KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ QUẢN LÝ ĐAU SAU PHẨU THUẬT CỦA ĐIỀU DUỠNG, HỘ SINH BỆNH VIỆN ĐÚC GIANG NĂM 2023
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả kiến thức và thái độ về quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa ĐứcGiang.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 78 điều dưỡng và hộ sinh tham gia chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật tại 6 khoa lâm sàng của bệnh viện từ tháng 3/2023 đến tháng 10/2023. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả: Điểm trung bình kiến thức về quản lý đau là 62,8 ± 9,5. Chỉ 3,8% số đối tượng có kiến thức tốt (80-89%). Tỷ lệ thiếu hụt kiến thức vừa phải (60-69%) là 36,0%, thiếu hụt nhiều (50-59%) là 30,8%, và thiếu hụt nghiêm trọng (<50%) là 3,8%. Về thái độ, điểm trung bình đạt 49,8 ± 5,2. Chỉ 12,8% điều dưỡng và hộ sinh có thái độ tích cực trong quản lý đau, trong khi 87,2% còn lại có thái độ chưa tích cực.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ kiến thức và thái độ về quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang còn hạn chế. Cần có các chương trình đào tạo và tập huấn định kỳ để nâng cao năng lực và nhận thức cho đội ngũ này, nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.
Từ khoá: Kiến thức, thái độ, quản lý đau, sau phẫu thuật, điều dưỡng, hộ sinh.
ABSTRACT
Objective: To describe the knowledge and attitudes of nurses and midwives regarding postoperative pain management at Duc Giang General Hospital.
Methods: A descriptive cross-sectional study was conducted from March 2023 to October 2023 on 78 nurses and midwives in six clinical departments at Duc Giang General Hospital. Data were collected using questionnaires and analyzed using SPSS 20.0.
Results: The mean knowledge score on pain management was 62.8 ± 9.5. Only 3.8% of participants demonstrated good knowledge (80-89%), while 36.0% had moderate deficits (60-69%), 30.8% had severe deficits (50-59%), and 3.8% had very severe deficits (<50%).The mean attitude score was 49.8 ± 5.2. A positive attitude was observed in 12.8% of participants, while 87.2% exhibited a less favorable attitude toward pain management.
Conclusions: The study highlights significant gaps in the knowledge and attitudes of nurses and midwives regarding postoperative pain management. Regular training and educational programs are essential to enhance their competence and improve the quality of patient care.
Keywords: Knowledge, attitudes, pain management, postoperative, nurses, midwives.
1. ĐẶT VÁN ĐỀ
Đau sau phẫu thuật là một trong những vấn đề quan trọng trong thực hành lâm sàng, ảnh hưởng lớn đến quá trình hồi phục và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nếu không được kiểm soát hiệu quả, đau có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như rối loạn hô hấp, tuần hoàn, nội tiết và làm chậm quá trình lành vết thương. Vì vậy, quản lý đau đóng vai trò thiết yếu trong chăm sóc hậu phẫu, với điều dưỡng và hộ sinh là những người trực tiếp theo dõi, đánh giá và thực hiện các biện pháp giảm đau cho bệnh nhân [3]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác kiểm soát đau tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ kiến thức và thái độ của điều dưỡng, hộ sinh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý đau sau phẫu thuật. Sự thiếu hụt kiến thức và thái độ chưa tích cực có thể làm giảm hiệu quả kiểm soát đau, gây ảnh hưởng đến sự hồi phục của bênh nhân.
Theo Bộ Y tế, việc đào tạo và nâng cao nhận thức về quản lý đau là một trong những ưu tiên nhằm cải thiện chất lượng điều trị và chăm sóc [1]. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức và thái độ của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang về quản lý đau sau phẫu thuật, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu:
1.Mô tả mức độ kiến thức và thái độ của điều dưỡng, hộ sinh về quản lý đau sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang.
2.Đề xuất các giải pháp nâng cao kiến thức và cải thiện thái độ trong công tác quản lý đau.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
78/89 điều dưỡng viên, hộ sinh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu ở 6 khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại chấn thương chỉnh hình, Ngoại thận tiết niệu, Sản, Phụ, GMHS ngoại tham gia chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2023.
