Đánh giá kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc đối với bệnh nhi hen phế quản đang điều trị tại bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản tại Khoa Nhi, Bệnh viện Trường Đại học Y- Dược Huế và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 134 người chăm sóc chính của các bệnh nhi được chẩn đoán cơn hen cấp nhập viện tại Khoa Nhi Tổng hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ 07/2023 đến tháng 7/2024.
Quan hệ của người chăm sóc với trẻ; giới, tuổi, học vấn và nghề nghiệp của người chăm sóc, tiền sử hen của giai đình không liên quan đến kiến thức về hen và kỹ năng sử dụng các dụng cụ hít của người chăm sóc (p > 0,05).
Kết luận: Cần tăng cường giáo dục sức khỏe, hướng dẫn và giám sát thường xuyên để cải thiện kiến thức và kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản.
Từ khóa: hen phế quản trẻ em, kiến thức, kỹ năng, dụng cụ hít
ABSTRACT
Objective: To describe the knowledge and practice of caregivers of children with asthma treated at the Pediatric Department, Hue University of Medicine and Pharmacy Hospital and to analyze factors influencing their knowledge and practice.
Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 134 primary caregivers of pediatric patients diagnosed with acute asthma admitted to the General Pediatrics Department, Hue University of Medicine and Pharmacy Hospital, from July 2023 to July 2024.
Results: The majority of primary caregivers were mothers (71.6%), with a mean age of 37.4 ± 7.9 years. Overall, 56% of caregivers had good knowledge; good skills in using nebulizers and metered-dose inhalers (MDIs) were recorded in 61.9% and 66.3%, respectively. Caregivers aged ≤ 30 years, those who did not seek information from mass media, or those whose children had multiple hospitalizations for asthma were at higher risk of having poor knowledge (p < 0.05). Notably, self-seeking information through mass media was associated with poor MDI technique (OR = 4.2; p < 0.05).
Caregiver–child relationship, caregiver’s gender, age, education, occupation, and family history of asthma were not significantly associated with knowledge of asthma or inhaler technique (p > 0.05).
Conclusion: Strengthening health education, providing guidance, and regular supervision are necessary to improve caregivers’ knowledge and skills in managing childhood asthma.
Keywords: childhood asthma, knowledge, practice, inhaler devices
- ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen suyễn là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, mức độ phổ biến của nó đang gia tăng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là trẻ em [9]. Hen diễn biến lâu dài, ảnh hưởng đến khả năng học tập, lao động cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh [6]. Ước tính khoảng 300 triệu người bị hen phế quản và có thể tăng 400 triệu vào năm 2025 [3]. Trong vài thập kỷ qua đã liên tục cho thấy tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ em gia tăng rõ rệt, ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi chiếm hơn 80% tỷ lệ trẻ em tử vong trên thế giới [11]. Tại Hoa Kỳ, ước tính 5 - 10% dân số mắc bệnh hen với chi phí điều trị hàng năm hơn 12 tỉ đô la; trong đó tính riêng ở trẻ em thì tỷ lệ này là 9,2% [12]. Tại Việt Nam, hiện chưa có con số chính xác và hệ thống về tỷ lệ mắc hen cho cả nước, tuy nhiên theo một số công trình nghiên cứu ở các địa phương cho thấy tỷ lệ mắc hen ở trẻ em khoảng 4 - 8% và vẫn đang có xu hướng tăng lên [9]. Với tiến bộ của y học hiện nay, bệnh hen phế quản hoàn toàn có thể kiểm soát tốt nếu được theo dõi và điều trị đúng cách. Tuy nhiên, một trong những trở ngại hiện nay trong quá trình theo dõi và quản lý bệnh nhi hen phế quản là vấn đề hiểu biết về bệnh, thái độ tuân thủ điều trị và kỹ năng sử dụng các loại thuốc điều trị của bệnh nhi và người chăm sóc. Trên thực tế lâm sàng, nhiều bệnh nhi hen phế quản đang được gia đình, người thân theo dõi và chăm sóc không hợp lý,một số gia đình quá mức lo lắng về bệnh và về các tác dụng phụ khi dùng thuốc. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu : Mô tả kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người chăm sóc chính của các bệnh nhi được chẩn đoán cơn hen cấp từ 2 đến 15 tuổi nhập viện tại Khoa Nhi Tổng hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong thời gian nghiên cứu.
