THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHỐI NGOẠI, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2024

TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cho người bệnh(NB) của điều dưỡng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2024 Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người bệnh có phẫu thuật tại 4 khoa ngoại Chấn thương chỉnh hình, TKLN, ngoại Tiêu hóa, ngoại Thận Bệnh viện đa khoa Hà Đông từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2024. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh nhận được TVGDSK đủ của điều dưỡng khi vào viện 84,2%, trong quá trình điều trị 82,1%, trước mổ 89,9%, sau mổ 74,8% và ra viện 67,5%; chung cả 5 thời điểm 77,4%. Có mối liên quan giữa kết quả TVGDSK với nhóm tuổi, giới tính, khu vực sống và khả năng truyền đạt của điều dưỡng có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết luận: Kết quả TVGDSK cho người bệnh của điều dưỡng tại 5 thời điểm đạt chung là 77,4 %. Có mối liên quan giữa kết quả TVGDSK với nhóm tuổi, giới tính, khu vực sống và khả năng truyền đạt của điều dưỡng Từ khóa: Tư vấn giáo dục sức khỏe, Điều dưỡng, Bệnh viện đa khoa Hà Đông

Mục tiêu: Mô tả thực trạng tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) của điều dưỡng dành cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông và xác định một số yếu tố liên quan.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người bệnh phẫu thuật tại các khoa Chấn thương chỉnh hình, Thần kinh Lồng ngực, Ngoại Tiêu hóa, và Ngoại Thận từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2024. Các dữ liệu được phân tích bằng SPSS 22.0.

Kết quả: Tỷ lệ người bệnh nhận được TVGDSK đủ từ điều dưỡng ở các thời điểm: khi vào viện (84,2%), trong quá trình điều trị (82,1%), trước mổ (89,9%), sau mổ (74,8%) và khi ra viện (67,5%); tỷ lệ chung đạt 77,4%. Các yếu tố như tuổi, giới tính, khu vực sống và khả năng truyền đạt của điều dưỡng có mối liên hệ với kết quả tư vấn (p<0,05).

Kết luận: TVGDSK của điều dưỡng đạt mức chung là 77,4% qua 5 giai đoạn. Kết quả tư vấn có mối liên hệ ý nghĩa với tuổi, giới tính, nơi sống của người bệnh và khả năng truyền đạt của điều dưỡng.

Từ khóa: Tư vấn, giáo dục sức khỏe, Điều dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông

ABSTRACT

Objective: To evaluate the current status of health education consulting provided to patients by nurses and to examine some related factors at Ha Dong General Hospital in 2024.

Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 385 surgical patients across four departments—Orthopedics, Thoracic Neurology, Gastrointestinal Surgery, and Urology—at Ha Dong General Hospital from January 1 to August 2024. Results: The percentage of patients receiving health care advice from nurses was as follows: 84.2% upon hospital admission, 82.1% during treatment, 89.9% before surgery, After surgery 74.8% and discharged 67.5%. The overall success rate across all five time points was 77.4%. There was a statistically significant relationship between the outcomes of health education consultations and factors such as age group, gender, living area, and nurses' communication ability, with a p-value of <0.05. Conclusion: The overall success rate of health education consultations provided by nurses at the five time points was 77.4%. The outcomes were significantly associated with the nurse's age group, gender, living area, and communication ability.

Keywords: Health education consulting, Nursing, Ha Dong General Hospital

Objective: To describe the current status of nurses’ health education for patients and identify associated factors at Ha Dong General Hospital in 2024.

Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 385 surgical patients in four departments—Orthopedics, Thoracic Neurology, Gastrointestinal Surgery, and Urology—between January and August 2024. Data were analyzed using SPSS 22.0.

Results: The percentages of patients receiving adequate health education from nurses were as follows: upon hospital admission (84.2%), during treatment (82.1%), before surgery (89.9%), after surgery (74.8%), and upon discharge (67.5%), with an overall rate of 77.4%. Factors such as age, gender, residence area, and nurses' communication skills showed significant associations with consultation outcomes (p<0.05).

Conclusion: The overall success rate of health education consultations provided by nurses across the five stages was 77.4%. Consultation effectiveness was significantly associated with patient age, gender, living area, and nurses' communication abilities.

Keywords: Health education, Nurses, Ha Dong General Hospital

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh (NB) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhân viên y tế (NVYT) nói chung và điều dưỡng (ĐD) nói riêng, thông qua tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cung cấp cho NB, người nhà NB các kiến thức cần biết để phối hợp với NVYT để giảm lo lắng, tăng hiểu biết, tăng cường tuân thủ điều trị góp phần đảm bảo sự an toàn NB, giảm biến chứng xảy ra sau phẫu thuật từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và hài lòng người bệnh. Để làm tốt hoạt động TVGDSK cho NB đòi hỏi người điều dưỡng cần có kiến thức chuyên môn tốt, cập nhật kiến thức mới; Kỹ năng giao tiếp tốt; Kỹ năng TVGDSK tốt. Đây là một nội dung cơ bản giúp người điều dưỡng chủ động nắm bắt thông tin của người bệnh từ đó lập kế hoạch chăm sóc cụ thể, riêng biệt cho từng người bệnh đồng thời qua giao tiếp với NB ghi nhận những ý kiến phản hồi, đánh giá từ NB đến chất lượng chăm sóc, điều trị chung của bệnh viện [6].Với mong muốn đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TVGDSK cho NB chúng tôi tiến hành nghiên cứu Đánh giá thực trạng tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2024với 2 mục tiêu: Đánh giá thực trạng hoạt động TVGDSK cho người bệnh của điều dưỡng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động TVGDSK của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2024.

Tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) là nhiệm vụ quan trọng của nhân viên y tế (NVYT), đặc biệt là điều dưỡng (ĐD), nhằm cung cấp cho người bệnh (NB) và gia đình kiến thức cần thiết để giảm lo lắng, tăng hiểu biết, tuân thủ điều trị, đảm bảo an toàn, và giảm biến chứng sau phẫu thuật, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của NB. Để thực hiện tốt TVGDSK, điều dưỡng cần có kiến thức chuyên môn vững, cập nhật, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng TVGDSK tốt. Điều này giúp điều dưỡng nắm bắt thông tin người bệnh, lập kế hoạch chăm sóc cá nhân hóa và ghi nhận phản hồi về chất lượng dịch vụ y tế của bệnh viện [6]. Với mục tiêu đánh giá thực trạng và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả TVGDSK cho NB, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2024,” với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng TVGDSK của điều dưỡng cho NB tại khối Ngoại và (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động TVGDSK của điều dưỡng tại bệnh viện.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    1.  Đối tượng: Người bệnh ≥ 18 tuổi, có phãu thuật, nằm viện từ 3 ngày trở lên, được thông báo ra viện.

Tiêu chuẩn loại trừ: NB chậm phát triển tâm thần, câm điếc, NB không hợp tác.

Thời gian và địa điểm: từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2024 tại 04 khoa ngoại: Chấn thương chỉnh hình, Thần kinh lồng ngực, ngoại tiêu hóa, ngoại thận Bệnh viện đa khoa Hà Đông.

2.2. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

*Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính ước tính một tỷ lệ trong quần thể.

 

 n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu; p = 0,64 (Theo NC của Trịnh Thị Tuyết 2022 Bệnh viện Nội tiết Trung Ương) [7] d: Sai số cho phép 0,05

 α: sai số ước tính = 0,05 với độ tin cậy là 95%. Khi đó hệ số tin cậy Z1-α/2 = 1,96.

Thay vào công thức trên, cỡ mẫu nghiên cứu là n= 353. Thực tế khảo sát được 385.

Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.

2.3. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

 Phiếu khảo sát về việc tư vấn GDSK cho NB được xây dựng dựa vào quy định chăm sóc của điều dưỡng tại Thông tư 31.2021 Bộ y tế, quyết định 6858/2016 Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, QĐ 1380/QĐ-BV ngày 31/7/2023 và tham khảo tác giả Trần Thị Hà (2020) tại bệnh viện TW Quân đội 108 [1]

Phiếu gồm 47 câu. Nội dung câu hỏi tập trung các vấn đề người bệnh được TVGDSK tại các thời điểm: vào viện, trong quá trình điều trị, trước mổ, sau mổ và khi ra viện. Cách tính điểm cho mỗi câu hỏi được tính theo thang Likert từ 1 đến 5, với 1 điểm là hoàn toàn không đồng ý, 2 điểm là không đồng ý, 3 điểm là trung lập, 4 điểm là đồng ý và 5 điểm là hoàn toàn đồng ý. Thang điểm dao động từ 47 đến 235 điểm. Mức điểm từ 141 điểm trở lên được tính là TVGDSK đầy đủ.

Phiếu khảo sát về tư vấn GDSK cho NB được xây dựng dựa trên Thông tư 31/2021 của Bộ Y tế, Quyết định 6858/2016 về Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, Quyết định 1380/QĐ-BV ngày 31/7/2023 và tham khảo từ nghiên cứu của Trần Thị Hà (2020) tại Bệnh viện TW Quân đội 108 [1]. Phiếu gồm 47 câu hỏi, tập trung vào các giai đoạn TVGDSK: vào viện, trong điều trị, trước mổ, sau mổ và ra viện. Mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang Likert từ 1 đến 5, với tổng điểm từ 47 đến 235; mức điểm từ 141 trở lên được coi là tư vấn đầy đủ.

2.4. Phân tích và xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS 22.0.

3. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm  của đối tượng nghiên cứu (n=385)

Đặc điểm

Số lượng

Tỷ lệ %

NB Tham gia NC tại khoa

Ngoại tiêu hóa

97

25,2

Chấn thương

100

26,0

TKLN

85

22

Ngoại Thận- TN

103

26,8

 

Nhóm tuổi

18-29

64

16,6

30-39

59

15,3

40-49

61

15,8

≥ 50

201

52,2

 

Trình độ

≤ THCS

138

35,8

THPT

143

37,1

Trung cấp

31

8,1

Cao đẳng

25

6,5

ĐH và sau ĐH

48

12,5

BHYT

343

89,1

Không

42

10,9

Giới

Nam

259

67,3

Nữ

126

32,7

 

Nghề nghiệp

Lao động tự do

229

59,5

Nhân viên văn phòng

33

8,6

CB Hưu

38

9,9

Khác

85

22,1

Thu nhập TB

(triệu)/ tháng)

 

< 5

280

72,7

5-10

95

24,7

> 10

10

2,6

Khu vực sống

Thành Thị

146

37,9

Nông thôn

239

62,1

Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy đặc điểm của 385 đối tượng nghiên cứu như sau: Hơn một nửa (52,2%) người bệnh là từ 50 tuổi trở lên và đa số đối tượng là nam giới, chiếm 67,3%. Hơn một nửa đối tượng sống ở nông thôn (62,1%), trong khi 37,9% sống ở thành thị. Phần lớn người bệnh có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống, với 37% có trình độ trung học phổ thông và 35,8% chưa vượt qua cấp này. Về nghề nghiệp: Chủ yếu là lao động tự do (59,5%), một tỷ lệ nhỏ là nhân viên văn phòng (8,6%) và cán bộ hưu trí (9,9%). Đa phần có thu nhập trung bình dưới 5 triệu đồng mỗi tháng (72,7%).

Bảng 3.2. Đặc điểm về khám bệnh và điều trị (n=385)

 

Đặc điểm

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lần điều trị tại bệnh viện

Lần đầu

246

63,9

Lần thứ 2

88

22,9

Từ 3 lần trở lên

51

13,2

Bệnh kèm theo

Không

270

70,1

Đái tháo đường

71

18,4

Cao huyết áp

27

7,0

Bệnh khác

17

4,0

Hình thức phẫu thuật

Mổ phiên

306

79,5

Mổ Cấp cứu

79

20,5

 

Số ngày điều trị

< 5 ngày

80

20,8

5- 10 ngày

184

47,8

10-20 ngày

103

26,8

> 20 ngày

14

3,6

TB ±SD; Min, Max: 8,37 ± 5,8; Min 3, Max 37

Nhận xét: Đa số NB lần đầu đến viện điều trị (63,9%). Có 18,4 % người bệnh mắc kèm theo là đái tháo đường và 7,0 % NB có tiền sử cao huyết áp. Mổ phiên chiếm đa số 79,5% và với số ngày điều trị chủ yếu khoảng 5-10 ngày (47,8%).