2.2. Thiết kế nghiên cứu:
Mô tả cắt ngang.
2.3. Công cụ nghiên cứu:
Bộ công cụ "Khảo sát kiến thức và thái độ của điều dưỡng về đau" (NKASRP) có sửa đổi và phát trin cho phù hợp với điều trị và quản lý đau tại Việt Nam. Phần kiến thức gồm 25 câu hỏi về kiến thức quản lý đau. Phần thái độ gồm 15 câu hỏi đánh giá bằng thang điểm Likert.
2.4. Xử lý số liệu:
Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau thời gian thu thập số liệu có 78/89 điều dưỡng, hộ sinh (66 nữ, 12 nam) thoả mãn tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Độ tuổi trung bình 33 ± 4,67, tuổi cao nhất 47 thấp nhất 23 tuổi. Trình độ đại học chiếm tỷ lệ 30,8% (n = 24). Kinh nghiệm làm việc từ 6 – 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 44,9% (n = 35).
Bảng 3.1. Điểm kiến thức chung về quản lý đau
|
Mức độ |
Tần số (n = 78) |
Tỷ lệ (%) |
|
Đạt (≥ 70 điểm) |
23 |
29,5 |
|
Chưa đạt (< 70 điểm) |
55 |
70,5 |
Kếtquả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức quản lý đau cho người bệnh sau phẫu thuật của điều dưỡng còn thấp, chỉ đạt 29,5%.
Bảng 3.2. Kiến thức về trải nghiệm đau (n = 78)
|
Nội dung |
Câu trả lời đúng N |
Câu trả lời đúng % |
|
Các dấu hiệu sinh tồn là chỉ số luôn đáng tin cậy cho thấy mức độ đau của người bệnh |
25 |
32,1 |
|
Trẻ em dưới 2 tuổi do hệ thần kinh chưa phát triển đầy đủ nên chúng giảm độ nhạy cảm với đau và hạn chế khả năng nhớ về lần bị đau trước kia |
31 |
39,7 |
|
Người bệnh có thể ngủ mặc dù họ đang có những cơn đau dữ dội |
41 |
52,6 |
Tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi về trải nghiệm đau dưới 50%.
Bảng 3.3. Kiến thức chung về các quản lý đau bằng thuốc (n =78)
|
Nội dung |
Câu trả lời đúng (N) |
Tỷ lệ (%) |
|
Thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID) khác là loại thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau chống viêm không có cấu trúc steroid, là thuốc có tác dụng giảm đau ngoại vi, không gây nghiện |
63 |
80,8 |
|
Suy hô hấp hiếm khi xảy ra với người bệnh đã sử dụng opioids với liều ổn định trong vài tháng |
55 |
70,5 |
|
Kết hợp các loại thuốc giảm đau hoạt động theo những cơ chế khác nhau (VD: kết hợp một thuốc NSAID với Opioids) có thể mang đến hiệu quả giảm đau tốt hơn và ít tác dụng phụ hơn so với sử dụng một loại thuốc giảm đau đơn thuần |
66 |
84,6 |
|
Thời gian duy trì giảm đau của 1–2 mg morphine đường tĩnh mạch khoảng 4–5 giờ |
57 |
73,1 |
|
Giảm đau ngoài màng cứng rất tốt cho người bệnh, đặc biệt người bệnh sau phẫu thuật tim mạch như: thay van hai lá, van động mạch chủ |
38 |
48,7 |
|
Opioid không nên sử dụng cho người bệnh có tiền sử lạm dụng chất gây nghiện |
15 |
19,2 |
|
Người bệnh cao tuổi không thể dung nạp được opioid để giảm đau |
57 |
73,1 |
|
Người bệnh phải chịu những cơn đau sau phẫu thuật là điều đương nhiên |
37 |
47,4 |
|
Benzodiazepine (seduxen) không có tác dụng giảm đau hiệu quả trừ khi nguyên nhân gây đau là do co cơ |
49 |
62,8 |
|
Ma túy hay chất gây nghiện được định nghĩa là một bệnh thần kinh mạn tính được đặc trưng bởi một hay nhiều hành vi sau đây: mất khả năng kiểm soát liều sử dụng thuốc; xu hướng bắt buộc phải sử dụng; vẫn tiếp tục sử dụng mặc dù có hại nghiêm trọng |
73 |
93,6 |
|
Nồng độ của thuốc giảm đau trong máu nên được duy trì ở một mức ổn định để kiểm soát cơn đau một cách hiệu quả |
68 |
87,2 |
|
Phân tâm và chuyển sự chú ý của người bệnh (sử dụng âm nhạc, thư giãn) có thể làm giảm cảm giác đau của người bệnh |
67 |
85,9 |
Nghiên cứu cho thấy phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời đúng các câu hỏi về khái niệm chất gây nghiện (93,6%), tác dụng ngây nghiện của các thuốc NSAID (80,8%), thời gian duy trì morphin đường tĩnh mạch (73,1%). Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu biết về thời gian giảm đau của morphin 23,7%.