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
Người chăm sóc có vấn đề về tâm lý hay trí tuệ, hoặc bị giảm hay mất thính lực, hoặc bị khiếm thính không thể trả lời được bộ câu hỏi nghiên cứu.Người chăm sóc không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu: Dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu nhập được 134 người chăm sóc thỏa tiêu chuẩn chọn trong thời gian từ tháng 07 năm 2023 đến tháng 7 năm 2024
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
Sau khi thông qua hội đồng của bệnh viện và được sự đồng ý của khoa Nhi Tổng Hợp,thành viên nhóm nghiên cứu nói rõ mục tiêu và lợi ích của nghiên cứu cho người chăm sóc chính. Khi người chăm sóc chính đồng ý, thành viên nhóm nghiên cứu sẽ hướng dẫn và phát phiếu khảo sát cho người chăm sóc chính làm. Riêng phần kỹ năng của người chăm sóc trẻ thì thành viên nhóm nghiên cứu sẽ nhận định và đánh giá sau đó điền vào phiếu nghiên cứu.Cuối cùng tổng kết các phiếu nghiên cứu nhập và xử lý số liệu.
2.2.4. Công cụ nghiên cứu và phân tích số liệu
Số liệu được thu thập bằng bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc trẻ hen phế quản. Bộ công cụ được xây dựng dựa trên tài liệu “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen phế quản” [1] bao gồm 5 phần:
Phần A: Thông tin về bệnh nhi (15 câu hỏi)
Phần B: Thông tin về người chăm sóc(7 câu hỏi)
Phần C: Đánh giá kiến thức của người chăm sóc về hen trẻ em (36 câu hỏi đúng/ sai)
Phần D: Đánh giá kỹ năng của người chăm sóc về sử dụng máy phun khí dung (5 bước)
Phần E: Đánh giá kỹ năng của người chăm sóc về sử dụng bình xịt định liều (5 bước)
Số liệu nghiên cứu được nhập và phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0.Các biến định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm.Tỷ số chênh (OR), kiểm định Chi bình phương, sử dụng hồi quy đa biến nhị phân, sử dụng phân tích đa biến được sử dụng để xác định yếu tố liên quan. Mức có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
|
Đặc điểm |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Đặc điểm |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
||
|
Đặc điểm người chăm sóc |
Nghề nghiệp |
CB - VC |
24 |
17,9 |
|||
|
Công nhân |
22 |
16,4 |
|||||
|
Người chăm sóc trẻ |
Mẹ |
96 |
71,6 |
Nông dân |
9 |
6,7 |
|
|
Bố |
31 |
23,1 |
Buôn bán |
35 |
26,1 |
||
|
Khác |
7 |
5,2 |
LĐ tự do |
21 |
15,7 |
||
|
Giới tính |
Nam |
34 |
25,4 |
Nội trợ |
23 |
17,2 |
|
|
Nữ |
100 |
74,6 |
Đặc điểm hen của trẻ |
||||
|
Tuổi |
≤ 30 |
26 |
19,4 |
Tuổi |
≤ 5 tuổi |
58 |
43,3 |
|
> 5 tuổi |
76 |
56,7 |
|||||
|
>30 |
108 |
80.6 |
Trung bình: 7,4 ± 4,0; nhỏ nhất: 2, lớn nhất 15 |
||||
|
Trung bình: 37,4 ± 7,9; nhỏ nhất: 20, lớn nhất 65 |
Tiền sử hen |
Có |
120 |
89,6 |
|||
|
Học vấn |
Mù chữ |
3 |
2,2 |
Không |
14 |
10,4 |
|
|
Tiểu học |
17 |
12,7 |
Tiền sử hen của gia đình |
Có |
72 |
53,7 |
|
|
THCS |
35 |
26,1 |
Không |
62 |
46,3 |
||
|
THPT |
49 |
36,6 |
Số lần nhập viện vì hen trong 12 tháng qua |
≥ 3 lần |
45 |
33,6 |
|
|
Đại học |
24 |
17,9 |
1 - 2 lần |
80 |
59,7 |
||
|
Sau đại học |
6 |
4,5 |
Không |
9 |
6,7 |
||
Nhận xét: Người chăm sóc chính của trẻ đa số là mẹ (71,6%), với độ tuổi trung bình 37,4 ± 7,9. Phần lớn trẻ hen có độ tuổi > 5 (56,7%). Có 89,6% trẻ có tiền sử hen và 33,6% trẻ nhập viện vì hen ≥ 3 lần trong năm qua.
