%)

7

(13%)

16

(29.6%)

5

(9.3%)

  1. Bất động cột sống và xương chậu

6.35

Mức 4

9

(16.7%)

12

(22.2%)

9

(16.7%)

17

(31.5%)

7

(13%)

  1. Thay băng cắt chỉ vết thương

8.22

Mức 2

26

(48.1%)

15

(27.8%)

4

(7.4%)

8

(14.8%)

1

(1.9%)

  1. Đặt ống thông dạ dày và cho ăn

6.07

Mức 4

5

(9.3%)

13

(24.1%)

10

(18.5%)

18

(33.3%)

8

(14.8%)

  1. Đặt và rút sonde tiểu

7.70

Mức 3

17

(31.5%)

17

(31.5%)

11

(20.4%)

6

(11.1%)

3

(5.6%)

 

3.2.3. Kỹ thuật chưa từng thực hiện

  • Hồi sức tim phổi: 24,07% SV chưa từng quan sát hoặc thực hiện kỹ thuật này.
  • Phụ giúp đặt nội khí quản: 7,4% SV chưa từng tiếp cận kỹ thuật này.

Các kỹ thuật này yêu cầu sự phối hợp nhóm và trang thiết bị đặc thù, điều này có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự hạn chế trong việc thực hành.

3.3. Các yếu tố liên quan đến tự tin

3.3.1. Yếu tố cá nhân

  • Giới tính: Nam SV tự tin hơn nữ SV (8,1 so với 7.73). Điều này có thể liên quan đến sự khác biệt về cách đối mặt với áp lực và môi trường thực hành.
  • Học lực: Nhóm có học lực giỏi thể hiện sự tự tin cao hơn nhóm trung bình và khá cho thấy mối liên hệ giữa thành tích học tập và sự tự tin trong thực hành.
  • Thái độ học tập:

Bảng 3. Kết quả đánh giá tự tin và việc tích cực thảo luận trên lớp (n=54)

Thảo luận trên lớp

N

Tỷ lệ (%)

Điểm tự tin trung bình

P

Tích cực thảo luận

14

25.9%

8.55±0.75

0.006

Không tích cực

40

74.1%

7.60±1.14

 

Nhận xét: Sự tích cực thảo luận trên lớp và sự chuyên cần khi đi lâm sàng là 2 yếu tố thúc đẩy tích cực đến sự tự tin của các em khi thực hành lâm sàng (P<0.05) cho thấy ngoài yếu tố môi trường thì yếu tố nỗ lực bản thân là yếu tố quan trọng

  • Kỹ năng giao tiếp: Nhóm SV nhận định có khả năng giao tiếp bệnh nhân thành thạo khi đi lâm sàng chiếm 74.1%, điểm trung bình tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng là 8.02±1.1. Nhóm nhận định bản thân giao tiếp chưa thành thạo chiếm 25.9%, điểm trung bình tự tin là 7.35±1.02. Sự tự tin khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thóng kê với p<0.05.

3.3.2. Yếu tố môi trường

  • Sự động viên từ giảng viên và điều dưỡng: Có tới 98,1% SV nhận được sự động viên. Điều này chứng minh tại trường CĐYTTBVĐ các giảng viên luôn xây dựng môi trường học tập hỗ trợ và tích cực.
  • Phương pháp giảng dạy:

Bảng 4. Kết quả đánh giá sự tự tin của sinh viên và nhận định phù hợp của phương pháp giảng dạy tiền lâm sàng (n=54).

Nhận định PP giảng tiền lâm sàng

N

Tỷ lệ (%)

Điểm tự tin trung bình

P

Nhận định phù hợp với khả năng tiếp thu

48

88.9%

8.00±1.01

0.003

Nhận định không phù hợp với khả năng tiếp thu

6

11.1%

6.60±1.25

Nhận xét: SV đánh giá phương pháp giảng dạy tiền lâm sàng phù hợp có điểm tự tin trung bình cao hơn (8.0 so với 6.6 p<0,05). Cách tiếp cận giảng dạy mang tính tương tác và thực tiễn có ảnh hưởng tích cực đến mức độ tự tin của SV.

