RỐI LOẠN LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TRƯỜNG ĐIỀU DƯỠNG - KỸ THUẬT Y HỌC TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả mức độ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở sinh viên năm cuối của Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 136 sinh viên năm cuối của Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2024. Dữ liệu thu thập qua bảng câu hỏi tự điền sử dụng thang đo rối loạn lo âu lan tỏa (GAD-7) và phân tích bằng T-test, ANOVA.
Kết quả: Điểm rối loạn lo âu trung bình là 5,89 ± 4,61 (từ 0 đến 21 điểm). Tỷ lệ sinh viên có rối loạn lo âu nhẹ chiếm 37,50%, trung bình 13,97%, nghiêm trọng 5,15% và bình thường 43,38%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa rối loạn lo âu với chuyên ngành học, học lực, gánh nặng tài chính và hút thuốc lá, cụ thể: sinh viên ngành Hộ sinh có điểm lo âu trung bình cao nhất, trong khi sinh viên ngành Phục hồi chức năng có điểm thấp nhất (7,36 ± 6,32 so với 2,64 ± 2,93, p = 0,011); Sinh viên có học lực giỏi có mức lo âu cao hơn trong khi nhóm trung bình có mức thấp nhất (6,72 ± 4,48 so với 2,2 ± 2,68, p = 0,038); Nhóm sinh viên có gánh nặng tài chính có điểm lo âu cao hơn so với nhóm không có gánh nặng tài chính (7,13 ± 4,79 so với 4,97 ± 4,28, p = 0,002); Sinh viên không hút thuốc có mức độ lo âu cao hơn so với nhóm hút thuốc (5,92 ± 4,62 so với 4,00 ± 5,65, p = 0,030).
Kết luận: Sinh viên năm cuối của Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học có tỷ lệ rối loạn lo âu nhẹ ở mức cao. Rối loạn lo âu chịu ảnh hưởng bởi chuyên ngành, học lực, gánh nặng tài chính và thói quen hút thuốc. Cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ tâm lý và quản lý căng thẳng trong sinh viên.
Từ khóa: Rối loạn lo âu, sinh viên năm cuối, Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học.
ABSTRACT
Objectives: To describe the level of anxiety disorders and related factors among final-year students at School of Nursing and Medical Technology, University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City.
Methodology: A cross-sectional descriptive study was conducted on 136 final-year students at School of Nursing and Medical Technology from January to June 2024. Data were collected through self-administered questionnaires using the Generalized Anxiety Disorder Scale (GAD-7) and analyzed using T-test and ANOVA.
Results: The mean anxiety disorder score was 5.89 ± 4.61 (ranging from 0 to 21 points). The proportion of students with mild anxiety disorder was 37.50%, moderate was 13.97%, severe was 5.15%, and normal was 43.38%. There was a statistically significant association between anxiety disorder and major, academic performance, financial burden, and smoking habits, specifically: Midwifery students had the highest average anxiety score, while Rehabilitation students had the lowest (7.36 ± 6.32 vs. 2.64 ± 2.93, p = 0.011); Students with excellent academic performance had higher anxiety levels, whereas those with average performance had the lowest (6.72 ± 4.48 vs. 2.2 ± 2.68, p = 0.038); Students with financial burdens had higher anxiety scores than those without (7.13 ± 4.79 vs. 4.97 ± 4.28, p = 0.002); Smoking habits: Non-smoking students had higher anxiety levels than smokers (5.92 ± 4.62 vs. 4.00 ± 5.65, p = 0.030).
Conclusions: The prevalence of mild anxiety disorder among final-year students at School of Nursing and Medical Technology is relatively high. Anxiety disorders are influenced by major, academic performance, financial burden, and smoking habits. Psychological support and stress management interventions should be enhanced for students.
Keywords: Anxiety disorders, final-year students, Nursing and MedicalTechnology.Top of Form
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lo âu (RLLA) là trạng thái lo lắng quá mức về một tình huống hoặc sự kiện, thậm chí đôi khi không có nguyên nhân rõ ràng [10]. Trong số 12 rối loạn tâm thần phổ biến, rối loạn lo âu được đánh giá là loại rối loạn phổ biến nhất và đứng thứ hai về gánh nặng bệnh tật toàn cầu [5]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng rối loạn lo âu có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với kết quả học tập, làm tăng nguy cơ lạm dụng rượu bia, chất kích thích, internet và thậm chí dẫn đến hành vi tự tử [8,13,14,16].