3.2. Kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản
Bảng 2. Kiến thức của người chăm sóc về hen ở trẻ em
|
Kiến thức |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
Tốt |
75 |
56,0 |
|
Kém,trung bình |
59 |
44 |
|
Tổng |
134 |
100 |
Nhận xét: Kiến thức của người chăm sóc về hen ở trẻ em đạt mức tốt chỉ 56%.
Bảng 3. Kỹ năng sử dụng máy phun khí dung của người chăm sóc
|
Kỹ năng |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
|
Thực hiện đúng các bước |
Bước 1 |
134 |
100 |
|
Bước 2 |
117 |
87.3 |
|
|
Bước 3 |
113 |
84,3 |
|
|
Bước 4 |
99 |
73,9 |
|
|
Bước 5 |
111 |
82,8 |
|
|
Đánh giá kỹ năng |
Tốt |
83 |
61,9 |
|
Chưa tốt |
51 |
38,1 |
|
|
Tổng |
|
134 |
100 |
Nhận xét: Kỹ năng sử dụng máy phun khí dung của người chăm sóc đạt mức tốt chỉ 61,9%; trong đó bước 4 là bước có tỷ lệ đúng thấp nhất (73,9%)
Bảng 4. Kỹ năng sử dụng bình xịt định liều của người chăm sóc
|
Kỹ năng |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
|
Thực hiện đúng các bước |
Bước 1 |
82 |
98,8 |
|
Bước 2 |
68 |
81,9 |
|
|
Bước 3 |
79 |
95,2 |
|
|
Bước 4 |
63 |
75,9 |
|
|
Bước 5 |
61 |
73,5 |
|
|
Đánh giá kỹ năng |
Tốt |
55 |
66.3 |
|
Chưa tốt |
28 |
33.7 |
|
|
Tổng |
|
83 |
100 |
Nhận xét: Kỹ năng sử dụng bình xịt định liều của người chăm sóc đạt mức tốt chỉ 66,3%; trong đó bước 4 và bước 5 là các bước có tỷ lệ đúng thấp nhất lần lượt là 75,9% và 73,5 %.
3.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản:
Bảng 5. Các yếu tố liên quan đến kiến thức của người chăm sóc về hen ở trẻ em
|
Đặc điểm |
Kiến thức |
P |
||||
|
Tốt |
Trung bình, Kém |
|||||
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|||
|
Người chăm sóc trẻ |
Mẹ |
49 |
51,0 |
47 |
49,0 |
> 0,05 |
|
Bố |
21 |
67,7 |
10 |
32.3 |
||
|
Khác |
52 |
71,4 |
2 |
28,6 |
||
|
Giới tính
|
Nam |
24 |
70,6 |
10 |
29,4 |
> 0,05 |
|
Nữ |
51 |
51,0 |
49 |
49,0 |
||
|
Tuổi
|
≤ 30 |
9 |
34,6 |
17 |
65,4 |
< 0,05 |
|
>30 |
66 |
61,1 |
42 |
38,9 |
||
|
Học vấn
|
Dưới THPT |
32 |
58,2 |
22 |
41,8 |
> 0,05 |
|
THPT |
23 |
46,9 |
26 |
53,1 |
||
|
ĐH, CĐ, SĐH |
20 |
66,7 |
10 |
33,3 |
||
|
Nghề nghiệp |
CB - VC |
17 |
70,8 |
7 |
29,2 |
> 0,05 |
|
Công nhân |
15 |
68,2 |
7 |
31,8 |
||
|
Nông dân |
3 |
33,3 |
6 |
66,7 |
||
|
Buôn bán |
18 |
51,4 |
17 |
48,6 |
||
|
LĐ tự do |
9 |
42,9 |
12 |
57,1 |
||
|
Nội trợ |
13 |
56,5 |
10 |
43,5 |
||
|
Thông tin về hen từ nhân viên y tế |
Có |
69 |
58,5 |
49 |
41,5 |
> 0,05 |
|
Không |
6 |
37,5 |
10 |
62,5 |
||
|
Thông tin về hen tự tìm hiểu ở sách báo đài |
Có |
47 |
65,3 |
25 |
34,7 |
< 0,05 |
|
Không |
28 |
45,2 |
34 |
54,8 |
||
|
Thông tin về hen từ người than |
Có |
18 |
64,3 |
10 |
35,7 |
> 0,05 |
|
Không |
57 |
53,8 |
49 |
46,2 |
||
|
Tiền sử hen của trẻ |
Có |
69 |
57,5 |
51 |
42,5 |
> 0,05 |
|
Không |
6 |
42,9 |
8 |
57,1 |
||
|
