THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CUỐI ĐỜI CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG NĂM CUỐI TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kết quả: Sinh viên Điều dưỡng có mức độ thái độ chung tốt với điểm 113,52 ± 11,26 (dao dộng từ 84 đến 149 điểm) trên tổng số 150 điểm. Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đạt mức thái độ tốt về chăm sóc người bệnh cuối đời đạt ở mức khá cao chiếm (52,5%). Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đạt mức thái độ trung bình về chăm sóc người bệnh cuối đời chiếm (47,5%). Không có sinh viên Điều dưỡng đạt mức thái độ không thích hợp về chăm sóc người bệnh cuối đời. Có mối liên quan giữa đặc điểm đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng với thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời (p = 0,007), sinh viên Điều dưỡng đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng có thái độ tích cực hơn khi chăm sóc những người bệnh giai đoạn cuối đời so với sinh viên chưa từng thực hiện chăm sóc. Có sự tương quan thuận tương đối yếu giữa thái độ về chăm sóc giảm nhẹ và kiến thức về chăm sóc người bệnh cuối đời.
Điểm thái độ trung bình là 113,52 ± 11,26 trên tổng 150 điểm (dao dộng từ 84 đến 149 điểm), cho thấy sinh viên có thái độ chung tích cực. Hơn một nửa (52,5%) có thái độ tích cực, 47,5% có thái độ trung bình, và không có sinh viên nào có thái độ tiêu cực. Sinh viên có kinh nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng thể hiện thái độ tích cực hơn đáng kể (p = 0,007). Có sự tương quan thuận yếu giữa thái độ và kiến thức về chăm sóc cuối đời của sinh viên (p = 0,04).
Kết luận: Thái độ chung về chăm sóc người bệnh cuối đời của sinh viên Điều dưỡng đạt ở mức độ tốt, tuy nhiên kết quả này là không cao, gần một nửa sinh viên Điều dưỡng có thái độ trung bình đối với việc chăm sóc người bệnh cuối đời. Bên cạnh đó, sinh viên Điều dưỡng vẫn có những thái độ tiêu cực ở một số khía cạnh chăm sóc người bệnh cuối đời. Trải nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời là yếu tố quan trọng đối với thái độ. Sinh viên Điều dưỡng từng có trải nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời sẽ có thái độ tích cực hơn đối với việc chăm sóc người bệnh cuối đời. Sinh viên có thái độ tốt thì có kiến thức chăm sóc người bệnh cuối đời tốt hơn.
Sinh viên điều dưỡng có thái độ tích cực đối với chăm sóc người bệnh cuối đời, tuy nhiên gần một nửa trong số họ chỉ có thái độ ở mức trung bình và vẫn tồn tại một số mặt tiêu cực trong một vài khía cạnh. Kinh nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời là yếu tố quan trọng giúp hình thành thái độ tích cực. Khuyến nghị tăng cường đào tạo kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ tâm lý trong các tình huống cuối đời nhằm nâng cao thái độ và năng lực của sinh viên trong lĩnh vực này.
Từ khóa: Thái độ, chăm sóc cuối đời, sinh viên Điều dưỡng
ABSTRACT
Objective: To describe the attitudes of final-year nursing students at the University of Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh City toward end-of-life care.
Methodology: A cross-sectional descriptive study was conducted with 160 fourth-year general nursing students from January to April 2024. Data were collected using a self-administered questionnaire, including demographic information and attitudes toward end-of-life care, measured on a 5-point Likert scale.
Results: The average attitude score was 113.52 ± 11.26 out of a possible 150 points (ranging from 84 to 149), indicating an overall positive attitude among students. More than half (52.5%) showed a positive attitude, 47.5% had an average attitude, and none had a negative attitude. Students with clinical experience in end-of-life care exhibited significantly more positive attitudes (p = 0.007). A weak positive correlation was found between students' attitudes and their knowledge of end-of-life care (p = 0.04).
Conclusions: Nursing students generally have a positive attitude toward end-of-life care, though nearly half exhibit only an average attitude, and some negative views persist in certain aspects. Clinical experience in end-of-life care is an important factor in fostering a positive attitude. It is recommended to enhance training in communication skills and psychological support for end-of-life situations to improve students' attitudes and competencies in this field.