Bảng 3.4. Kiến thức về thựchiện các biện pháp giảm đau
|
Nội dung |
N |
% |
|
Đường dùng thuốc giảm đau opioid cho người bệnh có cơn đau dai dẳng do ung thư |
20 |
25,6 |
|
Đường dùng thuốc giảm đau opioid cho người bệnh bị đau ngắn, dữ dội và đột ngột như do chấn thương hay sau phẫu thuật |
40 |
51,3 |
|
Loại thuốc giảm đau được chọn để sử dụng điều trị đau từ mức độ trung bình đến dữ dội kéo dài cho người bệnh bị ung thư |
66 |
84,6 |
|
Thời điểm không được áp dụng giảm đau do người bệnh tự điều khiển (PCA) |
44 |
56,4 |
|
Việc làm đầu tiên của ĐD khi người bệnh đang dùng các phương pháp giảm đau như ngoài màng cứng, PCA có các dấu hiệu suy hô hấp, tụt huyết áp, lơ mơ |
50 |
64,1 |
|
Mức điểm VAS chỉ điểm người bệnh cần được can thiệp |
53 |
67,9 |
|
Người bệnh sau phẫu thuật nào KHÔNG áp dụng giảm đau ngoài màng cứng |
28 |
35,9 |
|
Những biểu hiện của người bệnh ngộ độc paracetamol trong vòng 24 giờ đầu |
67 |
85,9 |
|
Thời gian đạt hiệu quả cao nhất sau khi tiêm morphine tĩnh mạch |
74 |
94,9 |
|
Thời gian để đạt nồng độ tối đa trong huyết tương khi dùng paracetamol đường truyền tĩnh mạch |
34 |
43,6 |
Hơn 80% điều dưỡng hiểu rằng các loại thuốc giảm đau được chọn để điều trị từ mức trung bình đến mức độ dữ dội, cũng như nắm được các biểu hiện của người bệnh ngộ độc paracetamol trong vòng 24h đầu (85,9%).
Bảng 3.5. Mức thái độ về quản lý đau
|
Mức độ |
Tần số (n = 78) |
Tỷ lệ (%) |
|
Tích cực |
10 |
12,8 |
|
Chưa tích cực |
68 |
87,2 |
87,2% đối tượng nghiên cứu có thái độ chưa tích cực về quản lý đau
Bảng 3.6. Mức độ thái độ về nhận định mức độ đau
|
Nội dung |
SL (N) |
Tỷ lệ (%) |
|
Người bệnh có thể quên rằng mình đang bị đau thường khi họ không bị đau nặng (-) |
21 |
26,9 |
|
NB nên được khuyến khích chịu đựng mức độ đau tối đa là cần thiết trước khi sử dụng thuốc giảm đau opioid (-) |
6 |
7,7 |
|
Trẻ em dưới 11 tuổi thường không thể diễn tả chính xác mức độ đau do đó nhân viên y tế cần phải dựa vào đánh giá của cha mẹ về mức độ đau của trẻ (-) |
51 |
65,4 |
|
Niềm tin tôn giáo có thể khiến người bệnh nghĩ rằng: việc con người phải chịu đựng đớn đau và đau khổ là cần thiết |
14 |
17,9 |
|
Bạn có cho rằng, người am hiểu chính xác nhất về cường độ đau của người bệnh là chính người bệnh |
15 |
19,2 |
Ghi chú: (-) là các câu hỏi nghịch
65,4% người có thái độ phù hợp khi được hỏi về việc việc trẻ dưới 11 tuổi có thể không diễn đạt tốt cảm giác đau của mình.
