ÁP DỤNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ VÀ RA QUYẾT ĐỊNH (I-DECIDED) TRONG CHĂM SÓC ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2023

TÓM TẮT Theo dõi và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (TMNV) là một trong những nhiệm vụ cơ bản và thường xuyên của điều dưỡng. Tuy nhiên, bệnh viện chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV nên việc theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng chưa được đồng bộ. Việc áp dụng quy trình hay phương pháp cụ thể cần có bằng chứng khoa học để chứng minh lợi ích của việc triển khai áp dụng. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả việc triển khai áp dụng công cụ I-DECIDED trong chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Chợ Rẫy.

Phương pháp: áp dụng hình thức thử nghiệm giải pháp mới, can thiệp không nhóm chứng, lượng giá bằng phân tích kết quả khảo sát trước và sau can thiệp trên điều dưỡng chăm sóc trực tiếp tại các khoa lâm sàng của bệnh viện.

Kết quả:  Áp dụng bộ công cụ I-DECIDED trong đánh giá và đưa ra quyết định chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng (ĐD) tại 4 khoa lâm sàng của bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian 4 tuần, tháng 3/2023 đã đạt các kết quả như: hoạt động chăm sóc đường truyền sau can thiệp cải thiện đáng kể so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê (p<0,005) bao gồm băng dán cố định kim luồn đạt tiêu chuẩn, lưu kim không sử dụng trong 24 giờ, vệ sinh tay, sát khuẩn cổng tiêm và giáo dục kiến thức về tiêm truyền cho người bệnh. Các nội dung số lần đặt kim, tình trạng hoạt động của đường truyền, đường truyền không đảm bảo hệ thống kín, tỉ lệ đường truyền có biến chứng cũng có sự cải thiện, nhưng ít không có ý nghĩa thống kê.

Kết luận:

 Áp dụng bộ công cụ I-DECIDED giúp cải thiện công tác chăm sóc đường truyền TMNV tốt hơn. ĐD chủ động trong công tác theo dõi, đánh giá, chăm sóc đường truyền và ra quyết định can thiệp chăm sóc, rút kim, thay kim hợp lý, giúp người bệnh an toàn, thoải mái. Người bệnh có đặt kim luồn được ĐD theo dõi, đánh giá, chăm sóc hằng ngày phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng; được giáo dục sức khoẻ liên quan đến tiêm truyền, hiểu được mục đích của đường truyền, hợp tác tốt với ĐD trong việc theo dõi, giữ gìn và chăm sóc đường truyền.

Khuyến nghị: Triển khai áp dụng công cụ I-DECIDED như một phần trong quy trình chăm sóc người bệnh có đường truyền TMNV, hỗ trợ nhắc nhớ cho ĐD trong việc theo dõi, đánh giá, chăm sóc đường truyền và ra quyết định can thiệp chăm sóc đúng.

Từ khóa: Tĩnh mạch ngoại vi, Catheter TMNV, I-DECIDED, biến chứng liên quan tiêm truyền.

 

ABSTRACT

Objective: Evaluate the effectiveness of implementing applying the I-DECIDED tool in peripheral intravenous line care by nurses at the clinical departments of Cho Ray hospital.

Method: trial application of new solutions, intervention without control group, evaluated by analyzing pre- and post-intervention survey results for care nurses in hospital clinical departments.

Results: Applying the I-DECIDED tool in assessing and making decisions about peripheral intravenous line care by nurses at 4 clinical departments of Cho Ray hospital for 4 weeks in March 2023 has the following results: activities Nurses' care for the infusion line after the intervention is improved compared to before the intervention, including standard tape to fix the needle, storing unused needles for 24 hours, hand hygiene, disinfecting the injection port and Educating patients on knowledge about infusion are significant with p<0.005. The contents of the number of needle insertions, the operating status of the transmission line, the transmission line not ensuring a closed system, and the rate of transmission lines with complications also improved but were not statistically significant.

Conclusion: Applying the I-DECIDED tool helps nurses improve peripheral intravenous line care better. Nurses are proactive in monitoring, evaluating, providing care and making decisions on care interventions, removing needles and replacing needles appropriately, helping patients stay safe and comfortable. Patients with peripheral intravenous line are monitored, evaluated, and cared for daily by nurses, with early detection and timely treatment of complications; Patients receive health education related to infusion, understand the purpose of infusion, and cooperate well with nurses in monitoring, maintaining and taking care of the infusion line.