Trong nhóm sinh viên, sinh viên y khoa thường đối diện với áp lực và căng thẳng cao hơn so với các ngành khác. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt và cộng sự (2021) cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu ở sinh viên y tế, bao gồm bác sĩ và cử nhân, là 9,8%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ rối loạn lo âu chung trong dân số Việt Nam (2,6%) [2,15]. Đặc biệt, sinh viên năm cuối phải đối mặt với nhiều áp lực như hoàn thành chương trình học, thực tập lâm sàng tại bệnh viện và lo lắng về định hướng tương lai, tất cả những yếu tố này có thể làm gia tăng nguy cơ rối loạn lo âu.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan của sinh viên năm cuối của Trường - Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm đánh giá mức độ rối loạn lo âu ở nhóm đối tượng này và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lo âu của họ.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Sinh viên cử nhân năm 4 (năm cuối) thuộc Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2024.
* Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên cử nhân năm cuối đang học chính quy tại Trường Điều dưỡng- Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không hoàn thành bộ câu hỏi khảo sát đầy đủ và phù hợp; Sinh viên bị đình chỉ học tập, không tham gia học tập trong quá trình nghiên cứu; Sinh viên được chẩn đoán mắc bệnh về tâm thần trước đó.
2.2. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.3. Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ với dân số ước tính:

2.4. Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền trực tiếp, thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2024 tại Trường ĐD - KTYH, ĐHYD TPHCM.
2.5. Công cụ thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi khảo sát gồm 3 phần
- Phần A: Bộ câu hỏi về thông tin chung gồm 8 câu hỏi về giới tính, dân tộc, nơi ở, chuyên ngành, học lực, BMI, thi lại/ học lại, gánh nặng tài chính.
- Phần B: Bộ câu hỏi về hành vi sức khỏe gồm 3 câu hỏi về hoạt động thể lực, thể dục thường xuyên, hút thuốc lá, uống rượu bia
- Phần C: Bộ câu hỏi thang đo rối loạn lo âu lan tỏa GAD-7 gồm 7 câu, mỗi câu có 4 giá trị và cho điểm từ 0-3 tương ứng với các mức như không có, vài ngày, quá nửa số ngày trong tuần và hầu như mọi ngày [12]. Năm 2024, Phạm Thị Thùy Dung đã được hiệu chỉnh để hoàn thiện trước khi tiến hành khảo sát, cho kết quả Cronbach’s α=0,91, độ tin cậy rất tốt để đánh giá [12] thực trạng rối loạn lo âu ở sinh viên trong nghiên cứu này [1]. Điểm lo âu bằng điểm tổng tất cả các câu trả lời của đối tượng nghiên cứu với thang điểm tổng từ 0-21. Tại các điểm 0, 5, 10 dùng để xác định mức độ lo âu nhẹ, trung bình, nặng [12].
Trong phân tích mối liên quan giữa lo âu và một số yếu tố, lo âu được phân thành 2 nhóm: nhóm có lo âu khi tổng điểm ≥ 5, nhóm không lo âu khi tổng điểm < 5 [11]. 2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 12.0. Thống kê phân tích bằng phép kiểm T-test, ANOVA.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ sinh viên nữ chiếm đa số với tỷ lệ 77,94%. Phần lớn sinh viên là dân tộc Kinh chiếm 91,91%. Tỷ lệ sinh viên ở trọ cao hơn chiếm 61,76%, tiếp đến là ở với gia đình chiếm 30,15%, người thân chiếm 4,41% và còn lại là KTX chiếm 3,68%. Số lượng sinh viên ngành Điều dưỡng chiếm 22,06%, Hộ sinh chiếm 16,18%, Kỹ thuật hình ảnh chiếm 11,76%, Gây mê hồi sức chiếm 15,44%, Xét nghiệm chiếm 22,06% và Phục hồi chức năng chiếm 12,05%. Sinh viên có học lực giỏi chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,03%, không có sinh viên có học lực yếu. Sinh viên có chỉ số BMI trong khoảng 18,5-24,9 chiếm tỉ lệ cao nhất với 67,65%, sinh viên có chỉ số BMI vượt quá 24,9 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 10,29%. Sự chênh lệch lớn giữa hai nhóm sinh viên thi lại, học lại và sinh viên không thi lại, học lại. Tỷ lệ gánh nặng tài chính tương đương nhau.
Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n=136).

3.2. Đặc điểm về hành vi sức khỏe
Sinh viên có hoạt động thể dục, thể lực thường xuyên (38,97%) ít hơn sinh viên không hoạt động thể dục, thể lực thường xuyên (61,03%). Sinh viên có hút thuốc ít hơn so với sinh viên không hút thuốc, với tỷ lệ lần lượt là 1,47% và 98,53%. Sinh viên có uống rượu bia ít hơn so với sinh viên không uống rượu bia, với tỷ lệ lần lượt là 12,5% và 87,5%.
Bảng 3.2. Đặc điểm về hành vi sức khỏe (n=136).

3.3. Mức độ rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu
Điểm rối loạn lo âu dao động từ 0-21 điểm. Điểm trung bình chung của thang đo được là 5,89 ± 4,61. Khi chia mức độ, 43,38% người tham gia nghiên cứu có kết quả điểm số lo âu ở mức bình thường. Tuy nhiên, 56,62% người tham gia nghiên cứu có vấn đề rối loạn lo âu, trong đó mức độ nhẹ là 37,5%, mức độ trung bình là 13,97%, mức độ nghiêm trọng là 5,15%.
Bảng 3.3. Mức độ rối loạn lo âu của người tham gia nghiên cứu (n=136).

3.4. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lo âu.
- Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lo âu với các đặc điểm đối tượng nghiên cứu. Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa tình trạng rối loạn lo âu với các đặc điểm như giới tính (p = 0,615), dân tộc (p = 0,662), nơi ở (p = 0,448), BMI (p = 0,648), thi lại, học lại (p = 0,946). Tuy nhiên, tình trạng rối loạn lo âu với chuyên ngành, với học lực, với gánh nặng tài chính có mối liên hệ thống kê đáng kể (p = 0,011; p = 0,038 và p = 0,002).
Bảng 3.4. Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lo âu với các đặc điểm đối tượng nghiên cứu.

- Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lo âu với các đặc điểm về hành vi sức khỏe của người tham gia nghiên cứu.
Kết quả không tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng rối loạn lo âu với yếu tố hoạt động thể lực, thể dục thường xuyên (p = 0,926), uống rượu bia (p = 0,746). Tuy nhiên có mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lo âu với yếu tố hút thuốc lá. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,03) (p<0,05).
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lo âu với các đặc điểm về hành vi sức khỏe của người tham gia nghiên cứu.

4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 136 sinh viên cử nhân năm cuối Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, trong đó sinh viên nữ chiếm 77,94%, cao hơn đáng kể so vớisinh viên nam (22,06%). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt, trong đó tỷ lệ sinh viên nữ ngành Cử nhân là 87,9%, trong khi sinh viên nam chỉ chiếm 12,1%. Tuy nhiên, sự phân bố giới tính trong khối ngành Bác sĩ có sự khác biệt, với tỷ lệ sinh viên nam (51,7%) gần tương đương với sinh viên nữ (48,3%) [2].
Về dân tộc, phần lớn sinh viên tham gia nghiên cứu là người Kinh (91,91%), tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt, trong đó sinh viên người Kinh chiếm 94,2% [2]. Sinh viên ở trọ chiếm tỷ lệ cao nhất (61,76%), phù hợp với nghiên cứu của Lê Thị Vũ Huyền, trong đó sinh viên ở trọ chiếm 39,84% [3]. Sự phân bố về chuyên ngành trong mẫu nghiên cứu khá cân đối, do được chọn bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Về học lực, 96,32%sinh viên đạtmức khá trở lên, chỉ 3,68% thuộc nhóm trung bình. Đánh giá về chỉsố BMI, 67,65% sinh viên có BMI trong khoảng 18,5 - 24,9, 22,06% có BMI dưới 18,5, và 10,29% có BMI trên 24,9.Ngoàira, 83,09%sinh viên không thilại, học lại, tương đồng với kết quả học lực,BMI, và tình trạng thi lại trong nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt [2].
Xét về gánh nặng tài chính, 42,65% sinh viên gặp khó khăn tài chính, trong khi 57,35% không có gánh nặng tài chính. Kết quả này gần với nghiên cứu của Lê Thị Vũ Huyền, trong đó tỷ lệ sinh viên có gánh nặng tài chính là 47,75%, còn lại 52,55% không gặp khó khăn tài chính [3].
Về thói quen vận động, chỉ 38,97% sinh viên thường xuyên tập thể dục/thể lực, trong khi 61,03% không có thói quen này.
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sergio Martínez-Vázquez, trong đó 45,9% sinh viên có hoạt động thể lực thường xuyên, còn 54,1% không tham gia các hoạt động này [9]. Về thói quen sức khỏe, 98,53% sinh viên không hút thuốc lá, chỉ 1,47% có hút thuốc. Tỷ lệ sinh viên không uống rượu bia chiếm 87,5%, trong khi 12,5% có sử dụng. Kết quả này gần tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt (2021) và Cheung Teris cùng cộng sự (2016) [2,4]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 56,62% sinh viên có dấu hiệu rối loạn lo âu, trong đó 5,15% ở mức nghiêm trọng, 13,97% ở mức trung bình, và 37,5% ở mức nhẹ. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Thùy Dung và K. Wc Lun [1,6], nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Vũ Huyền [3].
4.2. Các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa tình trạng rối loạn lo âu và chuyên ngành học. Điều này cho thấy mức độ rối loạn lo âu có sự khác biệt đáng kể giữa các chuyên ngành khác nhau. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt (2021) [2]. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa tình trạng rối loạn lo âu và học lực. Cụ thể, sinh viên có học lực giỏi có tỷ lệ rối loạn lo âu cao hơn so với các nhóm học lực khác. Tuy nhiên, kết quả này khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt (2021), trong đó không tìm thấy mối liên quan giữa rối loạn lo âu và học lực [2].
Bên cạnh đó, nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa tình trạng rối loạn lo âu và gánh nặng tài chính. Sinh viên có gánh nặng tài chính có mức độ rối loạn lo âu cao hơn so với sinh viên không có gánh nặng tài chính. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt và cộng sự (2021) cũng như nghiên cứu của Lê Thị Vũ Huyền (2023) [2,3].
Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa tình trạng rối loạn lo âu và thói quen hút thuốc lá. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt (2021) và Maleke Manana (2023) [2,7]. Đáng chú ý, kết quả của chúng tôi cho thấy sinh viên không hút thuốc lá có điểm trung bình rối loạn lo âu cao hơn so với nhóm có hút thuốc lá. Tuy nhiên, do mẫu nghiên cứu chỉ ghi nhận 2 trường hợp hút thuốc lá, kết quả này cần được diễn giải một cách thận trọng để xác định chính xác mối liên quan giữa hút thuốc và tình trạng rối loạn lo âu.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nghiên cứu cho thấy 56,62% sinh viên năm cuối Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học có dấu hiệu rối loạn lo âu, trong đó 37,50% ở mức nhẹ, 13,97% ở mức trung bình, và 5,15% ở mức nghiêm trọng. Các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng rối loạn lo âu bao gồm: chuyên ngành học, học lực, gánh nặng tài chính và hút thuốc lá. Nhìn chung, tỷ lệ rối loạn lo âu ở sinh viên năm cuối khá cao, cho thấy áp lực trong quá trình học tập và thực tập có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm lý của sinh viên, do vậy nhóm nghiên cứu khuyến nghị: * Đối vớisinh viên: Xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, cân bằng giữa học tập, thực tập và nghỉ ngơi; Chủ động tìm kiếm các biện pháp giảm căng thẳng như tập thể dục, thiền định, hoặc tham gia các hoạt động ngoại khóa; Quản lý tài chính cá nhân hiệu quả, đồng thời tìm kiếm hỗ trợ từ gia đình hoặc các quỹ hỗ trợ sinh viên khi cần thiết; Không lạm dụng rượu bia, chất kích thích và cần có thói quen sinh hoạt lành mạnh để duy trì sức khỏe tinh thần ổn định. * Đối với nhà trường: Tăng cường các chương trình tư vấn tâm lý, hỗ trợ sinh viên về sức khỏe tinh thần; Xây dựng các khóa học kỹ năng quản lý căng thẳng, thích ứng với áp lực học tập và thực hành lâm sàng; Thiết lập các kênh hỗ trợ tài chính như học bổng hoặc quỹ vay cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; Điều chỉnh lịch học, thực tập một cách khoa học, giảm tải áp lực không cần thiết. Xin chân thành cảm ơn Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và viết bài báo này!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Phương Anh, và c.s. (2024). Lo âu ở sinh viên trường Đại học Phenikaa năm2023 vàmộtsố yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;534(2). Doi:10.51298/vmj.v534i2.8140.
2. Nguyễn Tiến Đạt, Hà Thảo Linh, Lê Đại Minh, và c.s. (2021).Tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa vàmộtsố yếu tố liên quan ở sinh viên Đại học Y Hà Nội năm 2018-2019. Tạp Chí Nghiên cứu Y học. 2021; 140(4): 135-142. Doi:10.52852/tcncyh.v140i4.142.
3. Lê Thị Vũ Huyền, Trần Thị Huệ, Cao Thị Phương Dung, và c.s. (2024). Rối loạn lo âu ở sinh viên Y học dự phòng trường Đại học Y Hà Nội năm 2023 và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;535(1).doi:10.51298/vmj.v535i1.8546.
4.CheungT,Wong SY,Wong KY, et al(2016). Depression, Anxiety and Symptoms of Stress among Baccalaureate Nursing Students in Hong Kong: A Cross-Sectional Study. Int J Environ Res Public Health. 2016; 13(8):779. Published 2016 Aug 3. Doi:10.3390/ijerph13080779.
5. GBD 2019 Mental Disorders Collaborators (2022). Global,regional, and national burden of 12mental disordersin 204 countries and territories, 1990-2019: a systematic analysisfor the Global Burden of Disease Study 2019. Lancet Psychiatry. 2022;9(2):137-150. Doi:10.1016/S2215-0366(21)00395-3.
6. Lun KW, Chan CK, Ip PK, et al (2018). Depression and anxiety among university studentsinHongKong.HongKongMed J. 2018;24(5):466-472. Doi:10.12809/hkmj176915.
7. Manana M, Ntuli ST, Mokwena K, Maaga K (2023). Prevalence andRiskFactorsforAnxietySymptoms amongStudent Nurses in Gauteng Province of South Africa. Behav Sci (Basel). 2023;13(8):630.Published 2023 Jul 28.Doi:10.3390/bs13080630.
8. Midtgaard M, Ekeberg Ø, Vaglum P, Tyssen R (2008). Mental health treatment needsfor medicalstudents: a national longitudinal study. Eur Psychiatry. 2008;23(7):505-511. Doi:10.1016/j.eurpsy. 2008.04.006.
9. Martínez-Vázquez S, Martínez-Galiano JM, PeinadoMolinaRA, Hernández-MartínezA(2023). Magnitude of general anxiety disorder among nursing students and its associated factors. Health Sci Rep. 2023;6(7):e1405. Published 2023 Jul 12. Doi:10.1002/hsr2.1405.
10. National Institute of Mental Health (2022). Anxiety Disorders, https://www.nimh.nih.gov/health/topics/anxiety-disorders, truy cập ngày 15/10/2023.
11.SeoJG,ParkSP(2015).ValidationoftheGeneralizedAnxiety Disorder-7 (GAD-7) and GAD-2 in patients with migraine. J HeadachePain. 2015;16:97. Doi:10.1186/s10194-015-0583-8.
12. SpitzerRL, Kroenke K,WilliamsJB, LöweB(2006).A briefmeasure for assessing generalized anxiety disorder:theGAD7. Arch Intern Med. 2006;166(10):1092-1097. Doi:10.1001/archinte.166.10.1092.
13. Stewart SM, Lam TH, Betson CL, Wong CM, Wong AM (1999). A prospective analysis of stress and academic performance in the first two years of medical school. Med Educ. 1999;33(4):243-250. Doi:10.1046/j.1365-2923.1999.00294.x.
14.TyssenR,VaglumP,GrønvoldNT,EkebergO(2001).Suicidal ideation among medicalstudents and young physicians: a nationwide andprospective studyofprevalence andpredictors. JAffect Disord. 2001;64(1):69-79. Doi:10.1016/s0165-0327(00)00205-6.
15. Vuong DA, Van Ginneken E, MorrisJ, Ha ST, Busse R (2011).Mental health inVietnam:Burden of disease and availability of services. Asian J Psychiatr. 2011;4(1):65-70. Doi:10.1016/ j.ajp.2011.01.005.
16. Zhang MWB, Lim RBC, Lee C, Ho RCM (2018). Prevalence of Internet Addiction in Medical Students: a Metaanalysis. Acad Psychiatry 2018;42(1):88-93. Doi:10.1007/ s40596-017-0794-1.
Tin mới
-
Bước sang năm 2026, cùng với nhịp đổi mới của ngành y tế cả nước, hệ thống các...22/05/2026 18:05
-
RỐI LOẠN LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TRƯỜNG ĐIỀU DƯỠNG - KỸ THUẬT Y HỌC TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mô tả mức độ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở sinh viên năm...22/05/2026 18:01 -
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Không dung thứ các hành vi sai phạm, trục lợi trên sức khỏe nhân dân
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng chìa khóa để đưa y học cổ truyền...22/05/2026 09:22 -
Từ 1/1/2027, phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh được hỗ trợ tối đa 900.000 đồng sàng lọc 9 bệnh
Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế...22/05/2026 09:31 -
“Pinocchio - Chú bé người gỗ”: Từ chuỗi hoạt động trải nghiệm đến sân khấu mãn nhãn
Ngày 16/5, đêm công diễn “Pinocchio - Chú bé người gỗ” chính thức diễn ra tại Nhà hát...21/05/2026 19:14 -
Toàn bộ bệnh viện đa khoa ở TPHCM sẽ có khu khám sức khỏe miễn phí
Để mở rộng mạng lưới khám sức khỏe định kỳ cho người dân, TPHCM yêu cầu các bệnh...21/05/2026 10:10 -
Phụ nữ Công an Bắc Ninh vinh dự nhận Giải thưởng Phụ nữ Công an tiêu biểu và Nữ Công an cơ sở xuất sắc năm 2025
Tối ngày 17/5, tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Bộ Công an đã trang trọng tổ chức...21/05/2026 09:18 -
ThS Phạm Đức Mục – Chủ tịch Hiệp hội Điều dưỡng Việt Nam: ‘Điều dưỡng phải là những người chăm sóc chuyên nghiệp, thân thiện’
Ngày 20/5, Trường Cao đẳng Dược Hà Nội tổ chức Hội thảo Khao học với chủ đề “Nhân...20/05/2026 16:39 -
BVĐK tỉnh Phú Thọ: Cứu sống bệnh nhân trẻ bị đột quỵ do u nhầy tim
Người bệnh Đ.T.K.C sinh năm 2004, xuất hiện các triệu chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, kèm...20/05/2026 16:45 -
Pharmedic nói gì về lô thuốc nhỏ mắt không đạt chất lượng bị thu hồi?
Liên quan tới lô thuốc Natri clorid 0,9% bị yêu cầu thu hồi vì không đạt chất lượng,...20/05/2026 11:56 -
Trường Trung cấp Nghiệp vụ và Dạy nghề Công đoàn Hà Nội long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập
Sáng ngày 19/5/2026, tại Trường Trung cấp Nghiệp vụ và Dạy nghề Công đoàn Hà Nội đã long...19/05/2026 17:27 -
Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026): Ngời sáng một nhân cách vĩ đại
Mỗi dịp tháng Năm về, ngày sinh nhật Bác lại trở thành một mạch cảm xúc thiêng liêng,...19/05/2026 09:49 -
Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: “Y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh”
“Y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi....19/05/2026 06:09 -
Hơn 100 CEO hội tụ tại TP.HCM: Khi “Rồng Mậu Thìn” thức tỉnh và khát vọng vươn tầm vị thế
Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi thế hệ sinh năm 1988 là "thế hệ bản lề"....18/05/2026 19:19













