MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG GIAI ĐOẠN 2022-2024
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả mức độ tham gia và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang giai đoạn 2022-2024.
Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính. Nghiên cứu được tiến hành trên 575 điều dưỡng từ tháng 01 đến tháng 3 năm 2025. Dữ liệu thu thập từ báo cáo, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0.
Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng làm chủ nhiệm đề tài chiếm 27,5%, tham gia với vai trò cộng sự đạt 67,8%. Trong giai đoạn 2022-2024, số bài báo đăng tạp chí tăng từ 11,8% lên 40,0%; báo cáo tại hội nghị tăng từ 28,6% lên 50,0%. Khối Nội – Nhi chiếm tỷ lệ cao nhất (40%) trong các đề tài do điều dưỡng làm chủ, trong đó 62,8% đề tài được đánh giá loại khá. Cácyếu tố có mối liên quan đến tham gia NCKH bao gồm độ tuổi và trình độ học vấn (p < 0,05). Các yếu tố thuận lợi gồm: hỗ trợ lãnh đạo, hướng dẫn chuyên môn, môi trường hợp tác tốt. Rào cản chính bao gồm: áp lực công việc, thiếu kinh nghiệm và tâm lý e ngại.
Kết luận: Mức độ tham gia NCKH của điều dưỡng ở mức trung bình. Cần tăng cường đào tạo, giảm tải công việc và xây dựng môi trường khuyến khích NCKH nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và phát triển nghề nghiệp điều dưỡng.
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, Yếu tố ảnh hưởng, Điều dưỡng.
ABSTRACT
Objective: To evaluate the level of participation and identify factors influencing scientific research (SR) activities among nurses at Duc Giang General Hospital during the 2022-2024 period.
Methods: A cross-sectional descriptive study using both quantitative and qualitative methods was conducted among 575 nurses between January and March 2025. Data were collected from institutional reports, in-depth interviews,and focus group discussions, and analyzed using SPSS 25.0.
Results: The proportion of nursesacting as principal investigators was 5.2%, while 67.8% participated as collaborators. From 2022 to 2024, the percentage ofjournal publications rose from 11.8% to 40.0%, and conference presentations increased from 28.6% to 50.0%. The Internal Medicine-Pediatrics department contributed the most (40%) to nurse-led projects, with 62.8% rated as "good." Age and educational level were statistically associated with research participation (p <0.05). Positive factors included administrative support, expert guidance, and a collaborative environment. Barriers were work overload, limited research experience, and psychological hesitation.
Conclusion: Nurse participation in SR is moderate. Hospitals should enhance research training, reduce workloads, and promote a supportive environment to strengthen nurse-led research and improve patient care quality.
Keywords: Scientific Research, Influencing Factors, Nursing
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu khoa học (NCKH) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chuyên môn điều dưỡng, giúp cải tiến thực hành chăm sóc, nâng cao chất lượng điều trị và góp phần vào sự phát triển của hệ thống y tế dựa trên bằng chứng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nướccho thấy tỷ lệ điều dưỡng tham gia NCKH còn khiêm tốn, dao động chỉ từ 9,2% đến 33,3% trong tổng số nghiên cứu thực hiện tại các bệnh viện [1], [3], [4].Việc hạn chế tham gia nghiên cứu không chỉ ảnh hưởng đến khả năng cập nhật tri thức, cải thiện kỹ năng chuyên môn, mà còn làm giảm tính chủ động của điều dưỡng trong đổi mới thực hành và ứng dụng tiến bộ khoa học vào chăm sóc người bệnh [2], [5].
Thực tế cho thấy, hoạt động NCKH của điều dưỡng chịu tác động bởi nhiều yếu tố như: khối lượng công việc, môi trường làm việc, trình độ chuyên môn, sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo, cũng như kỹ năng nghiên cứu và tâm lý e ngại thất bại. Trong đó, áp lực công việc và thiếu kinh nghiệm thường là các rào cản phổ biến, đặc biệt ở các bệnh viện tuyến cuối, nơi điều dưỡng tập trung chủ yếu vào chăm sóc lâm sàng hơn là nghiên cứu [2].
Tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang – một bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, đội ngũ điều dưỡng chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò then chốt trong chăm sóc toàn diện người bệnh. Giai đoan 2022-2024, bệnh viện đã ban hành các chính sách hỗ trợ thúc đẩy NCKH trong toàn viện. Tuy nhiên, theo số liệu thực tế, tỷ lệ điều dưỡng làm chủ nhiệm đề tài còn thấp; chất lượng và số lượng đề tài chưa đồng đều giữa các khối, đặc biệt ở các đơn nguyên lâm sàng. Xuất phát từ thực trạng trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm: Đánh giá mức độ tham gia và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của điều dưỡng tại Bệnh viện Đа khoa Đức Giang giai đoạn 2022–2024, từ đó để xuất các giải pháp để nâng cao năng lực và hiệu quả nghiên cứu của đội ngũ điều dưỡng trong thời gian tới.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Toàn bộ điều dưỡng tại tất cả các khoa, phòng trong bệnh viện. Nghiên cứu định tính: Lãnh đạo bệnh viện; Trưởng phòng điều dưỡng; Điều dưỡng viên tại các khoa, phòng.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01 - 03/2025 tại tất cả các khoa phòng trong Bệnh viện đa khoa Đức Giang.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính.
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng: Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, thu thập dữ liệu từ 575 điều dưỡng trên toàn bệnh viện (bao gồm 46 khoa phòng, 4 đơn nguyên và 2 đơn vi).
Nghiên cứu định tính: Tiến hành hai cuộc phỏng vấn sâu với một lãnh đạo bệnh viện và một trưởng phòng điều dưỡng; tổ chức hai nhóm thảo luận, trong đó nhóm |gồm 4 điều dưỡng đại diện cho các khối đã tham gia NCKH, và nhóm 2 gồm 4 điều dưỡng đại diện cho các khối chưa tham gia NCKH.
2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu.
Thu thập dữ liệu hồi cứu thứ cấp được cung cấp bởi Phòng Chỉ đạo tuyến. Thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
2.6. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Với nghiên cứu định lượng là kết quả điều dưỡng tham gia NCKH, nghiên cứu định tính giúp làm rõ các yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến tham gia nghiên cứu của điều dưỡng.
3. KẾT QUẢ
3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=575).
|
Đặc điểm |
Phân loại |
Số lượng (N) |
Tỷ lệ (%) |
|
Giới |
Nam |
139 |
24,2 |
|
|
Nữ |
436 |
75,8 |
|
Tuổi |
≤ 30 |
27 |
4,7 |
|
|
31–40 |
389 |
67,7 |
|
|
41–60 |
159 |
27,7 |
|
Trình độ |
Trung học, cao đẳng |
416 |
72,3 |
|
|
Đại học |
135 |
23,5 |
|
|
Sau đại học |
24 |
4,2 |
|
Khối |
PBCN |
53 |
9,2 |
|
|
LCK - CLS |
116 |
20,2 |
|
|
Ngoại - Sản |
149 |
25,9 |
|
|
Nội - Nhi |
257 |
44,7 |
Nhận xét: Trong bệnh viện, điều dưỡng nữ giới chiếm 75,8%. Hơn 3/5 điều dưỡng ở nhóm tuổi 31 - 40 tuổi (chiếm 67,7%). 72,3% điều dưỡng có trình độ trung học, cao đằng.
3.2. Mô tả mức độ tham gia hoạt động NCKH của điều dưỡng
Bảng 3.2. Phân bố đề tài NCKH của điều dưỡng theo thời gian
|
Đặc điểm |
Tổng số đề tài của BV (N) |
Điều dưỡng làm chủ đề tài (N) |
Điều dưỡng làm chủ đề tài (%) |
Điều dưỡng làm cộng sự (N) |
Điều dưỡng làm cộng sự (%) |
|
Năm 2022 |
32 |
9 |
28,1 |
25 |
78,1 |
|
Năm 2023 |
44 |
11 |
25,0 |
35 |
56,8 |
|
Năm 2024 |
51 |
15 |
29,4 |
35 |
68,6 |
|
|
Trung bình |
11,6 |
27,5 |
31,6 |
67,8 |
Nhận xét: Số lượng đề tài NCKH của bệnh viện tăng đều qua các năm, từ 32 để tài năm 2022 lên 44 để tài năm 2023 và đạt 51 để tài năm 2024. Tỷ lệ điều dưỡng làm chủ để tài trung bình là 27,5%, trong đó năm 2024 ghi nhận số lượng cao nhất với 15 để tài (29,4%). Trung bình mỗi năm, điều dưỡng tham gia với vai trò chủ nhiệm để tài và cộng sự đạt tỷ lê lần lượt là 27,5 % và 67,8%.