Bàng 3.7 Mức thái độ về xử lý đau
|
Nội dung |
Trả lời tích cực Số lượng (N) |
Tỷ lệ (%) |
|
Sau liều thuốc giảm đau opioid ban đầu, điều quan trọng là các liều thuốc tiếp theo nên điều chỉnh cho phù hợp với từng phản ứng cụ thể của mỗi người bệnh |
8 |
10,3 |
|
Tiêm thuốc (cắt cơn đau) cho NB là một biện pháp tốt để xác định liệu NB có đau thật hay không |
8 |
10,3 |
|
Nếu người bệnh đau chưa rõ nguyên nhân, thuốc giảm đau opioid không nên sử dụng trong giai đoạn đánh giá đau bởi vì điều này có thể làm giảm khả năng chẩn đoán chính xác nguyên nhân của cơn đau |
12 |
15,4 |
|
Thuốc giảm đau ban đầu cho người bệnh sau phẫu thuật nên được sử dụng ngay trong những giờ đầu theo lịch trình ổn định |
70 |
89,7 |
|
Liều opioid nên nhất thiết tăng khi bị đau có thể yêu cầu tăng liều thuốc là người bệnh đang phải chịu đựng cơn đau tăng lên |
6 |
7,7 |
|
Khi dùng đột ngột một opioid, người bệnh bị phụ thuộc thuốc thì sẽ xuất hiện những biểu hiện thể chất sau: vã mồ hôi, ngáp, tiêu chảy và kích động, mất khả năng kiểm soát đối với việc sử dụng thuốc |
20 |
23,5 |
Ghi chú: (-) là các câu hỏi nghịch
Tỷ lệ có câu trả lời tích cực cao nhất (89,7%) là về việc thuốc giảm đau ban đầu cho người bệnh sau phẫu thuật nên được sử dụng ngay trong những giờ đầu theo lịch trình cố định.
4. BÀN LUẬN
4.1. Kết quả đánh giả kiến thức về quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng, hộ sinh bệnh viện đa khoa Đức Giang
Trong tổng số 78 đối tượng nghiên cứu, điểm trung bình kiến thức lý thuyết về quản lý đau đạt 62,8 ± 9,5. Tỷ lệ điều dưỡng có điểm kiến thức đạt chiếm 29,4%, trong khi tỷ lệ thiếu kiến thức là 70,6%. So với nghiên cứu của Bigen (2016), chỉ có 4,7% điều dưỡng trả lời đúng trên 70% số câu hỏi [6]. Tương tự, nghiên cứu của Tobiloba trên 115 điều dưỡng cũng cho thấy 60,9% đối tượng thiếu kiến thức về quản lý đau [9]. Nguyễn Thị Hằng (2018) ghi nhận mức độ kiến thức của điều dưỡng về quản lý đau ở mức kém, với điểm số trung bình chỉ đạt 17,3 trên tổng số 36 câu hỏi (<50%) [3]. Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh (2017) cũng cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt chỉ chiếm 15,6%, trong khi tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức kém đạt 17,5% [8]. Trần Quang Phúc (2019) báo cáo 18,5% điều dưỡng có mức thiếu hụt kiến thức nghiêm trọng (<50%) và 37,1% thiếu hụt kiến thức ở mức nhiều [4]. Trong nghiên cứu của Trần Quang Minh (2020) trên 154 điều dưỡng, không có điều dưỡng nào đạt điểm số ≥ 80% theo khuyến cáo, với điểm trung bình KASRP là 56,7 ±7,5 [5].