Tiền sử hen của gia đình |
Có |
42 |
58,3 |
31 |
41,7 |
> 0,05 |
|
Không |
33 |
53,2 |
29 |
46,8 |
||
|
Số lần nhập viện vì hen trong 12 tháng qua |
≥ 3 lần |
27 |
60,0 |
18 |
40,0 |
< 0,05 |
|
1 - 2 lần |
47 |
58,8 |
33 |
41,2 |
||
|
Không |
1 |
11,1 |
8 |
88,9 |
||
Nhận xét: Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức tốt về hen trẻ em cao hơn có ý nghĩa ở nhóm tuổi >30 so với nhóm tuổi ≤ 30 (p < 0,05). Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức tốt về hen trẻ em cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có tự tìm hiểu thông tin qua phương tiện thông tin đại chúng so với nhóm không tự tìm hiểu (65,3% so với 45,2%; p < 0,05. Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức tốt về hen trẻ em cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có số lần nhập viện vì hen trong năm qua từ 1 - 2 lần và nhóm có tiền sử hen ≥ 3 lần so với nhóm chưa có tiền sử hen (58,8% và 60,0% so với 11,1%; p < 0,05).
Bảng 6. Các yếu tố liên quan đến kiến thức chưa tốt của người chăm sóc về hen ở trẻ em theo mô hình hồi quy đa biến
|
Yếu tố |
OR (95% CI) |
P |
|
Nhóm tuổi ≤ 30 |
2,8 (1,1 - 7,2) |
< 0,05 |
|
Người chăm sóc của trẻ nhập viện nhiều lần vì hen |
2,5 (1,0-6,0) |
<0,05 |
|
Không tự tìm hiểu thông tin về hen trên phương tiện đại chúng |
2,3 (1,1 - 4,8) |
< 0,05 |
Nhận xét: Người chăm sóc có độ tuổi ≤ 30 có tỷ lệ trẻ bị hen nhập viện cao hơn so với người có độ tuổi từ 30 tuổi trở lên.(OR là 2,8, p < 0.05). Người chăm sóc không tự tìm hiểu thông tin về hen trên phương tiện đại chúng và người chăm sóc của trẻ nhập viện nhiều lần vì hen có nguy cơ cao có kiến thức chưa tốt về hen trẻ em (OR lần lượt là 2,3; 2,5; p < 0,05).
Bảng 7. Các yếu tố liên quan đến kỹ năng sử dụng máy phun khí dung
|
Đặc điểm |
Tốt |
Chưa tốt |
P |
|||
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
||
|
Người chăm sóc trẻ |
Mẹ |
61 |
63,5 |
35 |
36,5 |
> 0,05 |
|
Bố |
19 |
61,3 |
12 |
38,7 |
||
|
Khác |
3 |
42,9 |
4 |
57,1 |
||
|
Giới tính |
Nam |
21 |
61,8 |
13 |
38,2 |
> 0,05 |
|
Nữ |
62 |
62,0 |
38 |
38,0 |
||
|
Tuổi |
≤ 30 |
14 |
53,8 |
12 |
46,2 |
> 0,05 |
|
>30 |
69 |
63,9 |
39 |
36,1 |
||
|
Học vấn |
Dưới THPT |
36 |
65,5 |
19 |
34,5 |
> 0,05 |
|
THPT |
28 |
57,1 |
21 |
42,9 |
||
|
ĐH, CĐ, SĐH |
19 |
63,3 |
11 |
36,7 |
||
|
Nghề nghiệp |
CB - VC |
15 |
62,5 |
9 |
37,5 |
> 0,05 |
|
Công nhân |
15 |
68,2 |
7 |
31,8 |
||
|
Nông dân |
7 |
77,8 |
2 |
22,2 |
||
|
Buôn bán |
23 |
65,7 |
12 |
34,3 |
||
|
LĐ tự do |
11 |
52,4 |
10 |
47,6 |
||
|
Nội trợ |
12 |
52,2 |
11 |
47,8 |
||
|
Thông tin về hen từ nhân viên y tế |
Có |
76 |
64,4 |
42 |
35,6 |
> 0,05 |
|
Không |
7 |
43,8 |
9 |
56,3 |
||
|
Thông tin về hen tự tìm hiểu ở sách báo đài |
Có |
48 |
66,7 |
24 |
33,3 |
> 0,05 |
|
Không |
35 |
56,5 |
27 |
43,5 |
||
|
Thông tin về hen từ người thân |