4. BÀN LUẬN

4.1. Mức độ tự tin chung

  • Điểm tự tin trung bình của SV điều dưỡng là 7,85 ± 1,1, nằm trong mức "Tự tin". Đây là một kết quả tích cực so với các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam. Chẳng hạn, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền [3] tại Thái Nguyên chỉ ghi nhận 14,2% SV đạt mức tự tin cao, phần lớn ở mức trung bình. Điều này cho thấy chương trình đào tạo tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức đã phần nào đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực thực hành của SV.
  • Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch giữa các kỹ thuật, với sự tự tin cao tập trung ở các kỹ thuật cơ bản và sự tự tin thấp ở các kỹ thuật phức tạp. Điều này đặt ra câu hỏi về sự cân bằng trong chương trình đào tạo giữa lý thuyết và thực hành thực tế.

4.2. Mức độ tự tin theo kỹ năng

  • Các kỹ thuật như đo dấu hiệu sinh tồn (9,67 điểm) và hỗ trợ xét nghiệm (9,63 điểm) đạt mức tự tin cao nhất, phản ánh tần suất thực hành cao và tính quen thuộc của các kỹ thuật này. Ngược lại, các kỹ thuật như hồi sức tim phổi (5,68 điểm) có mức tự tin thấp hơn, điều này tương đồng với nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hà [2]) tại Tây Nguyên, nơi các kỹ thuật phức tạp như chăm sóc người bệnh hấp hối cũng có điểm tự tin thấp nhất.
  • Sự hạn chế trong việc thực hành các kỹ thuật này có thể liên quan đến thiếu môi trường mô phỏng hoặc không đủ cơ hội tiếp xúc với tình huống thực tế. Điều này cho thấy cần đầu tư hơn vào các phòng mô phỏng lâm sàng và tổ chức các khóa thực hành chuyên sâu để nâng cao sự tự tin của SV.

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tin

4.3.1. Yếu tố cá nhân

  • Nam SV có mức độ tự tin cao hơn nữ SV, phù hợp với các nghiên cứu trước đây về sự khác biệt tâm lý giữa các giới trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, do nữ giới chiếm đa số trong ngành điều dưỡng, cần tập trung hỗ trợ nhóm này, đặc biệt là trong các kỹ thuật phức tạp.
  • SV có học lực giỏi tự tin cao hơn, cho thấy vai trò quan trọng của thành tích học tập trong việc xây dựng sự tự tin. Điều này gợi ý rằng chương trình đào tạo nên bao gồm các chiến lược hỗ trợ học tập dành cho SV có học lực trung bình.
  • Yếu tố tích cực thảo luận: tỷ lệ các em tích cực thảo luận trên lớp (ghi nhận 2 câu hỏi/ tiết học) chiếm tỷ lệ còn nhỏ 25.9% tuy vậy điểm trung bình tự tin nhóm tích cực thảo luận là 8.55±0.75 cao hơn hẳn nhóm không tích cực là 7.60±1.14 và mối liên quan có ý nghĩa thông kê với P<0.05. Điều này được giải thích khi các em tích cực thảo luận 2 chiều không những nhận được những câu giải đáp thắc mắc từ giáo viên mà còn tạo thói quen chủ động trong học tập, chủ động đặt câu hỏi, chủ động tìm kiếm câu trả lời, từ đó các em sẽ củng cố kiến thức của bản thân và khi đã có kiến thức các em sẽ tự tin hơn.
  • Yếu tố chuyên cần khi đi lâm sàng: Ở 2 nhóm chuyên cần và chưa chuyên cần có sự khác biệt điểm trung bình nhóm chuyên cần là 7.9đ, nhóm chưa chuyên cần là 6.78đ, P<0.05. Chúng ta thấy được nhóm SV chuyên cần tự tin hơn hẳn so với nhóm không chuyên cần. Kinh nghiệm trực tiếp đi lâm sàng giúp rèn luyện kỹ năng và từ đó tự tin hơn khi thực hành kỹ năng lâm sàng. Trong thực tế, một việc được thực hiện nhiều lần sẽ giúp chúng ta làm thành thạo hơn, rút được nhiều kinh nghiệm hơn, các em đi học chuyên cần sẽ có nhiều hơn cơ hội tiếp xúc bệnh nhân, có hội thực hành lâm sàng các em sẽ tự tin hơn.
  • Yếu tố giao tiếp: Nhóm SV có khả năng giao tiếp thành thạo chiếm đa số (74.1%) điểm trung bình tự tin khi thực hành lâm sàng ở nhóm này là 8.02đ cao hơn hẳn so với nhóm nhận định bản thân giao tiếp chưa giao tiếp thành thạo (7.35đ) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0.05.

