THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2023

Công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2023 đạt tỷ lệ cao, với 92,8% người bệnh được tiếp cận. Tuy vậy, nghiên cứu cho thấy một số nội dung như hướng dẫn phục hồi chức năng sớm và tư vấn dinh dưỡng vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, đồng thời chịu tác động bởi cả yếu tố thuận lợi như sự quan tâm của lãnh đạo, ứng dụng công nghệ thông tin lẫn những hạn chế về đào tạo, trang thiết bị và kinh phí.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng công tác Tư vấn giáo dục sức khỏe (TV-GDSK) cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2023.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính. Trên 236 người bệnh, được tiến hành từ tháng 03-9/2023.

Kết quả: Tỷ lệ đượcTV-GDSK đạt là 92,8%.Với 12 tiêu chí được đánh giá đạt và 03 tiêu chí không đạt (Người bệnh được hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm; Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng trong thời gian nằm viện; Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng tại nhà). Một số yếu tố liên quan với TV-GDSK bao gồm tuổi, trình độ (p<0,05). Các yếu tố ảnh hưởng tích cực bao gồm: Sự quan tâm của Lãnh đạo, ứng dụng công nghệ thông tin. Các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực bao gồm: Nhân viên y tế chưa được đào tạo, thiếu trang thiết bị phục vụ và chưa có kinh phí.

Kết luận: Hầu hết người bệnh đều đượcTV-GDSK (92,8%). Bệnh viện cần tiếp tục các biện pháp duy trì và thúc đẩy công tác TV-GDSK cho người bệnh nội trú dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu để nâng cao chất lượng đáp ứng sự hài lòng của người bệnh.

Từ khóa: Tư vấn giáo dục sức khỏe, người bệnh, Bệnh viện đa khoa Đức Giang.

ABSTRACT

Objectives: To describe the current status of health education and consultation for inpatients and some influencing factors at Duc Giang General Hospital in 2023.

Subjects and methods: Description of cross -section, quantitative and qualitative combination. Over 236 patients, conducted from March to September 2023.

Results: The rate of health education advice is 92.8%.With 12 criteria evaluated and 03 criteria (patients are guided, supported exercise and rehabilitation early; patients were consulted with diet during the hospital stay; Consulting diet at home). Some factors related to health education consultancy include age and level (p <0.05). Positive influencing factors include: The interest of leadership and application of information technology. The negative influence factors include: Health staff have not been trained, lacking equipment and no funds.

Conclusion: Most patients are consulted with health education (92.8%). The hospital needs to continue the measures to maintain and promote the consultation of health education for patients inpatient on the basis of research results to improve the quality to meet the satisfaction of patients.

Keywords: Health education consulting, patients, Duc Giang General Hospital.

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Tư vấn Giáo dục sức khỏe (TV-GDSK) có vai trò quan trọng trong kết quả của cácchương trình, hoạt động y tế nói riêng và vào thành công của chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân [2]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp TV-GDSK là nội dung số một trong các nội dung về chăm sóc sức khỏe ban đầu [6], [9]. Tuy nhiên, kết quả một số nghiên cứu tại các bệnh viện đã chỉ ra rằng: Nhân viênytếchủ yếu tập chung vào làm tốt việc điều trị thuốc nhưng việc hỗ trợ người bệnh ăn uống; chăm sóc vệ sinh cá nhân lại chủ yếu do người nhà thực hiện, việcTV-GDSK cho NB còn rất thiếu và yếu [5], [4]. Bệnh viện đa khoa Đức Giang là bệnh viện Hạng I của Sở Y tế Hà Nội,mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận trung bình khoảng 2.100 - 2.200 lượt người bệnh ngoại trú và khoảng hơn 800 lượt người bệnh điều trị nội trú. TV-GDSK được bệnh viện rất quan tâm, thực hiện qua nhiều hình thức như: qua các bảng, biển, tờ rơi, qua họp hội đồng người bệnh, qua hoạt động tưvấn thăm khám trực tiếp ... Thực tếnày đặt ra câu hỏi TV-GDSK của bệnh viện hiện tại như thếnàođặc biệt là người bệnh nội trú tại bệnh viện, những yếu tố nào có ảnh hưởng đến TV-GDSK.Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu:

1.Mô tả thực trạng Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2023.