Keywords: Attitude, palliative, hospice, end of life care, nursing students
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên Điều dưỡng được kỳ vọng là nguồn lực tương lai của lĩnh vực chăm sóc cuối đời. Thái độ của sinh viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc người bệnh cuối đời. Hầu hết các Điều dưỡng mới ra trường đều chưa sẵn sàng để đối mặt với sự qua đời của người bệnh và thực hiện chăm sóc họ [1,2][ht1] Chăm sóc người bệnh cuối đời có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh viên Điều dưỡng vì họ có thể cảm thấy chưa đủ sẵn sàng, cảm thấy sợ hãi khi đối mặt với cái chết của người bệnh, cảm thấy bất lực khi không thể hỗ trợ được gì cho người bệnh. Những cảm xúc tiêu cực này ảnh hưởng đến chính bản thân sinh viên Điều dưỡng và hiệu quả chăm sóc người bệnh [1]. Đối với Việt Nam, chăm sóc cuối đời vẫn là một chủ đề mới, tình trạng thiếu giáo dục về chủ đề này vẫn là một trong thách thức lớn cần vượt qua [3,4] Bên cạnh đó, các nghiên cứu về thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời trên đối tượng sinh viên Điều dưỡng Việt Nam còn rất ít. Một nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Y Hà Nội nhằm xác định thái độ của sinh viên Điều dưỡng đối với việc chăm sóc người bệnh cuối đời. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên có những mặt tiêu cực khi tiếp xúc với người bệnh cận tử [3]. Tuy nhiên nghiên cứu này không đề cập đến kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên Điều dưỡng và mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh cuối đời. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này[ht2] đối với sinh viên Điều dưỡng, đặc biệt là sinh viên năm cuối, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh cuối đời của sinh viên Điều dưỡng năm cuối tại Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh”.
Đặt vấn đề cần trình bày mục tiêu nghiên cứu
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: sinh viên cử nhân điều dưỡng niên khóa 2020-2024
* Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên đã hoàn thành học phần Chăm sóc giảm nhẹ.
* Tiêu chuẩn loại trừ: sinh viên vắng mặt trong thời gian nghiên cứu (ốm, bảo lưu, chuyển ngành…).
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích.
2.3. Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu của nghiên cứu mô tả một quần thể hữu hạn của Slovin:(:
n ≥ N1+Nd2
N=160 là tổng số sinh viên năm 4 (Kích thước dân số), d= 0,01 (Sai số ước tính)
Tính được n=158 cỡ mẫu tối thiểu là 158 sinh viên.
Chọn mẫu thế nào? (toàn bộ hay thuận tiện-Phụ thuộc vào tổng số sinh viên
2.4. Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền trực tiếp, thời gian từ tháng 1/ 2024 đến tháng 4/2024 tại Khoa ĐD - KTYH, ĐHYD TPHCM.
2.5. Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi khảo sát gồm 2 phần
- Phần A: Bộ câu hỏi gồm 5 câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học.
- Phần B: Bộ câu hỏi về thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời với Cronbach’s alpha là 0,716 gồm có 15 câu hỏi mang ý nghĩa tích cực và 15 câu hỏi mang ý nghĩa tiêu cực và được đánh gia qua thang đo Likert 5 điểm.
- Công cụ nghiên cứu là thang “Frommel Attitude Toward Care Of The Dying”.
2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 12.0. Thống kê phân tích bằng phép kiểm T – Test, ANOVA, Pearson để kiểm định sự khác biệt thống kê, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ sinh viên có độ tuổi > 22 chiếm tỷ lệ thấp 8,75%. Xếp loại học tập tích lũy tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu cho thấy tỷ lệ khá chiếm tỷ lệ cao nhất với 85%, giỏi chiếm 11,25%, trung bình chiếm 3,75% và không có sinh viên nào đạt loại xuất sắc. Ngoài ra, tỷ lệ sinh viên đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng chiếm tỷ lệ cao 96,88%, tỷ lệ sinh viên đã từng chăm sóc người thân/ người quen trong giai đoạn cuối đời chiếm 29,38%.
Tỷ lệ sinh viên trên 22 tuổi chiếm 8,75%, trong khi xếp loại học tập tích lũy chủ yếu là khá (85%), giỏi (11,25%) và trung bình (3,75%), không có sinh viên nào đạt loại xuất sắc. Đặc biệt, 96,88% sinh viên đã có kinh nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời trong lâm sàng và 29,38% đã từng chăm sóc người thân giai đoạn cuối đời.
Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n = 160).
|
Đặc tính mẫu |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
1. Tuổi |
|
|
|
≤ 22 |
146 |
91,25 |
|
> 22 |
14 |
8,75 |
|
2. Giới tính |
|
|
|
Nữ |
137 |
85,63 |
|
Nam |
23 |
14,37 |
|
3. Xếp loại học tập tích lũy |
|
|
|
Xuất sắc |
0 |
0 |
|
Giỏi |
18 |
11,25 |
|
Khá |
136 |
85,00 |
|
Trung bình |
6 |
3,75 |
|
4. Đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng? |
|
|
|
Có |
155 |
96,88 |
|
Không |
5 |
3,12 |
|
5. Đã từng chăm sóc người nhà/người thân giai đoạn cuối đời? |
|
|
|
Có |
47 |
29,38 |
|
Không |
113 |
70,62 |
3.2. Thái độ chung về chăm sóc người bệnh cuối đời
Thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời của sinh viên điều dưỡng năm cuối có điểm trung bình là 113,52 ± 11,26 (trên thang 150 điểm), cho thấy thái độ tích cực. Trong đó, 52,5% sinh viên có thái độ tốt, 47,5% có thái độ trung bình, và không có sinh viên nào có thái độ không phù hợp.
Bảng 3.2. Mức độ thái độ chung của sinh viên điều dưỡng (n= 160)
|
Thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
TB (ĐLC) |
|
Thái độ tốt |
84 |
52,5 |
113,52 ± 1,26 |
|
Thái độ trung bình |
76 |
47,5 |
|
|
Thái độ không thích hợp |
0 |
0 |
|
|
|
|
|
|
3.3. Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời
Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời và các đặc điểm như tuổi (p = 0,565), giới tính (p = 0,578), xếp loại học tập tích lũy (p = 0,349), hoặc kinh nghiệm chăm sóc người thân cuối đời (p = 0,107). Tuy nhiên, kinh nghiệm chăm sóc bệnh nhân cuối đời trên lâm sàng có mối liên hệ thống kê đáng kể với thái độ này (p = 0,007).
Bảng 3.3. Liên quan giữa đặc điểm của đối tương nghiên cứu [ht3] với thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời
|
Đặc điểm |
TB ± ĐLC |
t hoặc F |
p |
|
1. Tuổi |
|
|
|
|
≤ 22 |
113,68 ± 11,25 |
t = 0,577 |
0,565 |
|
> 22 |
111,86 ± 11,65 |
||
|
2. Giới tính |
|
|
|
|
Nữ |
113,72 ± 11,50 |
t = 0,558 |
0,578 |
|
Nam |
112,30 ± 9,84 |
||
|
3. Xếp loại học tập tích lũy |
|
|
|
|
Xuất sắc |
107,33 ± 12,69 |
F = 1,06 |
0,349 |
|
Giỏi |
113,92 ± 10,92 |
||
|
Khá |
112,56 ± 13,24 |
||
|
Trung bình |
0 |
||
|
4. Đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng |
|
|
|
|
Có |
113,94 ± 0,89 |
t = - 2,699[ht4] |
0,007 |
|
Không |
100,4 ± 3,36 |
||
|
5. Đã từng chăm sóc người thân/ người quen trong giai đoạn cuối đời |
|
|
|
|
Có |
115,74 ± 11,21 |
t = - 1,621[ht5] |
0,107 |
|
Không |
112,59 ± 11,20 |
||
3.4 Tương quan giữa kiến thức[ht6] về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời
Với hệ số tương quan r = 0,156 và có ý nghĩa thống kê với p=0,04 cho thấy có sự tương quan thuận tương đối yếu giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời.
Bảng 3.4.Tương quan giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời
|
Biến số |
Kiến thức chăm sóc giảm nhẹ |
Thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời |
|
Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ |
r = 1,0000 |
|
|
Thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời |
r = 0,156 |
r = 1,0000 |
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu[ht7]
- Trong toàn mẫu nghiên cứu, có 14 sinh viên Điều dưỡng thuộc độ tuổi > 22 chiếm tỷ lệ thấp 8.75%. Tỷ lệ này thấp hơn so với đặc điểm tuổi của nghiên cứu tại Trường Đại học Y Dược Huế (32,6%).1[ht8]
- Xét về mặt giới tính, có 137 sinh viên Điều dưỡng nữ tham gia nghiên cứu với tỷ lệ chiếm 85.63%, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Maria Dimoula và các cộng sự (84%),5 Hoàng thị Mộng Huyền và các cộng sự trên đối tượng là Điều dưỡng.