Biểu đồ 3.1. Số lượng Hội đồng có điều dưỡng tham gia đánh giá để tài NCKH
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng tham gia Hội đồng đánh giá đề tài có sự gia tăng: từ 21.9% trong năm 2022 lên 25.5% trong năm 2024.

Biểu đồ 3.2. Số công bốkhoa học của điều dưỡng
Nhận xét: Số lượng đăng tạp chí và báo cáo tại hội nghị, hội thảo của điều dưỡng có xu hướng tăng qua các năm: bài báo năm 2022: 2 bài (11,8%), năm 2023: 5 bài (31,3%), năm 2024: 6 bài (40,0%); Báo cáo năm 2022: 2 bài báo (28,6%), năm 2023: 4 báo cáo (44,4%), năm 2024: 4 báo cáo (50,0%).
Bảng 3.3. Kết quả NCKH do điều dưỡng làm chủ đề tài (n = 35)
|
Đặc điểm |
Phân loại |
Chủ đề tài (N) |
Chủ đề tài (%) |
|
Khối làm việc |
Phòng/Ban |
8 |
22,9 |
|
|
LCK - CLS |
9 |
25,7 |
|
|
Ngoại - Sản |
4 |
11,4 |
|
|
Nội - Nhi |
14 |
40,0 |
|
Điểm đánh giá |
Xuất sắc (>90 điểm) |
5 |
14,3 |
|
|
Tốt (80-89 điểm) |
8 |
22,9 |
|
|
Khá (79-70 điểm) |
22 |
62,8 |
Nhận xét: Trong số 35 đề tài do điều dưỡng làm chủ, khối Nội- Nhi chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,0%;Về chất lượng để tài, 62,8% các đề tài của điều dưỡng xếp loại khá.
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCКН của điều dưỡng
3.3.1. Liên quan giữa đặc điểm cá nhân với hoạt động NCKH
Bảng 3.4. Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và công việc với hoạt động NCKH
|
Các đặc điểm |
Phân loại |
Tham gia NCKH Có N (%) |
Tham gia NCKH Không N (%) |
OR 95% CI |
p* |
|
Giới |
Nữ |
25 (5,7) |
411 (94,3) |
1,6 \n0,61 – 4,34 |
0,33 |
|
Nam |
5 (3,6) |
134 (96,4) |
|||
|
Tuổi |
≤ 40 |
27 (6,5) |
389 (93,5) |
3,6 \n(1,08 – 12,07) |
0,03 |
|
41 – 60 |
3 (1,9) |
156 (98,1) |
|||
|
Trình độ chuyên môn |
Sau đại học |
8 (33,3) |
16 (66,7) |
5,6 \n(1,97 – 16,09) |
0,001 |
|
Đại học |
11 (8,1) |
124 (91,9) |
|||
|
Trung học, cao đẳng |
11 (2,6) |
405 (97,4) |
18,4 \n(6,52 – 52,02) |
<0,0001 |
|
|
Khối công tác |
PBCN |
5 (9,4) |
48 (90,6) |
1,10 \n(0,36 – 3,41) |
0,86 |
|
LCK - CLS |
10 (8,6) |
106 (91,4) |
|||
|
Ngoại – Sản |
4 (2,7) |
145 (97,3) |
3,78 \n(0,97 – 14,6) |
0,55 |
|
|
Nội - Nhi |
11 (4,3) |
246 (95,7) |
2,33 \n(0,77 – 7,01) |
0,13 |
Nhận xét: Có mối liên quan giữa độ tuổi và trình độ chuyên môn với hoạt động NCKH. Điều dưỡng ≤ 40 tuổi tham gia NCKH cao hơn 3,6 lần so với nhóm 41–60 tuổi. Điều dưỡng có trình độ sau đại học tham gia cao hơn 5,6 lần so với trình độ đại học và cao hơn 18,4 lần nhóm trung học, cao đẳng (p0,05) giữa giới và khối công tác với hoạt động NCKH.