2.Tìmhiểu mộtsố yếu tổ ảnh hưởngtới tư vấn giáo dụcsức khỏe cho người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2023.

2. ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng: Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang có thời gian điều trị nội trú từ 48h trở lên đã hoàn tất thủ tục ra viện.

Nghiên cứu định tính: Lãnh đạo bệnh viện; Lãnh đạo phòng Điều dưỡng; Đại diện phụ trách công tác TV-GDSK (Bác sĩ, điều dưỡng viên) tại các khoa lâm sàng.

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 03 - 09/2023 tại tất cả các khoa lâm sàng (gồm 23 khoa) - Bệnh viện đa khoa Đức Giang.

2.3. Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính. 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu Nghiên cứu định lượng Cỡ mẫu cho phát vấn người bệnh tính theo công thức:

Trong đó:

+ n: cỡ mẫu tối thiểu 1d2

+Z(1-a/2): độ tin cậy 95%, có Z(1-a/2) = 1,96.

+ d: sai số cho phép là 5% = 0,05. +p= 0,833 (lấy theo nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn [6].

Thay vào công thức trên ta được n = 214. Để dự trù hao hụt mẫu chúng tôi tăng thêm 10% cỡ mẫu, vậy cỡ mẫu là 236 người bệnh. nội trú được đánh giá TV-GDSK"đạt"chung khi trung bình của tất cả 15 tiêu chí cộng lại đạt ≥ 90% và dưới 90% là "chưa đạt" 

Nghiên cứu định tính: Chọn chủ đích 8 cuộc phỏng vấn sâu 01 Lãnh đạo bệnh viện; 01 Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng; 06 Phỏng vấn sâu với cán bộ phụ trách TV-GDSK (bác sỹ, điều dưỡng) tại các khoa lâm sàng (02 đại diện cho khối Nội- Nhi, 02 đại diện cho khối Ngoại - Sản,02 đại diện cho khối Liên chuyên khoa: bao gồm là một khoa có tỷ lệ phần trăm người bệnh đượcTV-GDSKtốt nhất khối và01 khoa có tỷ lệ thấp nhất khối).

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Bộ công cụ được xây dựng dựa theo thang đo tại mục C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [1]. Bộ công cụ được một số nghiên cứu trước đây sử dụng như tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chinh và cộng sự (2020) [3].

Phỏng vấn sâu, thực hiện sau khi đã có kết quả phân tích sơ bộ các thông tin nghiên cứu định lượng để tìm hiểu một số mối liên quan đến TV-GDSK cho người bệnh nội trú tại bệnh viện. Hướng dẫn PVS được xây dựng theo Hướng dẫn của WHO gồm 6 cấu phần liên quan đến TV-GDSK bao gồm: Cung cấp dịch vụ, nhân lực y tế, hệ thống thông tin y tế, trang thiết bị, tài chính, lãnh đạo quản lý là yếu tố liên quan đến đầu ra của Hệ thống y tế [8].

2.6. Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Với nghiên cứu định lượng gồm 15 tiêu chí đánh giá từ phỏng vấn người bệnh. Lấy mốc đạt từ 90% số người bệnh trở lên theo các nội dung cần được tư vấn cho người bệnh tại mức 5 tiêu chí C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [1]: (i) mỗi một tiêu chí đánh giá "đạt" có tỷ lệ tư vấn là $\ge$ 90% số người bệnh; (ii) Tiêu chí đánh giá "chưa đạt" có tỷ lệ tư vấn là < 90% số người bệnh. (iii) Tổng tỷ lệ người bệnh nội trú được đánh giá TV-GDSK"đạt"chung khi trung bình của tất cả 15 tiêu chí cộng lại đạt ≥ 90% và dưới 90% là "chưa đạt".