Bảng 3.3. Kết quả NB được TVGDSK (n=385)

 

Kết quả NB được TVGDSK

Số lượng

Tỷ lệ (%)

nhận được đủ thông tin TVGDSK

298

77,4

Có TVGDSK nhưng chưa đầy đủ

87

22,6

Nhận xét: Đa số NB phản hồi có nhận được đủ thông tin tư vấn giáo dục sức khỏe chiếm 77,4%

3.2. Nội dung tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh

Bảng 3.3. Nội dung tư vấn GDSK của Điều dưỡng khi NB vào viện (n=385)

Nội dung NB được tư vấn GDSK khi vào viện

Số lượng (%)

Hướng dẫn tuân mặc trang phục NB, NNNB theo quy định

385 (100)

Cách sử dụng phương tiện của khoa: nhà tắm, nhà vệ sinh

367(95,3)

Hướng dẫn sử dụng thiết bị điện, giường bệnh, tủ đầu giường

376 (97,7)

Hướng dẫn gọi NVYT trong trường hợp bất thường

360 (93,5)

Giờ thăm người bệnh

355 (92,2)

Giữ gìn vệ sinh chung, trật tự buồng bệnh

381(99,0)

Hướng dẫn phân loại rác theo quy định

347 (90,1)

Hướng dẫn bảo quản tiền và tư trang NB, NNNB

367(95,3)

Cam kết điều trị nội trú

373(96,9)

Đóng viện phí đầy đủ, hướng dẫn về chi phí điều trị

375(97,4)

Hướng dẫn sử dụng dịch vụ tiện ích

327(84,9)

Hướng dẫn về thủ tục, quyền lợi chế độ  BHYT

338(87,8)

Giải thích về việc xác nhận chính xác NB

277 (71,9)

Kết quả TVGDSK khi NB vào viện

324 (84,2)

Nhận xét: Khi vào viện có 84,2% NB nhận được sự tư vấn đủ. Trong đó hầu như tất cả các nội dung đều được hướng dẫn như BHYT, nội quy buồng bệnh, trang phục, vệ sinh…. Nội dung có tỉ lệ tư vấn còn thấp như hướng dẫn sử dụng dịch vụ tiện ích, giải thích về việc xác nhận chính xác NB đạt 71,9%.

 

 

Bảng 3.4. Nội dung TVGDSK trong quá trình điều trị, chăm sóc (n=385)

 

Nội dung tư vấn GDSK trong quá trình điều trị

Số lượng (%)

Thông báo về chẩn đoán bệnh, dự kiến phương pháp điều trị

366 (95,1)

Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng bệnh lý

353 (91,7)

Hướng dẫn chăm sóc vệ sinh cá nhân.

355 (92,2)

Hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi

353 (91,7)

Hướng dẫn các vấn đề an toàn: té ngã, loét tì đè, chống nhiễm khuẩn...

302(78,4)

Hướng dẫn tư thế, vận động, phòng ngừa thương tật thứ cấp

292 (75,8)

Hướng dẫn sử dụng thuốc

373(96,9)

Khai thác tiền sử dị ứng

369 (95,8)

Số lượng thuốc dùng hàng ngày

374(97,1)

Thực hiện công khai thuốc hàng ngày

364(94,5)

Hướng dẫn tác dụng của thuốc

351 (91,2)

Thông  báo cho NVYT tác dụng phụ của thuốc (nếu có)

347 ( 90,1)

NB được giải thích trước khi thực hiện các quy trình kỹ thuật

356 (92,7)

Kết quả TVGDSK trong quá trình điều trị, chăm sóc

316 (82,1)

 

Nhận xét: Trong quá trình điều trị có 82,1% NB nhận được sự tư vấn đủ. Đa số các nội dung đều được hướng dẫn như chế độ ăn, sử dụng thuốc, chế độ nghỉ ngơi, vận động… Nội dung có tỉ lệ tư vấn còn thấp như phòng ngừa nguy cơ té ngã, loét, nhiễm khuẩn biến chứng sau mổ 78,4%.

Bảng 3.5. Nội dung tư vấn GDSK trước mổ cho NB (n=385)

 

Nội dung tư vấn GDSK trước mổ

Số lượng (%)

Hướng dẫn chế độ ăn, uống

360 (93,5)

Hướng dẫn về vệ sinh da, tắm gội trước mổ

334 (86,8)

Thực hiện về đeo thẻ định danh trước mổ

343(89,1)

Giải thích về mục đích tháo răng giả (nếu có)

272 (70,6)

Hướng dẫn thay trang phục trước mổ

361 (93,8)

Thông tin và diễn biến bình thường sau mổ

356 (92,5)

Được giải thích về những thay đổi, khó chịu, đau sau mổ

346 (89,9)

Thông tin về mức độ chi phí phẫu thuật

329(84,7)

Kết quả TVGDSK trước mổ

329 (89,9)

 

Nhận xét: Trước mổ có 89,9% NB nhận được sự tư vấn đủ, trong đó hầu như tất cả các nội dung đều được hướng dẫn tốt như thay trang phục, diễn biến bất thường sau mổ, vệ sinh. Nội dung giải thích tháo răng giả tỷ lệ đạt thấp (70,6%).