3.3.2. Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH quа nghiên cứu định tính
* Yếu tố ảnh hưởng có tác động tích cực
100% ý kiến đều trả lời rằng "Ban lãnh đạo BVĐK Đức Giang rất quan tâm, tạo điều kiện cho công tác NCKH tại bệnh viện". "Khi có sự hướng dẫn từ chuyên gia và tài liệu tham khảo, điều dưỡng có tâm lý vững vàng hơn khi triển khai đề tài" (PVS2, TLN1). "Khi có sự phối hợp tốt giữa các đồng nghiệp và các khoa phòng, điều dưỡng cảm thấy an tâm hơn khi thực hiện nghiên cứu" (TLN1, TLN2). "Điều dưỡng có tâm lý tích cực khi xem nghiên cứu là cơ hội để nâng cao trình độ và đóng góp cho sự phát triển của ngành" (PVS1).
* Yếu tố khó khăn có tác động tiêu cực
"Khối lượng công việc điều dưỡng lớn khiến họ cảm thấy căng thẳng khi phải cân đối giữa chăm sóc người bệnh và NCKH" (TLN1, TLN2). "Nhiều điều dưỡng lo lắng vì chưa có nhiều kinh nghiệm về phương pháp NCKH" (TLN1, TLN2). "Điều dưỡng thấy lo lắng rằng kết quả nghiên cứu không đạt chất lượng mong muốn hoặc khó được ứng dụng thực tiễn"(PVS1, TLN2). "Khi bệnhviện chưa có nhiều nghiên cứu, điều dưỡng có thể cảm thấy e ngại và thiếu động lực để NCKH" (PVS1, TLN1).
4. BÀN LUẬN
4.1. Mô tả mức độ tham gia hoạt động NCKH của điều dưỡng
Nghiên cứu trên 575 điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang cho thấy trong giai đoạn 2023-2024, điều dưỡng chiếm 27,5% tổng số để tài NCKH tại bệnh viện. Năm 2024 ghi nhận số lượng NCKH và để tài do điều dưỡng làm chủ đề tài cao nhất, phản ánh xu hướng gia tăng đáng kể trong hoạt động NCKH của nhóm này. So sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của Nkrumah Isaac và cộng sự (2018) là 9,2% [6]; Nguyễn Thị Thúy (2021) tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí là 11,6% [4].Tuy nhiên, thấp hơn của Hà Hữu Tùng và cộng sự (2017) tại Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp là 33,3% [3].
Tỷ lệ điều dưỡng tham gia Hội đồng đánh giá để tài, công bố trên tạp chí và báo cáo tại hội nghị đều có xu hướng tăng qua các năm, cho thấy sự đóng góp ngày càng lớn của điều dưỡng trong nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, các đề tài do điều dưỡng làm chủ yếu tập trung vào khối Nội – Nhi, chiếm tỷ lệ cao nhất (40,0%). Điều này có thể phản ánh đặc điểm công tác của nhóm điều dưỡng này, với nhu cầu nghiên cứu các vấn đề lâm sàng phức tạp và việc chăm sóc người bệnh. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn ThịThúy (2021) tại Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí, khi nhóm điều dưỡng Nội – Nhi có tỷ lệ thực hiện NCKH cao nhất [4]. Về chất lượng nghiên cứu, tất cả các để tài của điều dưỡng được xếp loại từ khá trở lên. Điều này có thể phản ánh sự đầu tư ngày càng lớn của bệnh viện vào hoạt động nghiên cứu, cũng như năng lực nghiên cứu ngày càng nâng cao của đội ngũ điều dưỡng.