3. KẾT QUẢ

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  (n=236)

Đặc điểm

Phân loại

Số lượng (n = 236)

Tỷ lệ (%)

Giới

Nữ

136

57,6

 

Nam

100

42,4

Tuổi

< 30

33

14,0

 

30 – 50

67

28,4

 

51 – 60

45

19,1

 

> 60

91

38,6

Trình độ học vấn

Dưới trung học phổ thông

77

32,6

 

Trung học phổ thông

66

28,0

 

Trung học, cao đẳng

79

33,5

 

Đại học, sau đại học

21

8,9

Khối

Liên chuyên khoa

23

9,7

 

Ngoại – Sản

89

37,7

 

Nội – Nhi

124

52,5

Nhận xét: Nghiên cứu được thực hiện trên 236 người bệnh nội trú tại BVĐK Đức Giang cho kết quả như sau: Người bệnh nữgiới chiếm 57,6%. Lứa tuổi và trình độ học vấn của đối tượng chia đều theo các nhóm. Hơn 1/2 số người bệnh tập chung điều trị tại khối Nội – Nhi (52,5%).

3.2.Thực trạng TV-GDSK cho người bệnh nội trú tại BVĐK Đức Giang năm 2023

Biểu đồ 3.1. Kết quả thực hiện các nội dung TV-GDSK

Nhận xét: 98,7% người bệnh được nhân viên y tế động viên yên tâm điều trị; 97,8% được hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi và phòng bệnh. Tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn chế độ dinh dưỡng tại nhà là thấp nhất (đạt 86,5%).

Biểu đồ 3.2. Phân bố kết quå TV - GDSK (n=236)

Nhận xét: Tỷ lệ thực hiện TV-GDSK đạt cho người bệnh là 92,8%.

3.3.Yếu tốảnh hưởng đến Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2023.

3.3.1. Một số yếu tố liên quan với Tư vấn giáo dục sức khỏe Bảng 3.2. Liên quan giữa TV-GDSK với các yếu tố cá nhân của người bệnh

Các đặc điểm

Phân loại

Đạt n (%)

Chưa đạt n (%)

OR (95% CI)

p*

Giới

Nữ

127 (93,4)

9 (6,6)

1,22 (0,46 – 3,30)

0,69

 

Nam

92 (92,0)

8 (8,0)

 

 

Tuổi

> 60 tuổi

122 (89,7)

14 (10,3)

3,57 (1,21 – 10,49)

0,02

 

≤ 60 tuổi

97 (97,0)

3 (3,0)

 

 

Trình độ

> Trung học phổ thông

91 (97,8)

2 (2,2)

5,33 (1,19 – 23,89)

0,03

 

≤ Trung học phổ thông

128 (89,5)

15 (10,5)

 

 

Khối

Liên chuyên khoa

21 (91,3)

2 (8,7)

0,37 (0,57 – 2,33)

0,29

 

Ngoại – Sản

86 (96,6)

3 (3,4)

 

 

 

Nội – Nhi

112 (90,3)

12 (9,7)

1,13 (0,24 – 5,40)

0,88

Nhận xét: Kết quả ở Bảng 3.2 cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với TV-GDSK cho người bệnh bao gồm: nhóm NB > 60 tuổi và nhóm người bệnh có trình độ > Trung học phổ thông được TV-GDSK đạt cao hơn nhóm NB ≤ 60 tuổi và nhóm NB ≤ Trung học phổ thông với OR lần lượt là 3,57 và 5,33.

3.3.2. Yếu tố ảnh hưởng đến TV-GDSK qua nghiên cứu đinh tính

* Yếu tố ảnh hưởng có tác động tích cực

"Ban lãnh đạo BVĐK Đức Giang rất quan tâm, tạo điều kiện cho TV-GDSK tại bệnh viện" (PVS2). “Cáchoạt động TVGDSK được triển khai thường xuyên thông qua các buổi tư vấn, đi buồng, sinh hoạtcácCâu lạc bộ: hen,đái tháo đường, tăng huyết áp tại các địa điểm khác nhau trong bệnh viện nhằm vào đối tượng bao gồm cả người bệnh, người nhà người bệnh, khách vào thăm người bệnh" (PVS1). "Các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện mục C6.2 liên quan đến TV-GDSK của bệnh viện phân công cho phòng Điều dưỡng kiêm nhiệm và là đầu mối chính, chịu trách nhiệm về xây dựng kế hoạch và đưa ra các qui định về nội dung TV-GDSK" (PVS2). "Việc ghi chép thông tin TV-GDSK trên hồ sơ bệnh án được tích trên phần mềm máy tính, góp phần rút ngắn thời gian làmviệc cho nhân viên y tế" (PVS6).