Bảng 3.6. Nội dung TVGDSK cho NB sau mổ (n=385)

 

 

Nội dung tư vấn GDSK sau mổ

Số lượng (%)

Hướng dẫn theo dõi phát hiện các biến chứng liên quan đến sau mổ

341 (88,6)

Hướng dẫn tư thế NB sau mổ

328 (85,2)

Hướng dẫn tập thở, tập vận động sau mổ

305 (79,2)

Hướng dẫn vệ sinh phòng nhiễm khuẩn

325 (84,4)

Mục đích của ống dẫn lưu và thời gian rút ( nếu có)

291 (75,6)

Giải thích về tình trạng liền vết thương

322 (83,6)

Kết quả TVGDSK sau mổ

288 (74,8)

 

Nhận xét: Sau mổ có 74,8% NB nhận được sự tư vấn đủ, trong đó hầu như tất cả các nội dung đều được hướng dẫn hướng dẫn tốt như phát hiện biến chứng, tư thế NB, vệ sinh. Nội dung tư vấn mục đích của ống dẫn lưu và thời gian rút là thấp nhất (75,6%).

 

 

Bảng 3.7. Nội dung TVGDSK khi NB ra viện (n=385)

 

Nội dung tư vấn khi NB ra viện

Số lượng (%)

Thông báo về kế hoạch ra viện

349 (90,6)

Hướng dẫn chuẩn bị giấy tờ và thủ tục thanh toán ra viện

345 (89,6)

Hướng dẫn tái khám theo hẹn hoặc bất thường

314(81,6)

Hướng dẫn cách phát hiện sớm các vấn đề bất thường

317(82,3)

Hướng dẫn tuân thủ và sử dụng thuốc tại nhà

300(77,9)

Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng

299 (77,7)

Hướng dẫn tập luyện, vận động sau ra viện

286 (74,3)

Kết quả TVGDSK khi NB ra viện

260 (67,5)

 

Nhận xét: 67,5% NB nhận được sự tư vấn đủ trước khi ra viện. Trong đó 90,6% NB được thông báo kế hoạch ra viện, hướng dẫn thủ tục đầy đủ 89,6%. Nội dung hướng dẫn chế độ tập luyện, vận động tỷ lệ đạt thấp 74,4%.

 

 

Biểu đồ 1.  Phân bố kết quả TVGDSK đầy đủ

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh nhận được TVGDSK của Điều dưỡng đủ tại 5 thời điểm: cao nhất giai đoạn trước mổ chiếm 89,9%, tiếp đến là khi vào viện 84,2%, trong quá trình chăm sóc là 82,1 % và thấp nhất khi NB ra viện 67,5%. GDSK chung cả 5 thời điểm là 77,4%

Bảng 3.8: Phản hồi cách điều dưỡng TVGDSK cho người bệnh (n=385)

 

 

Nội dung

Số lượng (%)

 

Khả năng truyền đạt thông tin tư vấn cho NB

Dễ hiểu

374 (97,1)

Khó hiểu

0

Bình thường

11 (2,9)

 

 

Cảm nhận chung về năng lực điều dưỡng  tư vấn

Rất kém

9 (2,3)

Kém

56 (14,5)

Trung bình

36 (9,4)

Tốt

220(57,1)

Rất Tốt

64(16,6)

 

Nhận xét: Có 97,1 % NB nhận xét khả năng truyền đạt thông tin tư vấn GDSK cho người bệnh là dễ hiểu. Đa số NB cảm nhận chung về năng lực điều dưỡng tư vấn từ tốt trở lên chiếm 73,3%

 

 

3.3. Một số yếu tố liên quan đến hoạt động TVGDSK

Bảng 3.9. Liên quan giữa kết quả TVGDSK cho NB với đặc điểm ĐTNC

 

Đặc điểm ĐTNC

Kết quả TVGDSK

N (%)

OR

(KTC 95%)

p

Đủ

Chưa đủ

Tuổi

< 50

116(57,7)

85 (42,3)

0,15

(0,04-0,62)

0,01

≥ 50

182(98,9)

2(1,1)

Giới

Nam

207 (79,9)

52(20,1)

0,65

(0,39-1,07)

0,01

Nữ

91 (72,2)

35(27,8)

Trình độ

<THPT

216(76,9)

65(23,1)

1,1

(0,65- 1,93)

0,68

Từ THPT  trở lên

82(78,8)

22(21,2)

Nghề nghiệp

NV văn phòng

28(84,8)

5 (15,2)

1,7

(0,63-4,5)

0,29

Khác

270 (76,7)

82 (23,3)

Thu nhập

≤ 5 triệu

223 (79,6)

57(20,4)

0,63

(0,38-1,07)

0,08

> 5 triệu

75(71,4)

30(28,6)

Khu vực sống

Thành thị

121(82,9)

25(17,1)

1,65

(1,00-2,84)

0,046

Nông thôn

177(74,1)

62(25,9)

 

Nhận xét: Bảng 3.9 cho thấy: Nhóm người bệnh từ 50 tuổi trở lên có khả năng nhận được TVGDSK đầy đủ cao hơn so với nhóm dưới 50 tuổi (OR=0,15, p=0,01); Giới tính cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, khi tỷ lệ TVGDSK đủ ở nam cao hơn nữ (OR=0,65, p=0,01); Khu vực sinh sống là yếu tố liên quan đáng kể, khi người bệnh sống ở thành thị có kết quả TVGDSK tốt hơn so với người sống ở nông thôn (OR=1,65, p=0,046).

 

Bảng 3.10. Liên quan giữa kết quả TVGDSK cho NB với đặc điểm ĐTNC

 

 

Đặc điểm ĐTNC

Kết quả TVGDSK

N (%)

OR

(KTC 95%)

p

Đ

Chưa đủ

Số lần điều trị

1 lần

191(77,6)

55(22,4)

0,96

(0,58- 1,58)

0,88

≥  2 lần

107 (77,0)

32(23,0)

Nội dung

TV GDSK

236(79,5)

61 (20,5)

0,61

(0,36- 1,05)

0,78

Chưa đầy đủ

62(70,5)

26 (29,5)

Bệnh kèm theo

95(82,6)

20(17,4)

1,56

(0,89-2,73)

0,11

Không

203 (75,2)

67(24,8)

Hình thức phẫu thuật

Mổ phiên

234 (76,5)

72(23,5)

1,31

(0,75-2,44)

0,39

Mổ cấp cứu

64(81,0)

15(19,0)

 

Nhận xét: Bảng 3.10 cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa kê giữa kết quả TVGDSK với số lần điều trị, hoạt động tư vấn GDSK đầy đủ, bệnh kèm theo và hình thức phẫu thuật.