- Xếp loại học tập tích lũy tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu cho thấy tỷ lệ khá chiếm tỷ lệ cao nhất với 85%, giỏi chiếm 11,25%, trung bình chiếm 3,75% và không có sinh viên nào đạt loại xuất sắc.
- Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng chiếm 96,88%, kết quả nghiên cứu này cao hơn so với Hồ Thị Mỹ Yến và Nguyễn Thị Thu (6,4%),1 Abdallah Ahmad Alwawi và các cộng sự (45,9%),8 Mohammad Al Quadire và các cộng sự (47,3%),10 Delgersuren Gelegjamts và các cộng sự (73,8%).7
- Trong nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đã từng chăm sóc người thân/ người quen trong giai đoạn cuối đời chiếm 29,38%, kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của Abdallah Ahmad Alwawi và các cộng sự (50%),8 Delgersuren Gelegjamts và các cộng sự (62,4%)7
4.2. Thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời
- Thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời của sinh viên Điều dưỡng năm cuối có giá trị trung bình là 113,52 ± 11,26 trên tổng 150 điểm cho thấy sinh viên Điều dưỡng năm cuối có thái độ tốt đối việc chăm sóc người bệnh cuối đời. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu về thái độ của sinh viên Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh cuối đời được công bố tại Việt Nam1,3 và nước ngoài.2,5,8,9[ht9] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 52,5% sinh viên Điều dưỡng có thái độ tốt, 47,5% sinh viên Điều dưỡng có thái độ trung bình và không có sinh viên Điều dưỡng nào có thái độ không thích hợp[ht10] . Điểm trung bình thái độ trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thúy Ly và Nguyễn Thị Hiền tại Đại học Y Hà Nội (104,76 ± 9,201),3 Hồ Thị Mỹ Yến và Nguyễn Thị Thu Thảo tại Trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế (103,7 ± 8,32),1 nghiên cứu trên Điều dưỡng tại các cơ sở điều trị ung thư tại Hà nội của Nguyễn Thúy Ly và các cộng sự (103,5 ± 7,46),12[ht11]
- Sinh viên Điều dưỡng năm cuối vẫn có những thái độ tiêu cực ở một số khía cạnh chăm sóc người bệnh cuối đời. 55,01% sinh viên Điều dưỡng cảm thấy sẽ buồn khi người cận tử mà sinh viên đang chăm sóc từ bỏ hy vọng vào khả năng cải thiện tình trạng bệnh, 53,13% sinh viên Điều dưỡng cảm thấy không thoải mái khi nói về cái chết gần kề đối với một người sắp mất. Điều này tương đồng với những nghiên cứu chúng tôi tìm thấy tại Việt Nam3 và nước ngoài.7,8,10,11
- Điều tích cực mà nghiên cứu này phát hiện được là 10,63% sinh viên Điều dưỡng thấy rằng Điều dưỡng không nên trao đổi về cái chết với người sắp mất. Và chỉ có một lượng nhỏ sinh viên Điều dưỡng trong nghiên cứu này chiếm 5,63% thể hiện thái độ không muốn chăm sóc cho người cận tử. Kết quả này cao hơn so với những nghiên cứu tại Việt Nam3 và nước ngoài.8
- Sinh viên Điều dưỡng có thái độ tích cực cao ở các câu thái độ liên quan đến gia đình của người bệnh cận tử. Trong nền văn hóa Châu Á, trong đó có Việt Nam, sự hiện diện của gia đình vào lúc hấp hối của người bệnh là rất quan trọng. Các thành viên gia đình thường dành toàn bộ thời gian để ở bên cạnh và chăm sóc người thân, ngay cả khi điều này có thể gây ra những ảnh hưởng về mặt thể chất và kiệt sức về mặt tâm lý.7
4.3. Liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh cuối đời
- Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời với các đặc điểm tuổi (p = 0,565), giới tính (p = 0,578), xếp loại học tập tích lũy (p = 0,349), đã từng chăm sóc người thân/ người quen trong giai đoạn cuối đời (p = 0,107). Những nghiên cứu chúng tôi tìm thấy tại Việt Nam1,3 và thế giới,7,8,9,10,11 có những kết quả khác nhau về mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời. Chăm sóc giảm nhẹ có sự khác biệt đáng kể ở nhiều quốc gia do sự đa dạng văn hóa[ht12] .
- Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của sinh viên Điều dưỡng với trải nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng với p = 0,007, cụ thể sinh viên đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng có điểm trung bình thái độ là 113,94 ± 0,89 cao hơn so với sinh viên chưa từng chăm sóc với điểm trung bình là 100,4 ± 3,36. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho rằng sinh viên từng chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng có thái độ tích cực hơn khi chăm sóc những người bệnh này.3,9,11[ht13] Kết quả này ngược lại với những gì Hồ Thị Mỹ Yến và Nguyễn Thị Thu Thảo,1 Mohammad Al Quadire và các cộng sự10 nghiên cứu được, họ thấy rằng sinh viên từng tiếp xúc hay chứng kiến người bệnh trong những giai đoạn hấp hối có điểm trung bình thái độ thấp hơn so với những sinh viên chưa từng tiếp xúc hay chứng kiến[ht14] .
4.4. Tương quan giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời
Trong nghiên cứu, tìm thấy mối tương quan, mặc dù yếu với p = 0,04 giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời. Sinh viên có kiến thức tốt sẽ thể hiện thái độ tích cực khi chăm sóc những người bệnh cuối đời. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Thúy Ly và các cộng sự,3,12 Maria Dimoula và các cộng sự,5 Robinson và các cộng sự.15
- Bên cạnh đó một số nghiên cứu lại không tìm thấy mối tương quan giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời, việc sinh viên có kiến thức tốt không đủ để phát triển thái độ tích cực với người bệnh cuối đời.7
- Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai biến này không nhất quán, mối tương quan tích cực được tìm thấy trong nghiên cứu này và một số nghiên cứu khác,3,5,12,15 mối tương quan tiêu cực được tìm thấy trong nghiên cứu của Karkata và các cộng sự.16 Cần nhiều nghiên cứu hơn để có thể xác định mối quan hệ giữa hai biến này.
Trong nghiên cứu có kết quả về tương quan giữa trải nghiệm lâm sàng và thái độ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của trải nghiệm thực tiễn trong việc hình thành thái độ tích cực đối với chăm sóc cuối đời.
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ có độ tin cậy cao, đã được đánh giá và được sử dụng trên nhiều quốc gia và Việt Nam làm tăng tính chính xác của nghiên cứu. Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu trực tiếp, tính chính xác của kết quả được tăng cao hơn so với lấy mẫu trực tuyến vì hạn chế sinh viên có thể tra cứu kết quả bằng Internet. Tuy nhiên nghiên cứu thực hiện trên đối tượng sinh viên Điều dưỡng năm cuối tại ĐHYD TPHCM, do đó kết quả không thể mang tính khái quát bao hàm cho tất cả sinh viên ĐHYD TPHCM nói riêng và sinh viên toàn quốc nói chung. Việc áp dụng nghiên cứu cắt ngang gây khó khăn cho việc kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Sinh viên Điều dưỡng năm cuối có thái độ tốt đối việc chăm sóc người bệnh cuối đời, nhưng kết quả này là không cao, gần một nửa sinh viên trong nghiên cứu có thái độ trung bình. Bên cạnh đó, sinh viên Điều dưỡng năm cuối vẫn có những thái độ tiêu cực ở một số khía cạnh chăm sóc người bệnh cuối đời. Trải nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời là yếu tố quan trọng đối với thái độ. Sinh viên Điều dưỡng đã từng chăm sóc người bệnh cuối đời sẽ có thái độ tích cực hơn so với sinh viên chưa từng chăm sóc. Tìm thấy mối tương quan, mặc dù yếu với p = 0,04 giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ chăm sóc người bệnh cuối đời. Sinh viên có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ tốt sẽ thể hiện thái độ tích cực khi chăm sóc những người bệnh cuối đời.
Dựa trên những mặt thái độ tiêu cực của sinh viên Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh cuối đời, tư vấn sinh viên Điều dưỡng chủ động chia sẻ với các giảng viên hướng dẫn học phần chăm sóc giảm nhẹ khi gặp những khó khăn khi chăm sóc người bệnh trên lâm sàng. Sinh viên Điều dưỡng cần được đào tạo thêm về kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ tâm lý cho người bệnh giai đoạn cuối, hỗ trợ tâm lý cho chính sinh viên Điều dưỡng, giúp họ hiểu và quản lý tốt hơn các tình huống chăm sóc người bệnh cận tử. Việc tăng cường kinh nghiệm và sự tự tin cũng có thể giúp họ thoải mái hơn khi thảo luận về những vấn đề liên quan đến cái chết. Đưa các kinh nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời vào lâm sàng, tăng cường hỗ trợ tâm lý cho sinh viên Điều dưỡng, giúp họ hiểu và quản lý tốt hơn các tình huống chăm sóc người bệnh cận tử sẽ giúp thái độ của sinh viên Điều dưỡng thay đổi theo hướng tích cực hơn.