* Yếu tố ảnh hưởng có tác động tiêu cực

"Bệnh viện chưa có các văn bản quy định cụ thể như phương thức tổ chức hoạt động, cơ sở vật chất hay kiểm tra, giám sát cho TV-GDSK"(PVS3). "Bên cạch đó, nhân viên y tế 100% là kiêm nhiện và chưa có chứng chỉ đào tạo TV-GDSK" (PVS1). "Thông tin TV-GDSKcủa nhân viên y tế có được là dựa vào những kiến thức, kỹ năng học được trong trường Y (rất ngắn gọn, đơn giản)" (PVS8)."Khi thì tự tìm các tài liệu trên mạng"(PVS7)."Không cóphòng tưvấn riêng hoặc có thìphòng dùng vào việc khác"(PVS4). "TV-GDSK tại phòng hành chính khá bắt tiện, ồn ào, không đảm bảo bí mật riêng tư cho người bệnh"(PVS5)."Hình ảnh, tờ rơi đi kèm còn thiếu" (PVS5). "Chưa có nguồn kinhphí riêng nên TV-GDSKcho người bệnh" (PVS3).

4. BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng công tác TV-GDSK cho người bệnh nội trú tại BVĐK Đức Giang năm 2023

Khi tiến hành nghiên cứu trên 236 người bệnh nội trú tại BVĐK Đức Giang cho kết quả như sau: Tỷ lệ người bệnh được nhân viên y tế TV-GDSK đạt là 92,8%. Kếtquả nghiên cứu cao hơn nghiên cứu của tác giả Phạm Anh Tuấn (2011) tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí tỷ lệ là 83,3% [6]. Theo đó, với 15 tiêu chí đánh giá công tác tư vấn giáo dục sức khỏe thì 12 tiêu chí được đánh giá đạt và 03 tiêu chí không đạt theo tỷ lệ của mức 5 tiêu chí C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [1] đây cũng là tiêu chuẩn BVĐK Đức Giang đang hướng tới. Kết quả nghiên cứu cao hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chinh và cộng sự (2020) với 09 tiêu chí TV-GDSK đạt và 06 tiêu chí không đạt [3]. Trong đó, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có các tiêu chí bệnh viện chưa đạt tại công tác TV-GDSK là: T lệ người bệnh được hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm là 87,4% và người bệnh được hướng dẫn chế độ dinh dưỡng trong thời gian nằm viện cũng chưa đạt với kết quả là 89,3% và 86,5% người bệnh biết rõ chế độ dinh dưỡng tại nhà. Trong bệnh viện, dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong quá trình điều trị và chăm sóc người bệnh. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh viện cần tập trung khắc phục những tiêu chi còn chưa đạt nếu muốn đánh giá tiêu chí C6.2 tại bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ở mức 5 [1].

4.2. Một số yếu tố liên quan đến công tác TV-GDSK cho người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2023.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với TV-GDSK cho người bệnh bao gồm: nhóm người bệnh > 60 tuổi đạt cao hơn nhóm NB ≤60 tuổi với OR là 3,57 lần. Nghiên cứu của chúng tôi khác biệt với kết quả nghiên cứu trướcđó của tác giả Osaze và cộng sự (2016), Osaze và cộng sự cho rằng người bệnh cao tuổi có thể gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận thông tin hơn [7]. Sự khác biệt này cho thấy trong thời đại thông tin phát triển hiện nay cùng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi đang dần được cải thiện thì khả năng tiếp cận thông tin của người bệnh cao tuổi tại bệnh viện là khá khả quan. Nghiên cứu cho thấy, nhóm người bệnh có trình độ > Trung học phổthông có tỷ lệTV-GDSKđạt caohơn nhóm người bệnh có trình độ ≤ Trung học phổ thông với OR là 5,33 lần. Đây là điều cũng cần lưu ý của nhân viên y tế khi TVGDSK cho từng nhóm đối tượng người bệnh cụ thểkhác nhau.