 

Bảng 3.11. Liên quan giữa khả năng truyền đạt với kết quả TVGDSK

 

Khả năng truyền đạt thông tin

Tư vấn GDSK

N (%)

OR

(KTC 95%)

P

Đ

Chưa đủ

Dễ hiểu

283(78,3)

81(21,7)

4,24

(1,29-14,5)

     0,018

Bình thường

5 (45,5)

6 (54,5)

 

Nhận xét: Bảng 3.11 cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khả năng truyền đạt của điều dưỡng với kết quả TVGDSK đạt yêu cầu. Khả năng truyền đạt của điều dưỡng dễ hiểu giúp kết quả TVGDSK cao hơn so với khi khả năng truyền đạt chỉ ở bình thường với OR = 4,24 (KTC 95%: 1,29-14,5), p < 0,05.

4.BÀN LUẬN

[ht1] 4.1. Thực trạng TVGDSK của điều dưỡng

Nội dung TVGDSK trước khi phẫu thuật đạt tỷ lệ cao nhất 89,9%, tiếp theo là khi vào viện 84,2%, trong quá trình điều trị 82,1 % và thấp nhất khi NB ra viện đạt 67,5%.

Khi[ht2]  vào viện có 84,2% NB nhận được sự tư vấn đủ, kết quả này thấp hơn so với NC của tác giả Phan Thị Dung (2020) 89% [8], kết quả này cao hơn so với NC của tác giả Nguyễn Thị Bích Nga (2020) [10] 62,8%, kết quả này cao hơn so với NC của tác giả Trần Thị Hà (2020) [1] đạt 64,5% …. tuy nhiên những nội dung có tỉ lệ tư vấn còn thấp như hướng dẫn sử dụng dịch vụ tiện ích, giải thích về việc xác nhận chính xác NB. Giải thích về việc xác nhận chính xác NB, đeo thẻ định danh là một nội dung rất quan trọng để phòng ngừa sự cố y khoa, hiện tại bệnh viện chưa triển khai vòng định danh người bệnh tỷ lệ đạt thấp nhất 71,9%, mỗi nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng cần nghiêm túc thực hiện để hạn chế tối đa sai sót chuyên môn xảy ra. Bệnh viện đã ra các quy định về định danh người bệnh khi người bệnh vào khoa, trong quá trình thực hiện quy trình kỹ thuật, sử dụng thuốc, trước và sau khi nhận và bàn giao NB.

Khi nhập viện, 84,2% NB nhận được tư vấn đầy đủ, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Dung (2020) (89%) [8], nhưng cao hơn so với Nguyễn Thị Bích Nga (2020) (62,8%) [10] và Trần Thị Hà (2020) (64,5%) [1]. Tuy nhiên, một số nội dung tư vấn như hướng dẫn sử dụng dịch vụ tiện ích và xác nhận danh tính NB có tỷ lệ thực hiện thấp. Việc đeo thẻ định danh NB là yêu cầu quan trọng để phòng ngừa sự cố y khoa, song tỷ lệ thực hiện đạt thấp nhất là 71,9%. Nhằm hạn chế sai sót chuyên môn, bệnh viện đã ban hành quy định về định danh NB tại các điểm: vào khoa, trong quy trình kỹ thuật, sử dụng thuốc, và khi bàn giao NB.

Tư vấn hướng dẫn trong quá trình điều trị, chăm sóc có 82,1% NB nhận được sự tư vấn đạt, kết quả này thấp hơn so với NC của tác giả Phan Thị Dung (2020) 92,6 % [8], lý giải điều này BV Phụ sản Thiện An đối tượng chủ yếu là sản phụ và đặc biệt là sản phụ đi chữa vô sinh nên cũng tìm hiểu nhiều về kiến thức trước khi đến bệnh viện. Trong đó hầu như tất cả các nội dung đều được hướng dẫn như chế độ ăn, hướng dẫn sử dụng thuốc, chế độ nghỉ ngơi, vận động… Tuy nhiên những nội dung có tỉ lệ tư vấn còn thấp như phòng ngừa nguy cơ té ngã, loét, nhiễm khuẩn biến chứng sau mổ chỉ đạt 78,4%. Phòng ngừa biến chứng cho người bệnh là nội dung quan trọng, thông qua việc tư vấn GDSK giúp NB trang bị kiến thức cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mình, hiểu rõ các nguy cơ, diễn biến xấu khi nằm viện và có biện pháp phòng ngừa.

Trong quá trình điều trị và chăm sóc, 82,1% NB nhận được tư vấn đạt yêu cầu, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Dung (2020) (92,6%) [8], có thể do BV Phụ sản Thiện An phục vụ chủ yếu là sản phụ, đặc biệt các trường hợp điều trị vô sinh, nên họ thường chủ động tìm hiểu kiến thức trước khi đến viện. Các nội dung tư vấn được cung cấp đầy đủ, bao gồm chế độ ăn, sử dụng thuốc, nghỉ ngơi, và vận động. Tuy nhiên, tỷ lệ tư vấn về phòng ngừa té ngã, loét, và nhiễm khuẩn sau mổ còn thấp, chỉ đạt 78,4%. Việc này rất quan trọng nhằm trang bị cho NB kiến thức để bảo vệ sức khỏe, hiểu các nguy cơ và cách phòng ngừa biến chứng khi nằm viện.