Keywords: Peripheral IV, Peripheral Intravenous Catheter (PIVC), I-DECIDED, Complications of IV infusion.

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (TMNV) là thủ thuật xâm lấn phổ biến trong thực hành lâm sàng của điều dưỡng (ĐD) với mục đích truyền dịch, truyền thuốc - hóa chất, truyền máu và các chế phẩm của máu [1]. Khoảng 70% người bệnh nội trú có ống thông tĩnh mạch ngoại vi đưa thuốc hoặc dung dịch vào cơ thể, 30-50% ống thông tĩnh mạch để lại biến chứng hoặc ngừng hoạt động trước thời gian quy định rút kim, 50% ống thông được đặt không được sử dụng hoặc mục đích sử dụng không rõ ràng, gây khó chịu không cần thiết và nguy cơ tiềm ẩn.[6]

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đường truyền có biến chứng 20,8% trong đó biến chứng liên quan đến kim luồn TMNV thấm, thoát mạch chiếm 15,7%, viêm tĩnh mạch chiếm 3,2%, loét tỳ đè vị trí lưu kim chiếm 1,9% [5]. Nghiên cứu tại bệnh viện Đà Nẵng năm 2022 cho thấy biến chứng liên quan đến đường truyền TMNV hệ thống kín và hệ thống mở lần lượt là viêm tĩnh mạch 8,1% và 22,5%; tắc kim 12,9% và 11,3%; tụt kim 17,7% và 12,9% [4]. Các biến chứng này khiến cho người bệnh khó chịu, đau đớn, tăng thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị và nguy cơ nhiễm trùng huyết thậm chí tử vong. Theo dõi và chăm sóc catheter hay đường truyền TMNV là các bước trong quy trình chăm sóc người bệnh của ĐD, tuy nhiên khi không có quy định cụ thể, không có giám sát, đánh giá thì việc thực hiện của ĐD chưa thật sự hiệu quả. Nghiên cứu khảo sát “Kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng bệnh viện Chợ Rẫy về tiêm tĩnh mạch an toàn” cho thấy có 93,5% điều dưỡng được khảo sát đã được đào tạo về tiêm an toàn tuy nhiên tỷ lệ thực hành tốt về tiêm an toàn chỉ đạt 45,5% [2]. Phòng Điều dưỡng đã tăng cường công tác giám sát về thực hành tiêm an toàn tại bệnh viện và tỷ lệ thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng đã cải thiện đáng kể lên đến >95% năm 2020. Kết quả này cho thấy việc thực hiện quy trình kỹ thuật đặt kim luồn và đường truyền TMNV của ĐD đã khá tốt. Tuy nhiên trong quá trình giám sát các hoạt động chăm sóc, phòng Điều dưỡng còn ghi nhận tình trạng kim luồn không ghi ngày đặt kim, lưu kim luồn quá thời gian quy định, băng dán cố định kim dơ, thấm dịch, máu khá nhiều. Người bệnh bị các biến chứng của tiêm truyền như: tắc nghẽn, di lệch, đông máu trong dây truyền, đau nơi đặt kim, sưng, đỏ dọc theo tĩnh mạch nhưng chưa được ĐD can thiệp chăm sóc kịp thời.

Từ các lý do trên nhóm nghiên cứu muốn tìm ra một giải pháp để cải tiến chất lượng công tác theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD tại bệnh viện. Nhóm đã tìm ra được bộ công cụ hỗ trợ I-DECIDED. Bộ công cụ I-DECIDED do Giáo sư Gillian Ray-Barruel và nhóm AVATAR nghiên cứu phát triển vào năm 2017 tại các bệnh viện của nước Úc. Bộ công cụ được các chuyên gia trên thế giới đánh giá cao, có tỷ lệ đồng ý về nội dung từ các chuyên gia lâm sàng các nước Úc, Anh, Mỹ, Canada đạt từ 0,91% đến 0,94% với độ tin cậy là 87,13% [7]. Bộ công cụ gồm các nội dung hỗ trợ ĐD trong đánh giá và ra quyết định chăm sóc đường truyền TMNV, nhắc nhở ĐD giáo dục cho người bệnh cùng tham gia quá trình theo dõi, chăm sóc và đánh giá đường tiêm truyền tĩnh mạch. Phiên bản tiếng Việt của bộ công cụ I-DECIDE đã được nhóm nghiên cứu của trường Đại học Y Dược TP.HCM thực hiện đánh giá về giá trị và độ tin cậy năm 2020, và cũng được các chuyên gia đánh giá khá cao về tính giá trị nội dung và độ tin cậy đạt từ 92,9% đến 100% với Pabak =0,889 – 0,921 và p<0,001 [3]. Tỷ lệ này khá tương đồng với nghiên cứu gốc của tác giả Ray-Barruel G với Pabak=0,5882 – 1,0 [7].