4.3.2. Yếu tố môi trường

  • Sự động viên từ giảng viên và điều dưỡng có tác động tích cực, phù hợp với lý thuyết của Bandura về sự tự tin, trong đó sự hỗ trợ từ người hướng dẫn giúp giảm lo lắng và tăng khả năng đối mặt với các thử thách.
  • Phương pháp giảng dạy tiền lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị SV cho thực hành thực tế. Những phương pháp tập trung vào tương tác và thực hành, chẳng hạn như học qua mô phỏng, đã được chứng minh là hiệu quả trong việc nâng cao sự tự tin [5].

4.4. Hạn chế và đề xuất

Nghiên cứu còn hạn chế về cỡ mẫu nhỏ và thiết kế cắt ngang, khó xác định quan hệ nhân quả giữa các yếu tố. Để khắc phục, cần thực hiện các nghiên cứu dọc với cỡ mẫu lớn hơn, kết hợp đánh giá cả kỹ năng thực tế lẫn mức độ tự tin, nhằm đưa ra các giải pháp cải tiến chương trình đào tạo hiệu quả hơn.

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  • SV điều dưỡng tại Trường Cao đẳng Y tế, Thiết bị Việt Đức có mức độ tự tin trung bình cao (7,85 ± 1,1), đặc biệt ở các kỹ thuật cơ bản như đo dấu hiệu sinh tồn và hỗ trợ xét nghiệm.
  • Các kỹ thuật phức tạp ít được thực hành như hồi sức tim phổi cần được chú trọng hơn trong chương trình đào tạo.
  • Sự động viên từ giảng viên và phương pháp giảng dạy phù hợp là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tự tin của SV.
  • Tăng cường thực hành: Đẩy mạnh việc tổ chức thực hành các kỹ thuật phức tạp, sử dụng mô phỏng hoặc hợp tác với các khoa lâm sàng để tạo cơ hội thực tế cho SV.
  • Hỗ trợ SV: Tăng cường động viên, đặc biệt đối với SV nữ và nhóm có học lực trung bình.
  • Phát triển chương trình giảng dạy: Nâng cao chất lượng phương pháp giảng dạy tiền lâm sàng, đảm bảo tính thực tiễn và tính tương tác.
  • Nghiên cứu tiếp theo: Thực hiện nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thiết kế nghiên cứu dọc để đánh giá sự thay đổi mức độ tự tin theo thời gian.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thị Minh Chính và cộng sự. (2022). Vai trò của thực hành mô phỏng trong nhi khoa đến sự tự tin của sinh viên đại học điều dưỡng chính quy trong thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch cho trẻ em. Tạp chí Y học Việt Nam, 517(2), 32-35.
  2. Vũ Thị Thu Hà. (2023). Mức độ tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng một số trường cao đẳng khu vực Tây Nguyên năm 2023. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 10(2023), 24-27.
  3. Nguyễn Ngọc Huyền. (2019). Sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng chính quy tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Y học Việt Nam, 47(12), 56-62.
  4. Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control. W.H. Freeman, xx-xx.
  5. Kukulu, K., et al. (2013). Self-confidence in nursing students: The role of clinical practice. Journal of Nursing Education, 52(8), 476-483.

 


 [ht1]Cần nêu phân loại mức độ tự tin (thấp/trung bình/cao…)

 [NV2]Đã bổ sung


Tin mới