TVGDSK trước khi phẫu thuật đạt chung 89,9% kết quả này cao hơn so với NC của tác giả Trần Thị Hà (2020) [1] 76%. TVGDSK trước mổ là rất quan trọng hỗ trợ phòng ngừa tai biến trong và sau mổ, tuy nhiên vẫn còn 6,5% NB chưa được hướng dẫn nhịn ăn uống trước mổ đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến hoãn mổ, tai biến trong mổ, còn 29,4% NB chưa được hướng dẫn tháo răng giả đây có thể là một sai sót nghiêm trọng có thể dẫn đến nguy cơ hít phải răng giả gây tắc nghẽn đường thở, gây tổn thương đường hô hấp tăng nguy cơ nhiễm trùng, ảnh hưởng đến cản trở đặt ống nội khí quản gây khó khăn cho bác sĩ trong quá trình phẫu thuật. NB được giải thích về những thay đổi, khó chịu, đau sau mổ điều này rất quan trọng vì tâm lý trước mổ người bệnh rất lo lắng, hiện nay bệnh viện đã triển khai được nhiều kỹ thuật giảm đau trong và sau mổ để người bệnh yên tâm hơn trong quá trình chăm sóc và điều trị

TVGDSK trước phẫu thuật đạt 89,9%, cao hơn kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hà (2020) (76%) [1]. Tư vấn trước mổ giúp phòng ngừa tai biến trong và sau mổ, nhưng vẫn còn 6,5% NB chưa được hướng dẫn nhịn ăn, điều này có thể gây hoãn mổ hoặc tai biến. Ngoài ra, 29,4% NB chưa được hướng dẫn tháo răng giả, dễ gây nguy cơ hít phải, tắc nghẽn đường thở, nhiễm trùng, và khó khăn cho bác sĩ khi đặt ống nội khí quản. Việc giải thích về các triệu chứng sau mổ giúp giảm lo lắng cho NB, và bệnh viện đã áp dụng nhiều kỹ thuật giảm đau để NB yên tâm hơn trong quá trình điều trị.

TVGDSK sau mổ đạt 74,8% kết quả này thấp hơn so với NC của tác giả Trần Thị Hà (2020) [1] 83%. Lý giải điều này tỷ lệ NB có thu nhập thấp, trình độ, nghề nghiệp và nơi sinh sống của chúng tôi tỷ lệ thấp hơn. Vẫn còn 20,8 % NB chưa được tập vận động sau mổ, hoạt động này mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh phòng ngừa biến chứng giảm nguy cơ viêm phổi, tắc ruột sớm sau mổ, teo cơ cúng khớp, phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu…. Mặt khác giúp NB giảm căng thẳng, giúp NB phục hồi nhanh có thể xuất viện sớm và trở lại cuộc sống bình thường.

TVGDSK sau mổ đạt 74,8%, thấp hơn kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hà (2020) (83%) [1], có thể do tỷ lệ NB có thu nhập, trình độ, nghề nghiệp, và nơi sống khác biệt. Ngoài ra, 20,8% NB chưa được hướng dẫn tập vận động sau mổ, mặc dù hoạt động này giúp phòng ngừa viêm phổi, tắc ruột, teo cơ, cứng khớp, và huyết khối tĩnh mạch sâu, đồng thời giúp NB giảm căng thẳng, phục hồi nhanh, sớm xuất viện và trở lại sinh hoạt bình thường.

 

Tư vấn GDSK cho NB ra viện là cần thiết để đảm bảo chuyển tiếp sự chăm sóc, trang bị kiến thức cho NB, NNNB khi về nhà tự chăm sóc và theo dõi phát hiện sớm diễn biến bất thường khi về nhà, ngăn ngừa bệnh tái phát và nâng cao chất lượng cuộc sống từ đó tăng cường sự hài lòng người bệnh. Trong NC của chúng tôi tỷ lệ đạt thấp nhất trong các giai đoạn là 67,5% NB nhận được sự tư vấn đủ trước khi ra viện kết quả này thấp hơn so với NC của tác giả Trần Thị Hà (2020) [1] 81% và tác giả Phan Thị Dung (2020) 85% [8].  Trong đó 90,6% NB được thông báo kế hoạch ra viện, hướng dẫn thủ tục đầy đủ 89,6%. Tuy nhiên hướng dẫn tuân thủ dùng thuốc, chế độ tập luyện, vận động còn chưa được tư vấn đầy đủ. Nội dung Hướng dẫn tái khám theo hẹn hoặc bất thường vẫn còn 18,4% chưa được tư vấn.  TVGDSK khi người bệnh tái khám đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khỏe. Đây là một cầu nối quan trọng giữa nhân viên y tế và người bệnh, giúp người bệnh hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh của mình, cách điều trị hiệu quả và tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ điều trị sau khi ra viện. Đa số điều dưỡng là người tiếp xúc với NB cuối cùng nhất bằng việc cung cấp những thông tin chính xác và hữu ích của điều dưỡng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh và giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy hầu hết tỷ lệ các nội dung liên quan đến thủ tục hành chính khi xuất viện được NB đánh giá là cụ thể, rõ ràng chưa cao; các hoạt động hướng dẫn tư vấn về chuyên môn như hướng dẫn phát hiện biến chứng, hướng dẫn chế độ ăn sau mổ được NB đánh giá là hiệu quả rõ ràng cao. Điều dưỡng ngoài tư vấn chuyên môn cho NB tốt cần đảm bảo chất lượng về tư vấn các thủ tục liên quan, để NB có được chất lượng điều trị hoàn thiện và tốt hơn.

Tư vấn GDSK cho NB khi ra viện là cần thiết để duy trì việc chăm sóc và giúp NB, cũng như người nhà (NNNB), tự theo dõi, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, ngăn ngừa tái phát và nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó tăng sự hài lòng của người bệnh. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ tư vấn đầy đủ trước khi ra viện đạt 67,5%, thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Hà (2020) (81%) [1] và Phan Thị Dung (2020) (85%) [8]. Cụ thể, 90,6% NB được thông báo kế hoạch ra viện, 89,6% nhận hướng dẫn về thủ tục, nhưng hướng dẫn về tuân thủ thuốc và chế độ tập luyện, vận động chưa đầy đủ, với 18,4% chưa được tư vấn về tái khám. Tư vấn khi tái khám đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị, giúp NB hiểu rõ tình trạng bệnh và tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị sau khi ra viện. Kết quả cũng cho thấy các nội dung hành chính khi xuất viện được đánh giá chưa cụ thể, trong khi hướng dẫn chuyên môn như phát hiện biến chứng và chế độ ăn sau mổ lại được đánh giá cao. Điều dưỡng cần không chỉ tư vấn chuyên môn mà còn đảm bảo chất lượng tư vấn về các thủ tục, để NB có chất lượng điều trị hoàn thiện hơn.