Có |
18 |
64,3 |
10 |
35,7 |
> 0,05 |
|
Không |
65 |
61,3 |
41 |
38,7 |
||
|
Tiền sử hen của trẻ |
Có |
76 |
63,3 |
44 |
36,7 |
> 0,05 |
|
Không |
7 |
50,0 |
7 |
50,0 |
||
|
Tiền sử hen của gia đình |
Có |
44 |
61,1 |
28 |
38,9 |
> 0,05 |
|
Không |
39 |
62,9 |
23 |
37,1 |
||
|
Số lần nhập viện vì hen trong 12 tháng qua |
≥ 3 lần |
31 |
68,9 |
14 |
31,1 |
> 0,05 |
|
1 - 2 lần |
47 |
58,8 |
33 |
41,3 |
||
|
Không |
5 |
55,6 |
4 |
44,4 |
||
|
Kiến thức về hen |
Tốt |
45 |
60,0 |
30 |
40,0 |
> 0,05 |
|
Trung bình,kém |
38 |
64,4 |
21 |
35,6 |
||
Nhận xét: Chúng tôi cũng không tìm được yếu tố liên quan nào đến thực hành sử dụng máy phun khí dung của người chăm sóc theo mô hình hồi quy đa biến.
Bảng 8. Các yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng bình xịt định liều
|
|
Tốt |
Chưa tốt |
P |
|||
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
||
|
Người chăm sóc trẻ |
Mẹ |
41 |
65,1 |
22 |
34,9 |
> 0,05 |
|
Bố |
10 |
66,7 |
5 |
33,3 |
||
|
Khác |
4 |
80,0 |
1 |
20,0 |
||
|
Giới tính |
Nam |
10 |
66,7 |
5 |
33,3 |
> 0,05 |
|
Nữ |
45 |
66,2 |
23 |
33,8 |
||
|
Tuổi |
≤ 30 |
6 |
54,5 |
5 |
45,5 |
> 0,05 |
|
>30 |
49 |
69 |
23 |
31,9 |
||
|
Học vấn |
Dưới THPT |
20 |
60,6 |
13 |
39,4 |
> 0,05 |
|
THPT |
19 |
63,6 |
11 |
36,7 |
||
|
ĐH, CĐ, |
16 |
80,0 |
4 |
20,0 |
||
|
Nghề nghiệp |
CB - VC |
10 |
71,4 |
4 |
28,6 |
> 0,05 |
|
Công nhân |
7 |
58,3 |
5 |
41,7 |
||
|
Nông dân |
6 |
85,7 |
1 |
14,3 |
||
|
Buôn bán |
15 |
60,0 |
10 |
40,0 |
||
|
LĐ tự do |
8 |
66,7 |
4 |
33,3 |
||
|
Nội trợ |
9 |
69,2 |
4 |
30,8 |
||
|
Thông tin về hen từ nhân viên y tế |
Có |
49 |
68,1 |
23 |
31,9 |
> 0,05 |
|
Không |
6 |
54,5 |
5 |
45,5 |
||
|
Thông tin về hen tự tìm hiểu ở sách báo |
Có |
23 |
53,5 |
20 |
46,5 |
< 0,05 |
|
Không |
32 |
80,0 |
8 |
20,0 |
||
|
Thông tin về hen từ người thân |
Có |
9 |
69,2 |
4 |
30,8 |
> 0,05 |
|
Không |
46 |
65,7 |
24 |
34,3 |
||
|
Tiền sử hen của trẻ |
Có |
52 |
65,8 |
27 |
34,2 |
> 0,05 |
|
Không |
3 |
75,0 |
1 |
25,0 |
||
|
Tiền sử hen của gia đình |
Có |
29 |
67,4 |
14 |
32,6 |
> 0,05 |
|
Không |
26 |
65,0 |
14 |
35,0 |
||
|
Số lần nhập viện vì hen trước đây |
≥ 3 lần |
23 |
74,2 |
8 |
25,8 |
> 0,05 |
|
1 - 2 lần |
28 |
60,9 |
18 |
39,1 |
||
|
Không |
4 |
66,7 |
2 |
33,3 |
||
|
Đã từng dùng bình xịt định liều trước |
Có |
44 |
63,8 |
25 |
36,2 |
> 0,05 |
|
Không |
11 |
78,6 |
3 |
21,4 |
||
|
Kiến thức về hen |
Tốt |
30 |
71,4 |
12 |
28,6 |
> 0,05 |
|
Trung bình,kém |
25 |
61 |
16 |
39 |
||
Nhận xét: Tỷ lệ người chăm sóc có kỹ năng sử dụng bình xịt định liều thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm có tự tìm hiểu từ phương tiện thông tin đại chúng so với nhóm không được tự tìm hiểu thông tin (53,5% so với 80,0%; p < 0,05).