KẾT LUẬN TRÊN ĐÂY KHÔNG RÕ CÂN NHẮC KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ DƯỚI ĐÂY
Thái độ của sinh viên: Sinh viên điều dưỡng năm cuối tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có thái độ chung tích cực đối với chăm sóc người bệnh cuối đời không cao, với điểm trung bình là 113,52 ± 11,26 trên tổng số 150 điểm. Điều này cho thấy sinh viên nhận thức và hiểu biết khá tốt về vai trò của chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân cuối đời. Tuy nhiên, gần một nửa số sinh viên vẫn chỉ đạt mức trung bình, điều này cho thấy vẫn có cơ hội cải thiện trong việc nâng cao thái độ của sinh viên.
Yếu tố liên quan: Sinh viên có kinh nghiệm chăm sóc người bệnh cuối đời trên lâm sàng có thái độ tích cực hơn đáng kể so với những sinh viên chưa có kinh nghiệm (p = 0,007). Có sự tương quan thuận yếu giữa kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời (p = 0,04). Sinh viên có kiến thức tốt hơn thường có thái độ tích cực hơn, dù mối quan hệ này không mạnh mẽ.
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị
- Tăng cường đào tạo lâm sàng: Cần cung cấp cho sinh viên điều dưỡng nhiều cơ hội thực hành chăm sóc người bệnh cuối đời trong môi trường lâm sàng. Trải nghiệm thực tế có thể giúp sinh viên hình thành thái độ tích cực hơn và sẵn sàng hơn trong việc chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối.
- Đào tạo kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ tâm lý: Đưa các kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ tâm lý vào chương trình học, nhằm giúp sinh viên có thể đối mặt và xử lý tốt hơn các tình huống liên quan đến chăm sóc người bệnh cuối đời. Các kỹ năng này không chỉ giúp sinh viên hỗ trợ tốt hơn cho bệnh nhân mà còn giúp sinh viên tự điều chỉnh cảm xúc và giảm bớt căng thẳng khi làm việc.
- Tăng cường giáo dục về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ: Cần cung cấp thêm kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ và nâng cao hiểu biết của sinh viên về các vấn đề liên quan đến chăm sóc cuối đời. Điều này có thể giúp sinh viên hình thành thái độ tích cực hơn đối với việc chăm sóc người bệnh cuối đời, đồng thời cải thiện khả năng tự tin và chuyên nghiệp của họ trong thực hành.
- Xây dựng chương trình hỗ trợ tâm lý cho sinh viên: Đối mặt với cái chết và chăm sóc bệnh nhân trong giai đoạn cuối đời có thể là trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ đối với sinh viên. Vì vậy, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ tâm lý, chẳng hạn như tư vấn hoặc thảo luận nhóm, giúp sinh viên xử lý các cảm xúc tiêu cực và phát triển sự vững vàng trong nghề.
Xin chân thành cảm ơn Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và viết bài báo này!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hồ Thị Mỹ Yến, Nguyễn Thị Thu Thảo (2022). Thái độ của sinh viên điều dưỡng đối với chăm sóc bệnh nhân cuối đời và các yếu tố liên quan. Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế. 2022;12(6):99-104
- Wang W, Wu C, Bai D, et al (2022). A meta-analysis of nursing students' knowledge and attitudes about end-of-life care. Nurse Educ Today. 2022;119:105570. doi:10.1016/j.nedt.2022.105570
- Nguyễn Thúy Ly, Nguyễn Thị Hiền. Attitudes towards caring for terminally-ill patients among in-serviced nursing students at Hanoi medical university, Vietnam. Vietnam Journal of Medicine and Pharmacy. 2015;7(1):1-13
- Nguyễn Ngọc Hoành Mỹ Tiên, Lê Đại Dương, Nguyễn Đoàn Ngọc Mai, Thân Hà Ngọc Thể. Yếu tố liên quan với nguyện vọng chăm sóc cuối đời của người cao tuổi bệnh ung thư giai đoạn IV tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Lâm sàng. 2022; 79: 83-91