Khả năng truyền đạt thông tin tư vấn một cách dễ hiểu là một kỹ năng vô cùng quan trọng đối với điều dưỡng. Trong NC của chúng tôi kết quả đạt cao 97,1%.  Khi NB nhận được thông tin một cách rõ ràng, chính xác và dễ hiểu sẽ nâng cao sự hài lòng của NB, NB sẽ cảm thấy được quan tâm và tôn trọng. Giảm thiểu các sai sót trong điều trị, khi NB hiểu rõ phác đồ điều trị, họ sẽ ít mắc phải các sai lầm và nâng cao hiệu quả công việc giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho nhân viên y tế.

Khả năng truyền đạt thông tin rõ ràng, dễ hiểu là kỹ năng quan trọng đối với điều dưỡng. Trong nghiên cứu, tỷ lệ đạt được tiêu chí này là 97,1%. Khi người bệnh (NB) nhận được thông tin rõ ràng và dễ hiểu, sự hài lòng tăng lên, họ cảm thấy được quan tâm, tôn trọng và giảm thiểu sai sót trong điều trị. Hiểu rõ phác đồ điều trị giúp NB tránh sai lầm, nâng cao hiệu quả điều trị và tiết kiệm thời gian, công sức cho nhân viên y tế.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến hoạt động TVGDSK của điều dưỡng

Chúng tôi tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với kết quả TVGDSK với p< 0,05, nhóm ≥ 50 tuổi kết quả tư vấn đạt cao hơn nhóm < 50 tuổi, lý giải điều này người cao tuổi thường có xu hướng quan tâm hơn đến sức khỏe của mình, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến bệnh mãn tính, mặt khác qua nhiều năm sống, họ đã tích lũy được những kinh nghiệm về sức khỏe và hiểu rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc bản thân. Nghiên cứu cũng tìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nơi sinh sống với kết quả TVGDSK, sống ở thành thị đạt kết quả cao hơn điều này có thể được giải thích: người dân thành thị thường có nhiều cơ hội tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi, báo chí, internet, qua đó nhận được nhiều thông tin về sức khỏe hơn. Thêm vào đó khu vực thành thị thường có hệ thống thư viện, trung tâm thông tin công cộng phát triển hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm và cập nhật kiến thức và trình độ dân trí ở thành thị thường cao hơn, người dân có khả năng tiếp thu và hiểu thông tin về sức khỏe tốt hơn. Khả năng truyền đạt của điều dưỡng dễ hiểu thì kết quả TVGDSK cao hơn khả năng truyền đạt bình thường. Có mối liên quan giữa tỷ lệ TVGDSK đạt theo yêu cầu với khả năng truyền đạt của điều dưỡng với p<0,05, điều này có thể được giải thích kỹ năng truyền đạt của điều dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp người bệnh hiểu rõ về tình trạng sức khỏe, tư vấn hiệu quả không chỉ giúp NB yên tâm hơn mà còn góp phần vào việc tuân thủ phác đồ điều trị, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian hồi phục. Khi điều dưỡng sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, NB sẽ nắm bắt được thông tin một cách chính xác, tránh hiểu lầm. NC cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kết qua TVGDSK với giới tính.

Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và kết quả TVGDSK (p < 0,05), với nhóm ≥ 50 tuổi đạt kết quả tư vấn cao hơn nhóm < 50 tuổi. Điều này có thể do người cao tuổi quan tâm hơn đến sức khỏe, đặc biệt là các bệnh mãn tính, và có kinh nghiệm trong chăm sóc bản thân. Ngoài ra, nơi sống cũng có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả TVGDSK, với người sống ở thành thị đạt kết quả cao hơn. Người dân thành thị có nhiều cơ hội tiếp cận phương tiện truyền thông và thông tin sức khỏe, cùng với hệ thống thư viện và trung tâm thông tin phát triển, giúp nâng cao khả năng tiếp thu và hiểu biết về sức khỏe.

Khả năng truyền đạt dễ hiểu của điều dưỡng cũng có liên quan đến kết quả TVGDSK (p < 0,05); kỹ năng này giúp người bệnh hiểu rõ tình trạng sức khỏe, cảm thấy yên tâm và tuân thủ phác đồ điều trị, từ đó nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian hồi phục. Việc sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu giúp NB nắm bắt thông tin chính xác và tránh hiểu lầm. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và kết quả TVGDSK.

 

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Qua khảo sát 385 NB đến từ 4 khoa Chấn thương chỉnh hình, TKLN, ngoại tiêu hóa, ngoại thận Bệnh viện đa khoa Hà Đông chúng tôi có nhận xét sau:

Chúng tôi thấy 77,4% NB nhận được TVGDSK đầy đủ tại 5 thời điểm trong đó cao nhất là thời điểm trước mổ 89,9% và thấp nhất là Nội dung TVGDSK khi NB ra viện đạt 67,5%.

Một số yếu tố liên quan đến kết quả TVGDSK bao gồm: tuổi, giới tính, nơi sống của NB và khả năng tư vấn của Điều dưỡng có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

KHUYẾN NGHỊ

+ PĐ D, ĐDT khoa tập huấn về kỹ năng TVGDSK, kiến thức CM

- Thường xuyên đánh giá hiệu quả TVGDSK

+ Tại khoa: duy trì đi buồng, họp HĐNB chú ý tư vấn khi NB ra viện

- Tập trung vào các nội dung còn yếu: như hướng dẫn sử dụng dịch vụ tiện ích, giải thích về việc xác nhận chính xác NB, phòng ngừa biến chứng, và tư vấn sau mổ.

- Chú trọng đến nhóm người bệnh có thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp: Cung cấp thông tin một cách đơn giản, dễ hiểu và sử dụng nhiều hình ảnh minh họa.

   - Xây dựng Poster, sơ đề để giúp NB, NNNB dễ hiểu hơn.