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng: Điều dưỡng làm việc tại bệnh viện Chợ Rẫy trên 1 năm, chăm sóc trực tiếp người bệnh tại 04 khoa lâm sàng (02 khoa Ngoại và 02 khoa Nội) không chọn nhóm điều dưỡng hành chính và điều dưỡng đi học trong thời gian khảo sát và khảo sát trên người bệnh nội trú có đường truyền TMNV trong thời gian quan sát tại 04 khoa lựa chọn áp dụng phương pháp thực hành dựa vào chứng cứ để cải tiến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng.

2.3. Biện pháp can thiệp: Bước 1-Tổ chức tập huấn cho ĐD có chăm sóc trực tiếp người bệnh của 04 khoa lựa chọn, nội dung tạp huấn gồm: Giới thiệu về bộ công cụ I-DECIDED, lợi ích khi áp dụng, cách áp dụng bộ công cụ I-DECIDED trong việc theo dõi, đánh giá và đưa ra quyết định trong chăm sóc đường truyền TMNV. Bước 2-Triển khai áp dụng bộ công cụ I-DECIDED cho tất cả người bệnh có chỉ định truyền TMNV trong 4 tuần. Bước 3- Sau 4 tuần áp dụng, khảo sát đánh giá lại công tác chăm sóc đường truyền TMNV và phỏng vấn NB tại 04 khoa đã triển khai áp dụng bộ công cụ, nội dung khảo sát cùng bảng khảo sát trước can thiệp.

2.4. Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng bảng kiểm giấy để thu thập nội dung liên quan đến việc theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD gồm thông tin về đường truyền, đánh giá các nội theo dõi, chăm sóc, kiểm soát nhiễm khuẩn trên các đường truyền được quan sát và phỏng vấn ngẫu nhiên người bệnh có đường truyền về những kiến thức, hiểu biết của người bệnh liên quan đến tiêm truyền.

Nhóm khảo sát gồm 03 thành viên nhóm nghiên cứu được tập huấn về cách thu thập số liệu dựa trên bảng kiểm và thống nhất cách đánh giá. Khảo sát lần đầu ghi nhận thực trạng công tác đường truyền TMNV của ĐD và phỏng vấn người bệnh những nội dung liên quan đến hiểu biết về đường tiêm truyền; Khảo sát lần 2 với cùng bảng kiểm, thời điểm sau can thiệp 4 tuần.

2.5. Phương pháp phân tích số liệu:

Số liệu thu thập được nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 20. Thống kê mô tả theo tần số và t lệ %. Các kiểm định so sánh giá trị trung bình, so sánh 2 tỷ lệ được sử dụng để phân tích sự khác biệt giữa trước và sau can thiệp.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm thông tin chung của điều dưỡng được can thiệp tại 04 khoa lựa chọn

Bảng 1. Phân bố điều dưỡng được can thiệp tại các khoa

Nội dung

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Khoa công tác

Ngoại Tiêu hoá

36

25,7

Ngoại Gan Mật Tuỵ

33

23,6

Nội Hô hấp

41

29,3

Điều trị Giảm nhẹ

30

21,4

Tổng

140

100

Nhận xét: Tỉ lệ phân bố tương đối đồng điều giữa các khoa

3.2. Kết quả khảo sát các hoạt động theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD trước và sau can thiệp.

Khảo sát thuận tiện trên người bệnh có đường truyền TMNV để đánh giá công tác theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD tại 04 khoa lựa chọn. Thời gian 01 tuần trước can thiệp (tháng 02/2023). Sau khi can thiệp và triển khai thực hiện 1 tháng, khảo sát lại việc thực hiện và duy trì.