Mặc dù nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt cao hơn so với một số nghiên cứu trước đây, việc 70,6% điều dưỡng còn thiếu kiến thức là một con số đáng lo ngại. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình đào tạo và nâng cao kiến thức chuyên môn về quản lý đau sau phẫu thuật, nhằm đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh tốt hơn.
4.2. Kết quả đánh giá thái độ về quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện đa khoa Đức Giang
Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có thái độ tích cực (≥ 80%) về quản lý đau sau phẫu thuật chỉ đạt 12,8%, trong khi nhóm có thái độ chưa tốt (< 80%) chiếm 87,2%. Kết quả này thấp hơn đáng kể so với nghiên cứu của Tobiloba, trong đó 74,3% điều dưỡng có thái độ tích cực trong quản lý đau, cũng như thấp hơn nghiên cứu của Emine Karaman [7] với tỷ lệ 40,6% và nghiên cứu của Trần Quang Phúc với tỷ lệ 22,6%.
Việc phần lớn điều dưỡng chưa có thái độ tích cực trong quản lý đau là một dấu hiệu đáng lo ngại, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Để cải thiện tình trạng này, cần thiết phải tăng cường các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức cho điều dưỡng về vai trò quan trọng của quản lý đau trong chăm sóc sau phẫu thuật. Các hoạt động giáo dục và huấn luyện thực hành thực tế sẽ giúp điều dưỡng nâng cao kỹ năng, từ đó hình thành thái độ tích cực và cải thiện hiệu quả kiểm soát đau cho người bệnh.
5.KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ kiến thức và thái độ về quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang còn nhiều hạn chế, cụ thể: Điểm trung bình kiến thức đạt 62,8 ± 9,5, chỉ có 3,8% đối tượng đạt mức kiến thức tốt. Phần lớn điều dưỡng và hộ sinh có mức độ thiếu hụt kiến thức từ vừa phải đến nghiêm trọng, cho thấy cần thiết phải có các chương trình đào tạo chuyên sâu về quản lý đau; Điểm trung bình thái độ đạt 49,8 ± 5,2, với tỷ lệ thái độ tích cực chỉ đạt 12,8%. Phần lớn đối tượng nghiên cứu (87,2%) có thái độ chưa tích cực, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các biện pháp giảm đau cho bệnh nhân. Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị:
- Tăng cường các chương trình đào tạo định kỳ và chuyên sâu về quản lý đau, giúp điều dưỡng và hộ sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng thực hành.
- Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc kiểm soát đau hiệu quả, khuyến khích các cán bộ y tế có thái độ tích cực hơn trong việc chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật.
- Xây dựng các quy trình hướng dẫn chuẩn về quản lý đau và đảm bảo nhân viên y tế thực hiện đúng quy trình để tối ưu hiệu quả điều trị.
TÀI LIÊU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2012). Thông tư số 13/2012/TT-BYT ngày 20/8/2012 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác gây mê – hồi sức.
2. Nguyễn Thị Hằng (2017). Kiến thức và thái độ của điều dưỡng về quản lý đau trên bệnh nhân ung thư đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Ung Bướu. Tạp chí Ung Thư Học Việt Nam; 441-447.
3. Nguyễn Quốc Kính (2016). Giảm đau sau mổ.Trung tâm Gây mê và Hồi sức Ngoại khoa, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
4.Trần Quang Phúc (2019). Kiến thức và thái độ quản lý đau sau phẫu thuật của điều dưỡng tại Viện Chấn thương chỉnh hình Việt Đức.
5. Trần Minh Quang (2020). Kiến thức và thái độ của điều dưỡng hồi sức cấp cứu về chăm sóc đau cho người bệnh tại hệ thống y tế Vinmec năm 2020.
6. Bigen MS, Sujata S (2016). Knowledge and attitude of nurses on pain management in a tertiary hospital of Nepal. International Journal of Nursing Research and Practice; 3(1).
7. Emine Karaman (2017). Knowledge and attitudes of nursing students about pain management. DOI: 10.5505/ agri.2018.10437.