Bảng 3.9. Các yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng bình xịt định liều của người chăm sóc theo mô hình hồi quy đa biến
|
Yếu tố |
OR (95% CI) |
p |
|
Tự tìm hiểu thông tin về hen trên phương tiện |
4,2 (1,5 - 11,7) |
< 0,05 |
Nhận xét: Người chăm sóc tự tìm hiểu thông tin về hen trên phương tiện đại chúng nguy cơ cao có kỹ năng chưa tốt về sử dụng bình xịt định liều.
IV. BÀN LUẬN
- Kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản
Nghiên cứu cho thấy chỉ 56% người chăm sóc có kiến thức tốt về hen phế quản ở trẻ em, tương tự tỷ lệ trong nghiên cứu của Bùi Thị Hương và cộng sự (56,67%) [2], nhưng cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của AlOtaibi (18,7%) [8]. AlOtaibi cũng ghi nhận gần một nửa số người tham gia có quan niệm sai lầm về thuốc điều trị hen. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Tuyến cho thấy chỉ 19,8% người chăm sóc hiểu đúng về thuốc cắt cơn và duy trì [4]. Khi người chăm sóc thiếu kiến thức, đặc biệt về thuốc điều trị, nguy cơ xử trí sai trong cơn hen cấp và tái phát bệnh sẽ tăng lên đáng kể. GINA (2020) nhấn mạnh vai trò của các chương trình giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc trong việc giảm tỷ lệ nhập viện và tử vong do hen [7].
Một điểm tích cực là kỹ năng sử dụng máy phun khí dung và bình xịt định liều của người chăm sóc ở mức tương đối khả quan (61,9% và 66,3%). Tuy nhiên, tỷ lệ sai sót vẫn đáng kể, đặc biệt ở bước thở ra hoàn toàn trước khi hít thuốc – đây là bước quan trọng nhưng thường bị bỏ qua. Điều này phù hợp với kết quả của Reznik và cộng sự (2014), khi đánh giá kỹ năng sử dụng MDI của người chăm sóc tại khu vực đô thị, phát hiện đến 61% có ít nhất một lỗi kỹ thuật [10]. Thực tế cho thấy kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị, và việc tái đánh giá, hướng dẫn kỹ năng cần được lồng ghép vào mỗi lần tái khám.
- Các yếu tố liên quan đến kiến thức, kỹ năng của người chăm sóc trẻ hen phế quản
Chúng tôi ghi nhận người chăm sóc ≤ 30 tuổi, không tự tìm hiểu thông tin, hoặc có con nhập viện nhiều lần vì hen có nguy cơ cao có kiến thức chưa tốt(OR = 2,8 ) – điều này phản ánh mức độ tiếp cận thông tin và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế ở nhóm này. Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức tốt về hen trẻ em cao hơn ở nhóm có số lần nhập viện vì hen trong năm qua từ 1 - 2 lần và nhóm có tiền sử hen ≥ 3 lần so với nhóm chưa có tiền sử hen là kết quả dễ hiểu, vì nhóm chưa có tiền sử về hen sẽ thiếu kiến thức, thiếu sự quan tâm về hen cũng như chưa từng được hướng dẫn bởi nhân viên y tế. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là người chăm sóc của trẻ nhập viện nhiều lần vì hen có nguy cơ cao có kiến thức chưa tốt về hen trẻ em. Chính kiến thức chưa tốt là lý do giải thích vì sao những trường hợp này trẻ lại nhập viện nhiều lần đến vậy.