Bảng 2. Phân bố người bệnh có đường truyền TMNV tại các khoa

Nội dung

Trước can thiệp

Sau can thiệp

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Khoa

Ngoại Tiêu hoá

45

22,4

41

22,3

Ngoại Gan Mật Tuỵ

51

25,4

43

23,4

Nội Hô hấp

60

29,8

59

32

Điều trị Giảm nhẹ

45

22,4

41

22,3

Tổng

201

100

184

100

Nhận xét: Tỉ lệ phân bố người bệnh được khảo sát giữa các khoa gần tương đồng giữa trước và sau can thiệp.

Bảng 3. Kết quả đánh giá các hoạt động theo dõi và chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD trước và sau can thiệp

Nội dung

Trước can thiệp (n=201)

Sau can thiệp (n=184)

p

Số lượng

(%)

Số lượng

(%)

Số lần đặt kim luồn

01 lần

149

74,1

153

83,2

0,02

02 lần

36

17,9

22

12

>02 lần

16

8

09

4,8

Tình trạng đường truyền

 

Hoạt động tốt

179

89,1

172

93,5

0,6

Không hoạt động

22

10,9

12

6,5

Lưu kim không sử dụng trong 24 giờ

49

24,4

09

4,9

0,000

Băng dán cố định

 

Đạt (Khô, sạch, chắc chắn, ghi ngày đặt kim)

94

46,8

172

93,5

0,000

Không đạt (Lỏng lẻo, bẩn, ẩm/thấm dịch/máu)

107

53,2

12

6,5

Nhận xét: Kết quả chăm sóc và theo dõi đường truyền TMNV của ĐD trước và sau can thiệp thay đổi rõ rệt. Tỷ lệ đặt kim luồn 1 lần thành công, tình trạng đường truyền hoạt động tốt sau can thiệp có tăng hơn so với trước can thiệp. Tỷ lệ kim luồn lưu không sử dụng trong 24 giờ giảm gần 20% so với trước can thiệp, băng dán cố định đạt tăng 46,7% so với trước can thiệp, có ý nghĩa thống kê (p<0,005).

Bảng 4. Kết quả đánh giá các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn và GDSK khi chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD trước và sau can thiệp

Nội dung

Trước can thiệp (n=201)

Sau can thiệp (n=184)

 

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

 

Kiểm soát nhiễm khuẩn

 

Vệ sinh tay

143

71,1

162

88

0,000

Có sát khuẩn cổng tiêm trước bơm thuốc

139

69,2

164

89,1

0,000

Hệ thống tiêm truyền kín

198

98,5

182

98,9

0,6

Đường truyền có biến chứng

65

32,3

23

12,5

0,01

Giáo dục sức khỏe

NB biết rõ những lưu ý khi đang tiêm truyền

195

97

184

100

0,000

NB biết các dấu hiệu bất thường cần báo NVYT

183

91

184

100

Nhận xét: Kết quả đánh giá các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn và GDSK khi chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD trước và sau can thiệp có sự thay đổi khá lớn.

Tỷ lệ ĐD vệ sinh tay trước khi chăm sóc đường truyền tăng từ 71,1% lên 88% sau can thiệp và ĐD có sát khuẩn cổng tiêm trước bơm thuốc tăng từ 69,2% lên đến 89,1% sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p<0,005. Tỷ lệ hệ thống đường truyền kín và đường truyền có biến chứng cũng có cải thiện ít, không có ý nghĩa thống kê.

Tỷ lệ người bệnh được giáo dục sức khỏe, biết rõ những lưu ý khi đang được tiêm truyền, biết các dấu hiệu bất thường cần báo NVYT đạt 100% sau khi can thiệp, có ý nghĩa thống kê p<0,005.

