Thực trạng thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại Trung tâm Phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tình trang thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại Trung tâm Phẫu thuật Tim mạch bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại khoa Nội, can thiệp Tim mạch bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bộ công cụ sàng lọc SARC-CalF, đánh giá giảm khối cơ dựa trên đo BIA, đánh giá giảm cơ lực bằng máy đo sức nắm của một tay và bài kiểm tra đi bộ trong 6m dựa theo tiêu chuẩn đánh giá thiểu cơ của nhóm công tác châu Á nghiên cứu về mất cơ AWGS2 trên 96 người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại Trung tâm phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 12 năm 2025.
Kết quả: Sàng lọc nguy cơ thiểu cơ theo SARC-C có 52,1% người bệnh được xác định có nguy cơ thiểu cơ. Những người bệnh tim mạch suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM có nguy cơ bị thiểu cơ gấp 4,14 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,44, lần với phân tích biến có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Nữ giới có nguy cơ bị thiểu cơ cao hơn nam giới gấp 3,31 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,02 lần với phân tích đa biến có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Kết luận và khuyến nghị: Người bệnh tim mạch trước phẫu thuật cần được sàng lọc nguy cơ thiểu cơ một cách thường quy nhằm phát hiện sớm các trường hợp có nguy cơ cao. Công cụ SARC-C là phương pháp sàng lọc đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện và không đòi hỏi nhân viên dinh dưỡng chuyên nghiệp.
Từ khóa: Tình trạng thiểu cơ, tim mạch, bệnh viện Việt Đức
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu. Ước tính năm 2022 có 19,8 triệu người tử vong vì bệnh tim mạch, chiếm khoảng 32% tổng số ca tử vong toàn cầu [1]. Suy dinh dưỡng ở người bệnh nằm viện thường là sự kết hợp giữa thiểu cơ Sarcopenia (bệnh liên quan) và suy dinh dưỡng (Tiêu thụ chất dinh dưỡng kém). Thiểu cơ được định nghĩa là sự suy giảm tổng thể tiến triển về khối lượng, sức mạnh và chức năng của cơ xương.
Tình trạng thiểu cơ có thể liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ bao gồm suy dinh dưỡng, bất động, bệnh ác tính hoặc tình trạng viêm mạn tính. Thiểu cơ có mối liên quan chặt chẽ với tiến triển nhanh của các bệnh tim mạch, suy giảm chức năng hô hấp, kéo dài thời gian cai máy thở, kéo dài thời gian nằm ICU và thời gian nằm viện, đồng thời làm tăng tỷ lệ tử vong. Ở người bệnh phẫu thuật tim mạch, đặc biệt là những trường hợp phải điều trị hồi sức tích cực sau phẫu thuật, tình trạng thiểu cơ thường tiến triển nhanh do stress chuyển hóa, phản ứng viêm hệ thống và bất động kéo dài[2], [3]. Thiểu cơ có tỷ lệ từ 25-100% tùy thuộc các tiêu chí khác nhau được sử dụng để chẩn đoán cho người bệnh nằm ICU. Tuy nhiên, trên thực hành lâm sàng, việc đánh giá thiểu cơ trước phẫu thuật tim còn gặp nhiều khó khăn do các phương pháp đo khối lượng cơ (DXA, CT, BIA) đòi hỏi trang thiết bị, thời gian và nhân lực trong bối cảnh bệnh viện tuyến cuối có số lượng người bệnh lớn[4].
Trong những năm gần đây, bộ công cụ sàng lọc SARC-F và phiên bản cải tiến SARC-CalF (SARC-C) được khuyến cáo sử dụng như công cụ sàng lọc thiểu cơ đơn giản, nhanh chóng và dễ áp dụng tại giường bệnh. SARC-C kết hợp đánh giá chức năng (sức mạnh, vận động) với chu vi cẳng chân giúp tăng độ nhạy trong phát hiện sớm thiểu cơ, đặc biệt ở người bệnh lớn tuổi và bệnh tim mạch[5].
Trung tâm Phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là đơn vị hàng đầu trong phẫu thuật tim mạch tại Việt Nam với số ca phẫu thuật tim mạch trung bình hơn 500 ca mỗi năm. Người bệnh tim mạch khi được điều trị nội khoa trước khi phẫu thuật đã được đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo một số bộ công cụ sẵn có tại bệnh viện , tuy nhiên chưa được đánh giá về tình trạng thiểu cơ cho người bệnh tim mạch. Sarcopenia có thể coi là một tình trạng có thể can thiệp được, việc sàng lọc sớm và chẩn đoán thiểu cơ đặc biệt quan trọng với người bệnh tim mạch và tạo cơ hội cho các biện pháp can thiệp để đảo ngược hoặc làm chậm quá trình rối loạn cơ cũng như ảnh hưởng đến kết quả tim mạch. Do đó, xác định người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng và thiểu cơ giúp tối ưu hóa quá trình phục hồi sau ICU và thực hiện các can thiệp dinh dưỡng phù hợp để phòng ngừa cũng như điều trị các biến chứng liên quan do tình trạng mất cơ và suy dinh dưỡng trong quá trình chăm sóc.
Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam, dữ liệu về tình trạng thiểu cơ ở những người bệnh trước phẫu thuật tim cũng như ứng dựng của công cụ SARC-C trong thực hành lâm sàng còn hạn chế. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng thiểu cơ của người bệnh trước phẫu thuật tim tại trung tâm Tim mạch và lồng ngực năm 2025” nhằm mô tả thực trạng thiểu cơ và đề xuất sử dụng công cụ sàng lọc và đánh giá tình trạng thiểu cơ cho người bệnh trước phẫu thuật tim mạch tại trung tâm Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025 với mục tiêu: 1.Mô tả tình trạng thiểu cơ người bệnh trước phẫu thuật tim tại trung tâm Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.2. Một số yếu tố liên quan tình trạng thiểu cơ người bệnh trước phẫu thuật tim tại trung tâm Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 12 năm 2025.
Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chí lựa chọn: Người bệnh tim mạch trên 18 tuổi nhập viện trong vòng 48h đã được chẩn đoán xác định và điều trị tại trung tâm phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực có khả năng tự nhận thức hành vi và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chí loại trừ: Người bệnh mắc các bệnh phối hợp: bênh gan, thận, bỏng nặng, nhiễm khuẩn huyết.
Cỡ mẫu, chọn mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể

Trong đó N: cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu; là hệ số tin cậy 95% =1,96 ( ngưỡng xác suất α = 0,05); d: sai số cho phép, trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng d =0,1; p tỷ lệ ước tính, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn p = 0,5 chung cho tỷ lệ suy dinh dưỡng cả 3 phương pháp để có số mẫu lớn nhất. Áp dụng vào công thức ta thu được n= 96.
Biến số nghiên cứu:
Nhóm biến số về thông tin chung: tuổi, giới, trình độ học vấn, vùng sinh sống, chẩn đoán bệnh.
Nhóm biến số về tình trạng thiểu cơ của người bệnh: khả năng sức mạnh cơ khi nâng 4,5kg, khả năng hