THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS TẠI BỆNH VIỆN NHÂN ÁI NĂM 2022

TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực trạng đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người nhiễm HIV/AIDS điều trị tại Bệnh viện Nhân ái năm 2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả thực hiện trên 180 người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại 04 khoa lâm sàng Bệnh viện Nhân ái từ 01/2022 đến 10/2022, đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Mỗi nội dung câu hỏi có hai lựa chọn “Có” hoặc “Không” phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu của người bệnh. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng về y tế chiếm 91,1%, đáp ứng về hỗ trợ chăm sóc chiếm 89,1%, đáp ứng về giao tiếp quan hệ chiếm 87,3%, đáp ứng về hỗ trợ tinh thần chiếm 85,5% và tỷ lệ đáp ứng nhu cầu về hỗ trợ vật chất chiếm 89,3%. Kết luận: Người nhiễm HIV/AIDS được đáp ứng nhu cầu cao nhất về nhu cầu thông tin y tế là (91,1%) và thấp nhất về hỗ trợ tinh thần (85,5%). Chăm sóc cần dựa trên nhu cầu thực tế của từng người bệnh, do đó cần đánh giá chính xác để xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp và hiệu quả.

Từ khóa: Chăm sóc giảm nhẹ, đáp ứng nhu cầu, người nhiễm HIV/AIDS.

STATUS OF MEETING THE PALLIATIVE CARE NEEDS OF PEOPLE WITH HIV/AIDS AT NHANHAI HOSPITAL IN 2022

SUMMARY

Objective: Describe the current situation of meeting the palliative care needs of people with HIV/AIDS treated at Nhan Nhan Hospital in 2022. Research subjects and methods: A descriptive study was conducted on 180 people living with HIV/AIDS who were receiving treatment in four clinical departments of Nhan Ai Hospital from January 2022 to October 2022, meeting the selection criteria. Data were collected through direct interviews using a pre-designed questionnaire. Each question had two response options, "Yes" or "No", reflecting the extent to which patients' needs were met. Results: The medical response rate accounted for 91.1%, the response rate for care support accounted for 89.1%, the response rate for communication and relationships accounted for 87.3%, the response rate for spiritual support accounted for 87.3%. 85.5% and the rate of meeting the need for material support is 89.3%.  Conclusion: People with HIV/AIDS had the highest level of need fulfillment in medical care (91.1%) and the lowest in mental health support (85.5%). Care should be based on the actual needs of each patient; therefore, accurate assessment is essential to develop appropriate and effective care plan

 Keywords: Palliative care, meeting needs, people with HIV/AIDS.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

 Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính đến năm 2021 có 37,7 triệu người nhiễm HIV trên toàn thế giới, và có khoảng 36,3 triệu người đã tử vong [7]. Tại Việt Nam tính đến 31/12/2020 cả nước có 215.220 người nhiễm HIV đang còn sống, 108.719 người nhiễm HIV đã tử vong và số đang điều trị ARV là 152.116 người, chiếm hơn 70% số người nhiễm HIV đã được phát hiện [1].

Theo WHO, chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan đến sự ốm đau đe dọa tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và giảm gánh nặng mà họ phải chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện, điều trị đau và các vấn đề khác như triệu chứng thực thể, tâm lý, xã hội, tâm linh [2], [6]. WHO ước tính mỗi năm thế giới có hơn 56,8 triệu người cần CSGN, trong đó 25,7 triệu người gần giai đoạn cuối đời [3]. Các nhu cầu CSGN phổ biến nhất của NB HIV/AIDS là nhu cầu về y tế, nhu cầu về tâm lý xã hội và nhu cầu hỗ trợ tài chính (77%); chăm sóc tại gia (47%); hỗ trợ dinh dưỡng (44%); giảm đau, quản lý các triệu chứng khác (43%) [5].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (2018) tại Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội cho biết nhu cầu CSGN của người nhiễm HIV/AIDS là rất lớn, trong đó: nhu cầu thông tin y tế chiếm tỷ lệ cao nhất là 95,4%, nhu cầu hỗ trợ chăm sóc chiếm 86,1%, nhu cầu vật chất chiếm 84,3%, nhu cầu hỗ trợ tinh thần chiếm 77,8%, nhu cầu giao tiếp quan hệ chiếm tỷ lệ 72,2%. Tuy nhiên thực trạng đáp ứng những nhu cầu trên còn khiêm tốn, trong đó: đáp ứng nhu cầu thông tin y tế trung bình đạt 77,8%, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ chăm sóc trung bình đạt 66,7%, đáp ứng nhu cầu giao tiếp quan hệ đạt 63,9%, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tinh thần đạt 39,8%, đáp ứng nhu cầu vật chất đạt 61,1% [4]. Hầu hết NB HIV/AIDS chỉ ra rằng những nhu cầu CSGN này chưa được đáp ứng, đặc biệt là nhu cầu giảm đau, quản lý triệu chứng, hỗ trợ tài chính và hỗ trợ dinh dưỡng. Nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu và đáp ứng nhu cầu CSGN đối với người nhiễm HIV/AIDS rất lớn và giao động trong khoảng từ 95,4% đến 39,8% [4], [5].

Bệnh viện Nhân Ái chăm sóc và điều trị miễn phí hoàn toàn cho người nhiễm HIV/AIDS. Trong quá trình chăm sóc chúng tôi nhận thấy nơi đây đa số là bệnh nặng, chỉ số tế bào lympho T-CD4 < 200/mm3 trong máu chiếm phần nhiều, các mặt bệnh ở người nhiễm HIV/AIDS rất phong phú, số người bệnh đồng nhiễm lao/HIV, HBV/HIV và HCV/HIV chiếm tỷ lệ cao. Hơn thế nữa tỷ lệ người bệnh vô gia cư, gia đình ruồng bỏ, không quan tâm, không có khả năng chăm sóc chiếm đa phần [8]. Nhằm nâng cao sự hài lòng, chất lượng chăm sóc, thời gian sống và chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV/AIDS thì việc đánh giá đáp ứng nhu cầu CSGN của NB HIV/AIDS là rất cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Mô tả thực trạng đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Nhân Ái năm 2022.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu: Người nhiễm HIV/AIDS điều trị tại bệnh Nhân ái

Tiêu chuẩn lựa chọn: Người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhân ái, từ 18 tuổi trở lên, có đủ sức khoẻ để trả lời các câu hỏi phỏng vấn, tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ: Người nhiễm HIV/AIDS không có mặt tại thời điểm phỏng vấn.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022.

Địa điểm nghiên cứu: 04 khoa lâm sàng - Bệnh viện Nhân ái.

2.3. Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: gồm 180 người nhiễm HIV/AIDS

Phương pháp chọn mẫu: Tất cả NB đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2022.

2.4. Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp người nhiễm HIV/AIDS dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn

2.5. Bộ công cụ, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.5.1. Công cụ thu thập số liệu:

Bộ công cụ được xây dựng dựa trên Quyết định số 183/BYT ngày 25/01/2022 về việc ban hành “Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với NB ung thư và AIDS” của Bộ Y tế [3]. Nghiên cứu về nhu cầu CSGN của người nhiễm HIV/AIDS năm 2018 của tác giả Nguyễn Thị Mai [4]. Bộ công cụ được chỉnh sửa một số nội dung và từ ngữ để đảm bảo các câu hỏi rõ ràng, phù hợp với đối tượng và địa bàn nghiên cứu. Nội dung bộ câu hỏi gồm: đáp ứng về nhu cầu cần hỗ trợ thông tin y tế (7 câu hỏi); đáp ứng nhu cầu cần hỗ trợ chăm sóc (5 câu hỏi); đáp ứng nhu cầu cần hỗ trợ giao tiếp, quan hệ (5 câu hỏi), đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tinh thần (7 câu hỏi) và đáp ứng nhu cầu hỗ trợ vật chất (4 câu hỏi).

2.5.2. Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá: Với mỗi nội dung câu hỏi: NB sẽ trả lời 1 trong 2 phương án “Có” hoặc “Không” tùy thuộc vào việc NB có hay không có nhu cầu; có được đáp ứng hay không được đáp ứng. Từ đó sẽ xác định tỷ lệ nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của NB ở từng nội dung câu hỏi. Tính tỷ lệ nhu cầu, đáp ứng nhu cầu theo từng yếu tố: NB được xác định là “Có nhu cầu”, “Có được đáp ứng” với yếu tố đó khi số câu trả lời “Có” >50% tổng số câu hỏi của yếu tố đó. NB được xác định là “Không có nhu cầu”, “Không được đáp ứng” với yếu tố đó khi số câu trả lời “Có” ≤50% tổng số câu hỏi của yếu tố đó.

2.6. Phương pháp xử lý số liệu: Kết quả được nhập và xử lý trên phần mềm SPSS 22.0 và áp dụng các test thống kê y học.

2.7. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành sau khi thông qua Hội đồng khoa học, Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội; được sự đồng ý của Ban Giám đốc Bệnh viện Nhân ái cũng như sự đồng ý của NB và gia đình NB tham gia vào nghiên cứu. Các thông tin về NB được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

 3.1. Đặc điểm dân số, xã hội học của đối tượng nghiên cứu.

Bảng 3.1. Đặc điểm dân số đối tượng nghiên cứu (n=180)

Đặc điểm dân số

Tần suất (n)

Tỷ lệ (%)

Giới tính

Nam

147

81,7

Nữ

33

18,3

Nhóm tuổi

< 30 tuổi

20

11,1

Từ 30 - 39 tuổi

53

35,6

Từ 40 - 49 tuổi

77

41,1

≥ 50 tuổi

30

12,2

Tuổi trung bình: 41,2±8,8; tuổi thấp nhất: 22, tuổi cao nhất: 69

Dân tộc

Dân tộc kinh

165

91,7

Dân tộc khác

15

8,3

Tôn giáo

Phật giáo

78

43,4

Thiên chúa giáo

42

23,1

Thờ cúng ông bà

38

21,3

Không tôn giáo

22

12,2

Trình độ

học vấn

Không đi học

21

11,7

Trung học cơ sở trở xuống

118

65,6

Phổ thông trung học

24

13,3

Trung cấp trở lên

17

9,4

Nghề nghiệp

Lái xe

18

10,0

Nông dân/ công nhân

29

16,1

Thất nghiệp

43

23,9

Nghề khác

90

50,0

Nơi cư trú

TP. Hồ Chí Minh

160

88,9

Nơi khác

20

11,1

Tình trạng hôn nhân

Độc thân/chưa lập gia đình

84

46,7

Ly thân/ly dị/góa

 55

30,6 

Đang có gia đình

 41

  22,8

Thanh toán viện phí

Có bảo hiểm

171

95,0

Tự chi trả

9

5,0

Bảng 3.1 cung cấp đặc điểm của nhóm đối tượng được điều tra, tổng số có 180 người bệnh nhiễm HIV/AIDS tham gia vào nghiên cứu, trong đó:

Giới tính: Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới, theo tỷ lệ tương ứng là 81,7% và 18,3%, tỷ lệ nam/nữ là 4,46/1.

Tuổi: Được chia làm 4 nhóm. Trong đó, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 41 ± 8,3 tuổi, nhỏ nhất là 22 tuổi, tuổi lớn nhất là 69 tuổi, tỷ lệ nhóm từ 40 – 49 tuổi cao nhất chiếm 53,2%.

Dân tộc: Dân tộc kinh chiếm 91,7%.

Tôn giáo: Phật giáo chiếm 43,4%, thiên chúa giáo chiếm 23,1%, Thờ cúng ông bà chiếm 21,1% và 12,2% là tỷ lệ không tôn giáo.

Trình độ học vấn: Trình độ học vấn trung học cơ sở trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất 65,6%, trình độ phổ thông trung học chiếm 13,3%, trình độ trung cấp trở lên thấp nhất chiếm 9,4%, 11,7% là tỷ lệ của đối tượng nghiên cứu không đi học.

Nghề nghiệp: nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu là lái xe chiếm tỷ lệ thất nhất 10,0%, tiếp theo là công dân hoặc công nhân chiếm 16,1%, thất nghiệp chiếm 23,9% và nghề nghiệp khác chiếm tỷ lệ cao nhất là 50%.

Nơi cư trú: Đa số đối tượng nghiên cứu có nơi cư trú là ở TP. Hồ Chí Minh chiếm chiếm 88,9%, tỷ lệ cư trú ở nơi khác chiếm 11,1%.

Trình trạng hôn nhân: đối tượng nghiên cứu là độc thân hoặc chưa lập gia đình chiếm tỷ lệ 46,7%, đang có gia đình chiếm tỷ lệ thấp nhất (22,8%).

Thanh toán viện phí: người bệnh có bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ 95,0%.

3.2. Đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ người nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Nhân ái

Bảng 3.2. Tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu về thông tin y tế (n=180)

Nội dung

Được đáp ứng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Được biết thêm thông tin về chẩn đoán bệnh của mình

171

95,1

được biết thêm thông tin về tiên lượng bệnh của mình

160

88,7

được giải thích thêm về phương pháp điều trị bệnh của mình

149

82,7

được biết về mục đích của các xét nghiệm, các can thiệp

143

79,3

được biết các kết quả xét nghiệm sau mỗi lần làm

152

84,7

được thông báo thường xuyên về mức độ thuyên giảm bệnh

141

78,1

Được giải thích về các biến chứng hoặc tác dụng không mong muốn

155

86,6

Được đáp ứng chung

164

91,1

 Kết quả bảng 3.2 cho thấy: Tỷ lệ NB được đáp ứng nhu cầu thông tin về y tế chung chiếm 91,1%. Trong đó nhu cầu về thông tin chẩn đoán bệnh cao nhất chiếm 95,1%, tiếp đến là cần được cung cấp thêm thông tin về tiên lượng bệnh chiếm 88,7%, tỷ lệ NB được đáp ứng nhu cầu thông báo thường xuyên về mức độ thuyên giảm bệnh thấp nhất là 78,1%.

Bảng 3.3. Tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu về hỗ trợ chăm sóc (n = 180)

Nội dung

Được đáp ứng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Được chăm sóc để kiểm soát tốt hơn các triệu chứng của bệnh.

159

88,6

Chăm sóc, hỗ trợ nhiều hơn trong việc ăn, mặc quần áo, tắm gội.

141

81,6

Được sự chăm sóc chu đáo của điều dưỡng

157

87,5

Được hỗ trợ việc vận động, đi lại.

143

79,6

Được hướng dẫn cách tự chăm sóc.

148

82,3

Được đáp ứng hỗ trợ chung

160

89,1

            Kết quả bảng 3.3 cho thấy: Tỷ lệ NB được hỗ trợ trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc chung chiếm 89,1%. Trong đó đáp ứng nhu cầu để kiểm soát tốt hơn các triệu chứng của bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là 88,6%, tiếp đến được hỗ trợ chăm sóc chu đáo hơn của điều dưỡng chiếm tỷ lệ 87,5%, tỷ lệ NB nhận được đáp ứng thấp nhất trong việc được hỗ trợ việc vận động, đi lại chiếm tỷ lệ 79,6%.

Bảng 3.4. Tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu về giao tiếp, quan hệ (n = 180)

Nội dung

Có được đáp ứng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Sự cảm thông chia sẻ của nhân viên y tế

150

83,7

Nói chuyện với người có cùng hoàn cảnh

145

80,7

Sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình

132

73,5

Giữ bí mật các thông tin liên quan đến cá nhân

147

81,9

Được tôn trọng, cư xử bình thường như mọi người

147

81,7

Đáp ứng giao tiếp chung

157

87,3

            Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy: Tỷ lệ NB được đáp ứng nhu cầu giao tiếp, quan hệ chung chiếm 87,3%. Trong đó được đáp ứng cao nhất là nhu cầu cần sự cảm thông, chia sẻ của NVYT chiếm 83,7%, tỷ lệ NB được đáp ứng có nhu cầu thấp nhất là sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình chiếm 73,5%.