8. Nguyen Trung Anh (2021).Assessing knowledge and attitudes regarding pain management among nurses working in a geriatric hospital in Vietnam. Journal of Multidisciplinary Healthcare; 14:799-807. doi: 10.2147/ JMDH.S285044
9.Tobiloba Oyejide Alex Omotosho (2020). Knowledge and attitudes of nurses towards pain management at Edward. International Journal of Africa Nursing Sciences; 18:100534.
PHẠM THANH HUYỀN¹, TƯỞNG THUÝ HẲNG, NGUYỄN HƯƠNG CHÀ', NGUYỄN THỊ HOA', NGUYỄN HUY LONG'
Tin mới
-
Biến thể SARS-CoV-2 BA.3.2 của COVID-19 với số lượng đột biến lớn và khả năng né miễn dịch...30/03/2026 09:22
-
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIẾU TRỊ TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024
Tự chăm sóc là yếu tố then chốt giúp kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa các biến...29/03/2026 17:36 -
KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỂM MỘT SỐ VI KHUẨN ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ MẪU BỆNH PHẨM ĐỜM CỦA NGƯỜI BỆNH VIÊM PHỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Xác định chính xác tác nhân gây bệnh là chìa khóa để xây dựng phác đồ kháng sinh...29/03/2026 17:20 -
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ PHÒNG NGỪA CHUẨN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA GÂY MÊ HỒI SÚC BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
Kiểm soát nhiễm khuẩn tại khu vực phòng mổ là yếu tố then chốt quyết định sự thành...29/03/2026 17:58 -
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH XỬ LÝ ỐNG NỘI SOI TIÊU HÓA MỂM TẠI KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024
Đảm bảo vô khuẩn ống nội soi là yếu tố sống còn để ngăn ngừa lây nhiễm chéo...28/03/2026 19:14 -
KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ QUẢN LÝ ĐAU SAU PHẨU THUẬT CỦA ĐIỀU DUỠNG, HỘ SINH BỆNH VIỆN ĐÚC GIANG NĂM 2023
Quản lý đau sau phẫu thuật là một mắt xích quan trọng trong quá trình hồi phục của...28/03/2026 18:12 -
Hà Nội: Đoàn viên thanh niên Chi đoàn Đội CC&CNCH khu vực số 35 xung kích tham gia các hoạt động, phong trào trong tháng thanh niên 2026
Nhằm chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí...28/03/2026 17:22 -
Đồ ăn vặt học đường: Góc nhìn dinh dưỡng, pháp lý và thực tiễn từ Diễn đàn “Snack Việt cao cấp”
Trong bối cảnh đời sống hiện đại, đồ ăn vặt (snack) đã trở thành một phần quen thuộc...28/03/2026 11:41 -
Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề y: Tâm thế ‘người trong cuộc’ trước ngưỡng cửa đổi mới
Tháng 12/2027 đánh dấu cột mốc lịch sử khi lần đầu tiên Việt Nam tổ chức kỳ kiểm...28/03/2026 10:27 -
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM SẠCH ĐẠI TRÀNG Ở NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC NỘI SOI ĐẠI TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
Kết quả làm sạch đại tràng ở người bệnh nội soi tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang...27/03/2026 23:12 -
Hội thảo khoa học kỷ niệm 53 năm phát hiện sâm Ngọc Linh: Nâng tầm "Quốc bảo" Việt Nam
Nhân kỷ niệm 53 năm ngày phát hiện Sâm Ngọc Linh (19/3/1973 - 19/3/2026), Trường Đại học Tôn...27/03/2026 15:15 -
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI NGHIỆN INTERNET CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TÓM TẮT Mục tiêu: (i) Mô tả thực trạng nghiện Internet và (ii) phân tích một số yếu...27/03/2026 14:45 -
Architorino tạo ấn tượng tại Triển lãm Quốc tế VIETBUILD Hà Nội lần thứ nhất 2026
Tham gia Triển lãm lần này Công ty TNHH Torino Việt Nam mang đến nững sản phẩm được...27/03/2026 13:09 -
KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐỨC GIANG VỀ PHÒNG NGỪA TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN NĂM 2023
Tình trạng tổn thương do vật sắc nhọn vẫn là nguy cơ đáng lưu ý đối với nhân...27/03/2026 13:13