- Dimoula M, Kotronoulas G, Katsaragakis S, Christou M, Sgourou S, Patiraki E. Undergraduate nursing students' knowledge about palliative care and attitudes towards end-of-life care: A three-cohort, cross-sectional survey. Nurse Educ Today. 2019;74:7-14. doi:10.1016/j.nedt.2018.11.025
- Hoàng Thị Mộng Tuyền, Đặng Huy Quốc Thịnh, Quách Thanh Khánh, et al. Kiến thức và thái độ của Điều dưỡng về chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư tại bệnh viện ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/2018 – 4/2018. Tạp chí ung thư học Việt Nam. 2018: 379-384
- Gelegjamts D, Yong Yoo J, Kim J, Sun Kim J. Undergraduate nursing students' palliative care knowledge and attitudes towards end-of-life care: a cross-sectional descriptive study. Contemp Nurse. 2020;56(5-6):477-490. doi:10.1080/10376178.2021.1890165
- Alwawi AA, Abu-Odah H, Bayuo J. Palliative Care Knowledge and Attitudes towards End-of-Life Care among Undergraduate Nursing Students at Al-Quds University: Implications for Palestinian Education. Int J Environ Res Public Health. 2022;19(15):9563. doi:10.3390/ijerph19159563
- Zahran Z, Hamdan KM, Hamdan-Mansour AM, Allari RS, Alzayyat AA, Shaheen AM. Nursing students' attitudes towards death and caring for dying patients. Nurs Open. 2022;9(1):614-623. doi:10.1002/nop2.1107
- Al Qadire M. Jordanian Student Nurses' Attitudes towards the Care of Dying Patients. Omega (Westport). 2022;86(2):382-394. doi:10.1177/0030222820971077
- A'la, M. Z., Setioputro, B., Kurniawan, D. E. Nursing students’ attitudes towards caring for dying patients. Nurse Media Journal of Nursing. 2018;8(1):25-34. doi: 10.14710/nmjn.v8i1.17270
- Nguyen LT, Yates P, Osborne Y. Palliative care knowledge, attitudes and perceived self-competence of nurses working in Vietnam. Int J Palliat Nurs. 2014;20(9):448-456. doi:10.12968/ijpn.2014.20.9.448
- Dobbins, Elizabeth. The impact of end of life care content on the attitude of associate degree nursing students towards death and care of the dying. Teaching and Learning in Nursing. 2011; 6:159-166. doi:10.1016/j.teln.2011.04.002
- Henoch I, Melin-Johansson C, Bergh I, et al. Undergraduate nursing students' attitudes and preparedness toward caring for dying persons - A longitudinal study. Nurse Educ Pract. 2017;26:12-20. doi:10.1016/j.nepr.2017.06.007
- Robinson E, Epps F. Impact of a Palliative Care Elective Course on Nursing Students' Knowledge and Attitudes Toward End-of-Life Care. Nurse Educ. 2017;42(3):155-158. doi:10.1097/NNE.0000000000000342
- Karkada S, Nayak BS, Malathi. Awareness of palliative care among diploma nursing students. Indian J Palliat Care. 2011;17(1):20-23. doi:10.4103/0973-1075.78445
[ht1]Xem quy định đăng Tạp chí để trích dẫn TLTK cho đúng
[ht2]Viết rõ vấn đề.
[ht3]Có nhiều đặc điểm không phải là NKH
[ht4]Tại sao t lại có giá trị âm khi mà nhóm có kinh nghiệm chăm sóc NBCĐ có điểm trung bình cao hơn?
[ht5]Tại sao t lại có giá trị âm khi mà nhóm có kinh nghiệm chăm sóc người thân trong giai đoạn CĐ có điểm trung bình cao hơn?
[ht6]Kết quả KIẾN THỨC như thế nào? được trình bày ở đâu?.
[ht7]Không cần bàn luận về đặc điểm ĐTNC. Không viết dưới dạng gạch đầu dòng. Những bàn luận về đặc điểm nhân khẩu có ý nghĩa gì?
[ht8]NC của Huế có cùng là trên đối tượng năm thứ cuối không?
[ht9]Cần có diễn giải tại sao tương đồng và nếu tương đồng thì có ý nghĩa gì?
[ht10]Vậy ý nghĩa là gì?
[ht11]Cần có giải thích/lập luận tại sao cao hơn? Ý nghĩa của két quả đó.
[ht12]Cần có ly giải tại sao? Ý nghĩa của kết quả
[ht13]Ý nghĩa của kết quả này là gì?
[ht14]Cần có lý giải tại sao có sự khác nhau.
Tin liên quan
-
To describe the status of emotional labor among nurses and analyze related factors at the National Endocrinology Hospital...