    - Sử dụng công cụ hỗ trợ như phiếu tư vấn, bảng kiểm.

Trong tổng số 385 người bệnh được nghiên cứu, tỷ lệ NB nhận được tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) đầy đủ tại 5 thời điểm là 77,4%. Trong đó: Trước mổ: Tỷ lệ TVGDSK đạt cao nhất với 89,9%; Khi nhập viện: 84,2% NB nhận được TVGDSK đầy đủ; Trong quá trình điều trị: Tỷ lệ đạt là 82,1%; Sau mổ: Tỷ lệ giảm xuống còn 74,8%; và Khi ra viện: Đạt mức thấp nhất với 67,5%.

Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến kết quả TVGDSK bao gồm: (i) Tuổi: NB từ 50 tuổi trở lên có tỷ lệ TVGDSK đầy đủ cao hơn nhóm dưới 50 tuổi; (ii) Khu vực sống: NB sống ở thành thị có kết quả TVGDSK tốt hơn so với NB sống ở nông thôn; (iii) Giới tính: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và kết quả TVGDSK, trong đó tỷ lệ TVGDSK đạt cao hơn ở nam giới; và (iv) Khả năng truyền đạt của điều dưỡng: Khả năng truyền đạt dễ hiểu của điều dưỡng có ảnh hưởng tích cực đến kết quả TVGDSK (OR = 4,24 (KTC 95%: 1,29-14,5).

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị:

  • Tăng cường đào tạo kỹ năng truyền đạt cho điều dưỡng: Để nâng cao hiệu quả TVGDSK, cần tổ chức các buổi tập huấn nhằm cải thiện kỹ năng giao tiếp và truyền đạt thông tin của điều dưỡng, đặc biệt là sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu.
  • Chú trọng đến nhóm NB ra viện: Với tỷ lệ TVGDSK trước khi ra viện đạt thấp nhất (67,5%), bệnh viện nên đặc biệt lưu ý đến việc cung cấp tư vấn đầy đủ cho NB ở giai đoạn này, bao gồm cả hướng dẫn về chế độ dùng thuốc, tái khám và chế độ sinh hoạt tại nhà.
  • Tăng cường TVGDSK cho NB ở nông thôn: Phát triển các tài liệu hướng dẫn bằng hình ảnh hoặc video nhằm hỗ trợ điều dưỡng truyền đạt kiến thức hiệu quả hơn cho nhóm NB có trình độ dân trí thấp hoặc ít tiếp cận thông tin.
  • Nâng cao chất lượng TVGDSK trước và sau phẫu thuật: Đối với những nội dung tư vấn trước và sau mổ, bệnh viện cần triển khai thêm các công cụ hỗ trợ như phiếu tư vấn và bảng kiểm để đảm bảo NB nhận được đầy đủ thông tin về phòng ngừa biến chứng và quy trình hồi phục.
  • Theo dõi và đánh giá hiệu quả TVGDSK: Cần thực hiện đánh giá định kỳ để đo lường hiệu quả của các hoạt động TVGDSK và điều chỉnh các nội dung tư vấn dựa trên phản hồi của NB.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Thị Hà “Đánh giá thực trạng GDSK cho người bệnh của điều dưỡng bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2018” Tạp chí y học thực hành và bỏng số 5-2020, tr 54-63
  2. Bộ Y tế (2021), "Thông tư 31/2021/TT-BYT Quy định Hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện ngày 28 tháng 12 năm 2021".
  3. Quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18/11/2016 của Bộ Y tế ban hành Bộ tiêu chí chất lượng Bệnh viện Việt Nam, phiên bản 2.0
  4. Nguyễn Thị Hằng và cộng sự “Thực trạng hoạt động giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và sự hài lòng của người bệnh tại Viện Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020”, Tạp chí 108 Y học lâm sàng và Dược, tr 224-229.
  5. Quyết định 519/2022 quy định về hoạt động tư vấn GDSK bệnh viện đa khoa Hà Đông
  6. Nguyễn Tất Thắng (2020), “Thực trạng kiến thức về truyền thông giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên các khoa lâm sàng tại bệnh viện K", Tạp chí Điều dưỡng Việt Nam, 36, tr. 76-83.
  7. Trịnh Thị Tuyết (2022), "Thực trạng kiến thức và thực hành giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng tại bệnh viện nội tiết Trung ương ", Luận văn thạc sỹ điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.
  8. Phan Thị Dung “Hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại bệnh viện phụ sản Thiện An năm 2022”, Tạp chí y học thực hành và bỏng số 1-2023, tr 73-79
  9. Trần Thị Hằng Nga và cộng sự “Đánh giá hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị và một số yếu tố liên quan năm 2018”, Tạp chí khoa học Điều dưỡng tập 01 số 03, tr 28-34
  10. Nguyễn Thị Bích Nga “Thực trạng hoạt động GDSK cho NB của Điều dưỡng tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2020” Tạp chí 108 Y học lâm sàng và Dược, tr 28-32
  11. Pueyo-Garrigues M, Pardavila-Belio MI, Canga-Armayor A, Esandi N, Alfaro-Díaz C, Canga-Armayor N. NURSES' knowledge, skills and personal attributes for providing competent health education practice, and its influencing factors: A cross-sectional study. Nurse Educ Pract. 2022 Jan;58:103277. doi: 10.1016/j.nepr.2021.103277. Epub 2021 Dec 15. PMID: 34929565.
  12. Casey D. Using action research to change health-promoting practice. Nurs Health Sci. 2007 Mar;9(1):5-13. doi: 10.1111/j.1442-2018.2007.00297.x. PMID: 17300539.

 [ht1]Bỏ  đoạn này vì không cần thiết, hơn nữa bài báo quá dài rồi.

 [ht2]Không viết thành các gạch đầu dòng hoặc +/*.

Nghiên cứu để sử dụng/sử dụng một phần đoạn văn chỉnh sửa ở dưới cho chuẩn xác hơn đồng thời giảm được ít nhất 1/3 số từ.


Tin mới