Trong khi đó, kết quả cho thấy người tự tìm hiểu thông tin từ phương tiện đại chúng lại có kỹ năng sử dụng bình xịt định liều kém hơn so với nhóm không tự tìm hiểu. Điều này trái ngược với nhận định thông thường và cũng được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Rảnh (2017), khi bà nhấn mạnh việc tiếp cận thông tin không chính thống có thể dẫn đến hiểu sai và thực hành sai lệch [5].
Một yếu tố đáng chú ý khác là nhóm người chăm sóc đã từng sử dụng bình xịt định liều lại có tỷ lệ thực hành tốt thấp hơn, cho thấy sự chủ quan trong thực hành và thiếu tái đánh giá kỹ thuật từ phía nhân viên y tế. Đây là một điểm yếu trong công tác quản lý hen hiện nay, khi việc đào tạo ban đầu được thực hiện nhưng không có cơ chế giám sát và cập nhật định kỳ.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy việc giáo dục sức khỏe cho người chăm sóc cần không chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức ban đầu, mà cần xây dựng chương trình hướng dẫn lặp lại, kiểm tra kỹ năng thường xuyên, đồng thời cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy thay thế cho mạng xã hội hay truyền thông đại chúng thiếu kiểm chứng.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu cho thấy chỉ hơn một nửa người chăm sóc trẻ hen phế quản có kiến thức tốt, trong khi kỹ năng sử dụng các dụng cụ hít còn hạn chế. Nhóm người chăm sóc trẻ nhỏ tuổi hơn, ít chủ động tìm hiểu hoặc có trẻ nhập viện nhiều lần vì hen thường có kiến thức chưa đầy đủ; đồng thời việc tiếp nhận thông tin từ phương tiện đại chúng lại có thể dẫn đến thực hành kỹ năng chưa đúng. Kết quả này nhấn mạnh vai trò quan trọng của điều dưỡng và cán bộ y tế trong việc thiết kế chương trình giáo dục sức khỏe, tổ chức hướng dẫn định kỳ, giám sát kỹ năng thực hành và cung cấp nguồn thông tin chuẩn xác. Đây là giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả kiểm soát hen ở trẻ em.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Y tế (2020). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen phế quản
- Bùi Thị Hương, Bùi Văn Dân, Hoàng Thị Lâm (2016). Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng ACT đối với bệnh nhân câu lạc bộ hen bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Tạp chí Y Dược Học Lâm Sàng.
- Dương Quý Sỹ. Global initiative for Asthma-GINA (2021)- Sổ tay hướng dẩn điều trị và dự phòng hen phế quản cho người lớn và trẻ em trên 5 tuổi.. 8-16.
- Nguyễn Thị Ngọc Tuyến, N. T. N. T., Danh Mỹ Thanh Ngân, D. M. T. N., & Đỗ Thị Phương Nga, Đ. T. P. N. (2011). Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành trong sử dụng thuốc xịt cắt cơn và ngừa cơn của người chăm sóc chính bệnh nhi tại phòng khám hen suyễn.Tạp chí y học Việt Nam,1(505), 251-254.
- Nguyễn Thị Rảnh, N. T. R. (2017). Đánh giá kiến thức về quản lý hen phế quản của bà mẹ có con bị hen ở khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2017. Bệnh viện Nhi Đồng I.
- Nguyễn Thị Thu, N. T. & Nguyễn Thị Diệu Thúy, N. T. D. (2021). Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của trẻ hen phế quản từ 8-12 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 1(505), 251-254.
- GINA (2020), “Phác đồ điều trị hen phế quản”.
- AlOtaibi E. and AlAteeq M (2018). Knowledge and practice of parents and guardians about childhood asthma at King Abdulaziz Medical City for National Guard, Riyadh, Saudi Arabia. Risk Management and Healthcare Policy, 11, pp 67 – 75
- The Global Initiative for Asthma (GINA) 2022. Global strategy for asthma management and prevention. 2022. 7-32.