-
RESULTS OF AIDET BASED COMMUNICATION PRACTICE AMONG NURSES, MIDWIVES, AND MEDICAL TECHNICIANS AT VINMEC SMART CITY HOSPITAL IN 2025
(i) To describe the level of AIDET-based communication practice among nurses, midwives, and medical technicians; and (ii) to... -
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẤT NGỦ THEO THANG ĐIỂM SF-36 ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN
TÓM TẮT Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất trong dân số nói chung,... -
THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHỐI NGOẠI, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cho...
Tin mới
-
Hà Nội: Tăng cường công tác tuyên truyền PCCC&CNCH tại các điểm bầu cử đại biểu quốc hội khóa XVI
Nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn PCCC&CNCH tại các nơi niêm yết danh sách cử tri và...09/03/2026 19:27 -
CHĂM SÓC CHỦ ĐỘNG TRONG DỊP TẾT: BẢY NGUYÊN TẮC BẢO DƯỠNG THÂN THỂ DỰA TRÊN TRIẾT LÝ Y HỌC CỦA THIỀN TÍN ĐỒ
Một trong những nét đáng yêu nhất của Tết Nguyên Đán Việt Nam là mọi người vẫn bận...09/03/2026 12:01 -
GÃY ỐNG THÔNG TĨNH MẠCH NGOẠI VI DO CẮT VÔ TÌNH BẰNG KÉO: BÀI HỌC TỪ HAI CA BỆNH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHẢN ỨNG LÂM SÀNG NGAY LẬP TỨC
Gãy catheter tĩnh mạch ngoại vi (PIVC) là biến chứng hiếm nhưng có thể gây hậu quả nghiêm...08/03/2026 21:20 -
GÁNH NẶNG CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH CHO BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT: MỘT NGHIÊN CỨU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN NGHỆ AN NĂM 2025
Nghiên cứu tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm 2025 cho thấy người chăm sóc chính của...08/03/2026 21:41 -
ĐẠO ĐỨC SÁNG RỰC, TINH THẦN KIÊN CƯỜNG: DẤU ẤN CỦA CÁC Y TÁ QUÂN ĐỘI TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Đầu năm 2026, Cục Y tế Quân đội (thuộc Tổng cục Hậu cần và Công binh), phối hợp...08/03/2026 20:58 -
SỰ GẮN KẾT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VỚI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐÀ NẴNG NĂM 2024 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TÓM TẮT Mục tiêu: 1) Mô tả sự gắn kết của nhân viên y tế (NVYT) với Bệnh...08/03/2026 20:00 -
THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CUỐI ĐỜI CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG NĂM CUỐI TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thái độ về chăm sóc người bệnh cuối đời của...08/03/2026 20:45 -
Khi trạm y tế chủ động “gõ cửa” từng hộ dân
Mới đây, phường Xuân Hòa (TPHCM) đã chính thức triển khai thí điểm mô hình “Đội chăm sóc...07/03/2026 10:12 -
Nữ bác sĩ và hành trình hơn 10 năm xoa dịu những ‘tâm hồn vụn vỡ’
Bác sĩ Vân Anh dành hơn 10 năm thầm lặng xoa dịu những mảnh đời vụn vỡ tại...07/03/2026 10:46 -
Bác sĩ 'viện K' tiên phong thực hiện thành công gần 300 ca phẫu thuật nội soi bệnh phụ khoa bằng kỹ thuật mới
Các thầy thuốc của Bệnh viện K đã thực hiện thành công gần 300 ca vNOTES - phẫu...07/03/2026 10:14 -
Thầy thuốc Ưu tú Ngô Thị Mai Hương - Người giữ bình an cho những lần chào đời
Hơn 30 năm công tác trong ngành y, Thầy thuốc Ưu tú Ngô Thị Mai Hương, Trưởng phòng...06/03/2026 15:29 -
THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHỐI NGOẠI, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (TVGDSK) cho...06/03/2026 10:16 -
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẤT NGỦ THEO THANG ĐIỂM SF-36 ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN
TÓM TẮT Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất trong dân số nói chung,...06/03/2026 10:43 -
RESULTS OF AIDET BASED COMMUNICATION PRACTICE AMONG NURSES, MIDWIVES, AND MEDICAL TECHNICIANS AT VINMEC SMART CITY HOSPITAL IN 2025
(i) To describe the level of AIDET-based communication practice among nurses, midwives, and medical technicians; and (ii) to...05/03/2026 15:38