Về mặt chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ đã xác định rõ vai trò, tẩm quan trọng, sự cần thiết của công tácTV-GDSK [2]. Tại BVĐK Đức Giang đang có nhiều cải tiếnchất lượng nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh. Bệnh viện chuyển đồi số, ứng dụng công nghệthông tin vào quản lý. Vì vậy, việc ghi trên hồ sơ bệnh án để thể hiện trên hồ sơ khá thuận tiện, góp phần giảm tải công việc của nhân viên y tế và tăng tính chuyên nghiệp của cung cấp dịch vụ y tế trong bệnh viện. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, trang thiết bị phục vụ cho TV-GDSK cònthiếu; 100% là nhân viên y tế kiêm nhiệm, chưa có chứng chỉ về TV-GDSK và nguồn ngân sách dành riêng cho TV-GDSK. Kết quả cho thấy bệnh viện cần quan tâm hơn nữa đến TV-GDSK cho người bệnh nội trú.

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tỷ lệ người bệnh nội trú được nhân viên y tế TV-GDSK đạt là 92,6%. Theo đó, với 15 tiêu chí đánh giá có 12 tiêu chí đạt sau khi được TV-GDSK (> 90%) và 03 tiêu chí không đạt (<90%) theo tiêu chuẩn BVĐK Đức Giang đang hướng tới là: Người bệnh được hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm; Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng trong thời gian nằm viện; Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng tại nhà. Một số yếu tố như tuổi, trình độ có mối liên quan đến thực trạng TVGDSK cho người bệnh. Các yếu tố ảnh hưởng có tác động tích cực bao gồm: Sự quan tâm, tạo điều kiện của Lãnh đạo, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Các yếu tố ảnh hưởng có tác động tiêu cực bao gồm: nhân viên y tế chưa được đào tạo, thiếu trang thiết bị phục vụ và chưa có kinh phí cho TV-GDSK.

Từ kết quả nghiên cứu, bệnh viện cần thường xuyên đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng TVGDSK cho nhân viên y tế; xây dựng kế hoạch hoạt động trong đó có dự trù tài chính và cung cấp trang thiết bị cần thiết phục vụ cho TV-GDSK; Xây dựng và chuần hoá các tài liệu TV-GDSK theo từng chuyên khoa nâng cao sự hiểu biết, tuân thủ điều trị, chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2016). Quyết định số 6858/QĐ-BYT về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện Việt Nam, phiên bản 2.0, ban hành 18/11/2016.

2. Bộ Y tế (2023). Quyết định 788/QĐ-BYT về việc Ban hành kế hoạch bảo vệ sức khỏe, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đến năm 2025, ban hành ngày 13/02/2023.

3. Nguyễn Thị Ngọc Chinh, Phùng Thị Diễm Phúc (2020). Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện chấn thương Chinh hìnhnăm 2019-2020.

4. Trần Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Minh Chính (2018). Đánh giá hoạt động giáo dục sức khỏe của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị và một số yếu tố liên quan,Tạp chí Khoa học Điều dưỡng,Tập 01, Số03, tr.28-34.

5. Châu Thị Hoa, Nguyễn Thị Diệu Trang (2010). Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh ung thư hạ họng - thanh quản tại trung tâm ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế (từ 01/01/2009 - 30/6/2010), Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng, Hội nghị khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ IV, Hà Nội, tr. 83-91.

6. Phạm Anh Tuấn (2011). Đánh giá hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2011, Tạp chíY học Việt Nam, Tập 522, Số 02, tr. 180-186.

7. Patrick Osaze, ljiekhuamhen, Nelson, Edewor et al (2016). Elderly People and Their Information Needs. Library Philosophy and Practice.

8. WHO (2000). The world health report 2000: health systems: improving performance, World Health Organization.

9. WHO (2006). The World Health Report: Working together for health, Geneva,WHO.

 

CHU THỊ HUYỀN*, NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG, TẠ VŨ BẢO QUYÊN, NGUYỄN THỊ HƯƠNG CHÀ, PHẠM QUỐC TUẦN


Tin mới