- Reznik M., Johnson S. E. and Yu C (2014). Evaluation of MDI-spacer utilization and technique in caregivers of urban minority children with persistent asthma. Journal of Asthma, 51(2), 149-154.
- Trikamjee, T., Thuljaa, R., Comberiati, P., Pasqualeb, A., Peter, T., et al. (2022). Pediatric asthma in developing countries: Challenges and future directions. Current Opinion in Allergy and Clinical Immunology, 22(2), 80-85. https://doi.org/10.1097/ACI.0000000000000806
- Wallace A., Scott J., Klinnert M. and Anderson M (2004). Impoverished children with asthma: A pilot studyof urban healthcare access. JSPN, 9(2), 50 – 58
Tin mới
-
Một nghiên cứu mới đây cho thấy, chế độ ăn được bổ sung khoảng 150g quả óc chó...12/04/2026 21:15
-
3 món ăn nhẹ buổi sáng từ yến mạch giúp giảm cân hiệu quả
Yến mạch giàu chất xơ, giúp bạn no lâu và có thể hỗ trợ mục tiêu giảm cân...12/04/2026 20:43 -
Xử phạt cửa hàng bánh mỳ gây ngộ độc thực phẩm cho hơn 100 người
Từ 4-11/3 đã có 108 trường hợp đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế do...12/04/2026 20:28 -
Phát hiện chế độ ăn mới giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc Alzheimer
Nghiên cứu lớn mới đây vừa phát hiện một chế độ ăn mới giúp giảm đáng kể nguy...11/04/2026 20:18 -
Gần 3.000 trẻ em được khám sàng lọc miễn phí, nhiều ca bệnh được phát hiện sớm
Gần 3.000 trẻ em tại 4 xã vùng khó ở Nghệ An được khám sàng lọc khuyết tật...11/04/2026 19:05 -
Ngành Điều dưỡng: “Cánh cửa vàng” việc làm tại các quốc gia phát triển
Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu, ngành Điều dưỡng đang...11/04/2026 19:29 -
Chuyên gia y tế: Hô hấp có kiểm soát giúp điều hòa stress
TS.BS Trần Xuân Trường cho biết, hít thở sâu là một can thiệp sinh lý toàn thân. Các...11/04/2026 09:39 -
Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn: Thanh toán không dùng tiền mặt nhằm đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh
Sáng 09/4/2026, tại Bộ Y tế, GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội...11/04/2026 09:35 -
Y tế cơ sở vượt khó chăm sóc sức khỏe người dân vùng cao
Giữa núi rừng heo hút của xã Lương Minh (Quảng Ninh), nơi gần 98% dân số là đồng...11/04/2026 09:11 -
Phát hiện cơ sở kinh doanh mỹ phẩm 'chui', chứa hàng nghìn sản phẩm không rõ nguồn gốc ở TPHCM
Một cơ sở kinh doanh mỹ phẩm không phép tại phường Tăng Nhơn Phú (TPHCM) đã mua hàng...10/04/2026 15:23 -
Nguồn dinh dưỡng phổ biến có thể chặn đứng dịch bệnh khiến hàng trăm nghìn người chết mỗi năm
Nghiên cứu mới từ Mỹ cho thấy một loại dưỡng chất thông dụng mà ai cũng có thể...10/04/2026 14:37 -
Vụ học sinh nghi ngộ độc tại Trường Bình Quới Tây: Phát hiện vi khuẩn Salmonella
Kết quả xét nghiệm ban đầu cho thấy, vi khuẩn Salmonella được phát hiện trong mẫu phân của...10/04/2026 14:57 -
5 sai lầm khiến uống nhiều nước mà cơ thể vẫn 'khát'
Nhiều người tin rằng chỉ cần uống nhiều nước là đủ để duy trì sức khỏe. Tuy nhiên,...10/04/2026 14:18 -
Kiến nghị mở rộng danh mục thuốc bảo hiểm y tế cho trạm y tế
Trạm y tế tại TP.HCM kiến nghị điều chỉnh, mở rộng danh mục thuốc bảo hiểm y tế...10/04/2026 09:03