4. BÀN LUẬN

Áp dụng bộ công cụ I-DECIDED trong đánh giá và đưa ra quyết định chăm sóc đường truyền TMNV của ĐD là một hình thức thực hành dựa trên chứng cứ. Bộ công cụ giúp ĐD chủ động trong công tác theo dõi, đánh giá, chăm sóc đường truyền và ra quyết định rút kim, thay kim luồn hợp lý giúp người bệnh an toàn, thoải mái. Tỷ lệ kim luồn lưu không sử dụng trong 24 giờ giảm gần 20% so với trước can thiệp, cao hơn kết quả nghiên cứu của Gillian Ray tỷ lệ kim luồn lưu không sử dụng giảm từ 12,7% xuống còn 8.3% sau áp dụng [8]. Băng dán cố định không đạt giảm từ 53,2% xuống còn 6,5% so với trước can thiệp, cao hơn kết quả nghiên cứu của Gillian Ray tỷ lệ băng dán cố định không đạt giảm từ 24,6% xuống còn 19,5% sau can thiệp [8]. Người bệnh có đặt kim luồn được ĐD theo dõi, đánh giá, chăm sóc hằng ngày phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng. Tỷ lệ đường truyền có biến chứng giảm từ 32,3% xuống còn 12,5% sau can thiệp, cao hơn kết quả nghiên cứu của Gillian Ray tỷ lệ đường truyền có biến chứng giảm từ 16,1% xuống 10,9% sau can thiệp [8]. Người bệnh được giáo dục sức khoẻ liên quan đến tiêm truyền, hiểu được mục đích của đường truyền, an tâm, hợp tác tốt với ĐD trong việc theo dõi, giữ gìn và chăm sóc đường truyền. Ngoài ra, triển khai áp dụng bộ công cụ này có thể giúp cho các nhà quản lý trong công tác giám sát việc tuân thủ các qui trình liên quan đến tiêm truyền của ĐD như: đánh giá tình trạng đường truyền trước khi tiêm thuốc, đảm bảo hệ thống kín, thời gian lưu kim, thay băng cố định kim, thay dây truyền… Việc ĐD ra quyết định đúng khi thay các thiết bị liên quan đến đường truyền giúp tránh lãng phí, đồng thời các thiết bị, y dụng cụ sử dụng điều được ghi chép lại trên phiếu lưu trong hồ sơ bệnh án, giúp việc quản lý các thiết bị, y cụ tiêu hao tốt hơn, tránh thất thoát.

5. KẾT LUẬN

Áp dụng bộ công cụ I-DECIDED giúp cải thiện công tác chăm sóc đường truyền TMNV tốt hơn. ĐD chủ động trong công tác theo dõi, đánh giá, chăm sóc đường truyền và ra quyết định can thiệp chăm sóc, rút kim, thay kim hợp lý, giúp người bệnh an toàn, thoải mái. Người bệnh có đặt kim luồn được ĐD theo dõi, đánh giá, chăm sóc hằng ngày phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng; được giáo dục sức khoẻ liên quan đến tiêm truyền, hiểu được mục đích của đường truyền, hợp tác tốt với ĐD trong việc theo dõi, giữ gìn và chăm sóc đường truyền.

6. KHUYẾN NGHỊ

Triển khai áp dụng công cụ I-DECIDED trong toàn bệnh viện như một phần trong quy trình chăm sóc người bệnh có đường truyền TMNV, giúp ĐD có năng lực thực hành dựa trên chứng cứ. Bộ công cụ còn hỗ trợ nhắc nhớ cho ĐD trong việc theo dõi, đánh giá, chăm sóc đường truyền và ra quyết định can thiệp chăm sóc kịp thời, an toàn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  2. Lệ VTN (2016), Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về tiêm tĩnh mạch an toàn tại bệnh viện Chợ Rẫy, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, số 20.
  3. Linh TTK (2020), Giá trị và độ tin cậy của công cụ I-DECIDED trong theo dõi ống thông tĩnh mạch ngoại vi cho người bệnh nội trú, Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 24.
  4. Phúc NT, Anh PT, Liêm TT, Hải NT (2022), Thời gian lưu và biến chứng của kim luồn tĩnh mạch ngoại vi hệ thống kín so với hệ thống mở tại Đơn vị Hồi sức Ngoại, Bệnh viện Đà Nẵng năm 2022
  5. Quyên NT, Thanh HT, Hiền NT, Thắm HT (2023), Biến chứng liên quan đến lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ sơ sinh tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2022–2023, Tạp chí Y học Việt Nam, số 528(1).
  6. Alexandrou, Evan et al. (2018), Journal of Hospital Medicine - An Official Publication of the Society of Hospital Medicine.
  7. Ray-Barruel, G., Chopra, V., Cooke, M., et al. (2020), The I-DECIDED clinical decision-making tool for peripheral intravenous catheter assessment and safe removal: a clinimetric evaluation, BMJ Open, 10.
  8. Ray-Barruel, G., Chopra, V., Fulbrook, P., Lovegrove, J., Mihala, G., Wishart, M., Cooke, M., Mitchell, M., Rickard, C.M. (2023), The impact of a structured assessment and decision tool (I-DECIDED®) on improving care of peripheral intravenous catheters: A multicenter, interrupted time-series study, International Journal of Nursing Studies, 148:104604.

Tin liên quan

Tin mới