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của điều dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa nhóm tuổi và trình độ chuyên môn với hoạt động NCKH của điều dưỡng. Cụ thể, nhóm điều dưỡng ≤ 40 tuổi có tỷ lệ tham gia nghiên cứu cao hơn 3,6 lần so với nhóm 41 - 60 tuổi.Đồng thời, trình độ chuyên môn cũng là một yếu tố quan trọng, khi điều dưỡng có trình độ sau đại học tham gia NCKH cao hơn 5,6 lần so với trình độ đại học và cao hơn 18,4 lần nhóm trung học, cao đẳng. So sánh với nghiên cứu của Bibi Hølge-Hazelton (2015) tại Đan mạch, kết quả này có sự tương đồng khi nghiên cứu trước đó cũng chỉ ra rằng nhóm điều dưỡng trẻ có xu hướng tham gia NCKH nhiều hơn do khả năng tiếp cận với phương pháp NCKH hiện đại [5] và kết quả tương tự với nghiên cứu của Đoàn Thị Ngần (2018) tại bệnh viên Thống Nhất nhấn mạnh rằng trình độ chuyên môn cao hơn giúp điều dưỡng tự tin hơn khi thực hiện NCKH [2].
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động NCKH của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố. Sự quan tâm và hỗ trợ từ ban lãnh đạo đóng vai trò quan trọng, giúp điều dưỡng có động lực tham gia nghiên cứu. Bên cạnh đó, hướng dẫn từ chuyên gia, tài liệu tham khảo và sự phối hợp giữa các khoa phòng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho NCKH. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy (2021), kết quả cho thấy sự tương đồng khi nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường làm việc khuyến khích và sự hướng dẫn để tăng cường sự tự tin của điều dưỡng trong nghiên cứu [4]. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra các rào cần như áp lực công việc, thiếu kinh nghiệm NCKH và tâm lý e dè khi bệnh viện chưa có nhiều nghiên cứu trước đó. Tương tự nghiên cứu của Hà Hữu Tùng và cộng sự (2017) [3], cho thấy cần có thêm các chương trình đào tạo để khuyến khích điều dưỡng trình độ thấp hơn tham gia NCKH.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cho thấy tỷ lệ điều dưỡng tham gia nghiên cứu khoa học còn ở mức trung bình, chủ yếu thực hiện NCKH trong vai trò vai trò cộng sự. Số lượng công bố khoa học và hoạt động đánh giá nghiên cứu có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2022-2024.
Các yếu tố như tuổi dưới 40 và trình độ đại học, sau đại học có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với khả năng tham gia NCKH. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo, hướng dẫn từ chuyên gia và môi trường hợp tác tốt là những điều kiện thuận lợi. Trong khi đó, áp lực công việc, thiếu kinh nghiệm và tâm lý e ngại vẫn là rào cản lớn.
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đề nghị: Cần tăng cường các chương trình đào tạo phương pháp NCKH cho điều dưỡng, giảm tải công việc lâm sàng để tạo điều kiện nghiên cứu, và xây dựng một môi trường làm việc khuyến khích đổi mới sáng tạo và nghiên cứu. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực chuyên môn mà còn cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh trong toàn hệ thống y tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trần Quang Huy, Phạm Đức Mục, Nguyễn Bích Lưu (2010). Đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng thực hiện tại Việt Nam, giai đoạn 2004-2009. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng, Hội nghị khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần IV, tr. 15-27.
2. Đoàn Thị Ngẫn (2018). Thực trạng tham gia nghiên cứu khoa học và nhu cầu đào tạo của điều dưỡng tại bệnh viện Thống Nhất năm 2018, Luận văn Thạc sỹ quản lý Bệnh viện, rường đại học Y tế Công cộng.
3. Hà Hữu Tùng và cộng sự (2017). Thực trang hoạt động nghiên cứu khoa học tại Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp giai đoạn 2014- 2016,Tạp chíY học Việt Nam, 451 (Số đặc biệt), tr. 200-205.
4. Nguyễn Thị Thúy (2021).Thực trạng điều dưỡng tham gia nghiên cứu khoa học và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giai đoạn 2015- 2020, Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
5. Bibi Hølge-Hazelton and Connie Bøttcher Berthelsen (2015). Orthopaedic nurses' attitudes towards clinical nursing research A cross-sectional survey. Int J Orthop Trauma Nurs. 2015; 19(2), p. 74-84.