Bảng 3.5. Tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về tinh thần (n = 180)

Nội dung

Có được đáp ứng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Được chăm sóc để cảm thấy bản thân hữu ích hơn trong gia đình

149

82,5

Được chăm sóc để cảm thấy không bị bỏ rơi

147

81,7

Được chăm sóc để cảm thấy mình không bị thương hại

152

84,6

Chăm sóc để giảm bớt sự lo sợ phải chịu đựng những cơn đau

170

94,3

Chăm sóc để giảm bớt lo sợ về sự suy giảm dần sức khỏe

153

85,1

Tham gia các hoạt động có ích giúp giảm bớt cảm giác phiền muộn

149

82,9

Được sự tư vấn của một nhà tâm linh học/cha sứ

157

87,3

Được đáp ứng hỗ trợ tinh thần chung

161

89,5

Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy: Tỷ lệ NB được đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tinh thần chung chiếm 89,5%. Trong đó nhu cầu cao nhất là cần được chăm sóc để giảm bớt sự lo sợ phải chịu đựng những cơn đau đớn do bệnh hoặc do thủ thuật y tế chiếm 94,3%, tỷ lệ NB được đáp ứng có nhu cầu thấp nhất là cần được chăm sóc để cảm thấy không bị bỏ rơi chiếm tỷ lệ 81,7%.  

Bảng 3.6. Tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu về vật chất (n = 180)

Nội dung

 

Được đáp ứng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Dịch vụ tốt hơn từ bệnh viện: phòng tắm, bữa ăn, vệ sinh phòng bệnh

155

86,3

Thông tin về những vấn đề liên quan đến kinh tế như: bảo hiểm y tế

152

88,7

Trợ giúp về kinh tế

121

67,4

Thông tin về các cơ sở, tổ chức bảo trợ xã hội (hỗ trợ nơi ở, việc làm…)

159

96,1

Được đáp ứng vật chất chung

161

89,3

            Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy: Tỷ lệ NB được đáp ứng nhu cầu vật chất chung chiếm 89,3%. Trong đó cao nhất là tỷ lệ NB được đáp ứng thêm thông tin về các cơ sở, tổ chức bảo trợ xã hội chiếm 96,1%, tỷ lệ NB được đáp ứng có nhu cầu thấp nhất là cần trợ giúp về kinh tế chiếm tỷ lệ 67,4%.

Thực trạng đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ

Biểu đồ 1. Tỷ lệ được đáp ứng theo từng yếu tố

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ NB được đáp ứng về nhu cầu thông tin y tế cao nhất chiếm 91,1%, tỷ lệ NB được đáp ứng thấp nhất là hỗ trợ tinh thần chiếm 85,5%.

KẾT LUẬN

 Thực trạng được đáp ứng nhu cầu về: tỷ lệ đáp ứng về y tế đạt cao nhất (91,1%) và thấp nhất là đáp ứng về hỗ trợ tinh thần (85,5%), đáp ứng về hỗ trợ chăm sóc đạt 89,1%, đáp ứng về giao tiếp quan hệ đạt 87,3%, và tỷ lệ đáp ứng nhu cầu về hỗ trợ vật chất đạt 89,3%. Chăm sóc cần dựa trên nhu cầu thực tế của từng người bệnh, do đó cần đánh giá chính xác để xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp và hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Y tế (2021), Số 124/BC-BYT, Báo cáo kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2020, Hà Nội, ngày 04 tháng 02 năm 2021.
  2. Bộ Y tế (2015). Chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS, Nhà xuất bản y học, Hà Nộ.
  3. Bộ Y tế (2022), Quyết định số 183/QĐ-BYT, Về việc ban hành Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ, Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2022.
  4. Nguyễn Thị Mai (2018), Đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh HIV/AIDS tại Khoa Truyền nhiễm bệnh viện Bạch Mai năm 2018, Luận văn thạc sĩ điều dưỡng, Đại học điều dưỡng Nam Định.
  5. Uwimana J and Struthers P (2007). Met and unmet palliative care needs of people living with HIV/AIDS in Rwanda. SAHARA-J: Journal of Social Aspects of HIV/AIDS, 4(1), pp.575-585.
  6. WHO (2017). Definition of Palliative care. Available at: http://www.who.int/cancer/palliative/definition/en/, [Accessed 05/12/2021].
  7. WHO (2021). HIV/AIDS. Available at: http://www.who.int/gho/hiv/en/, [Acessat 19/09/2021].

Tin liên quan

Tin mới