6. Nkrumah Isaac, Priebe Gunilla Atuhaire Catherine, Cumber Samuel Nambile. (2018). Barriers for purses' participation in and utilisation of clinical research in three hospitals within the Ktiması Metropolis, Ghana. The Pan African Medical Journal. 2018; p. 30.
ĐOÀN VĂN PHÚC, CHU THỊ HUYỀN , NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG, TRẦN ANH LONG, NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
Tin mới
-
Hoạt động nghiên cứu khoa học của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang giai đoạn...22/03/2026 22:47
-
Một người đàn ông trẻ ra đi, dâng tặng lại sự sống cho 6 người khác
Một người đàn ông trẻ chết não do tai nạn giao thông đã hiến tạng cho 6 người...22/03/2026 17:22 -
NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG TRONG MÙA XUÂN CHUYỂN MÌNH CỦA HỆ THỐNG Y TẾ TP.HCM
Khi sắc xuân 2026 đang rực rỡ lan tỏa khắp “siêu đô thị” TP.HCM, sau mốc son lịch...22/03/2026 15:53 -
TÔI - CHIẾC ÁO BLOUSE TRẮNG
Tôi được treo trên móc sắt, im lặng như mọi ngày. Ánh đèn phòng trực còn chưa kịp...22/03/2026 15:37 -
DẤU ẤN NỔI BẬT CỦA HỘI ĐIỀU DƯỠNG HÀ TĨNH TRONG NĂM 2025
Năm 2025 ghi dấu nhiều kết quả nổi bật của Hội Điều dưỡng Hà Tĩnh trong công tác...22/03/2026 15:34 -
CHỦ ĐỘNG PHÒNG TRÁNH DỊCH BỆNH TRONG DỊP TẾT NGUYÊN ĐÁN KHI THỜI TIẾT RÉT LẠNH KÉO DÀI
Tết Nguyên đán là dịp lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt Nam, là thời điểm...22/03/2026 15:32 -
SAU ÁNH HÀO QUANG HOA HẬU BIỂN ĐẢO: CÔNG VIỆC THẦM LẶNG CỦA NGƯỜI ĐẸP TÀI NĂNG NGUYỄN HUYỀN LINH
Khi Nguyễn Huyền Linh được xướng tên ở hạng mục Người đẹp Tài năng - Hoa hậu Biển...22/03/2026 15:29 -
THẨM MỸ VIỆT HÀN HTX: LÀM ĐẸP KHOA HỌC THEO TIÊU CHUẨN HÀN QUỐC
Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc da và trẻ hóa ngày càng gia tăng, người tiêu dùng...22/03/2026 15:26 -
HỘI ĐIỀU DƯỠNG THANH HOÁ: TẠO NỀN TẢNG VỮNG CHẮC ĐỂ NÂNG TẦM ẢNH HƯỞNG QUỐC GIA
Trong bức tranh chung của sự phát triển ngành điều dưỡng cả nước, Hội Điều dưỡng Thanh Hóa...22/03/2026 15:58 -
18 NĂM GIỮ TRỌN NGỌN LỬA NHIỆT HUYẾT VÀ TINH THẦN XUNG KÍCH VÌ CỘNG ĐỒNG
Tròn 18 năm khoác trên mình chiếc áo blouse trắng, Điều dưỡng Nguyễn Đức Ngọc (SN 1988) -...22/03/2026 14:22 -
THAY ĐỔI THÓI QUEN ĂN UỐNG ĐỂ ĐẢM BẢO SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TRONG DỊP TẾT.
Tết Nguyên đán là thời điểm sum họp, đoàn viên và cũng là mùa cao điểm của các...21/03/2026 23:51 -
BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG: “ÁP DỤNG CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ AI” MANG LẠI SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI
Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng tất yếu trong ngành y...21/03/2026 22:51 -
ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TIÊN PHONG ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO TRONG CHĂM SÓC BỆNH NHI
Trong bối cảnh hệ thống y tế đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi...21/03/2026 22:40 -
BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI HẢI DƯƠNG: NHIỀU DẤU ẤN TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU DƯỠNG
Trong lĩnh vực y tế, có thể nói rằng công tác điều dưỡng chính là “mạch ngầm” tạo...21/03/2026 22:38














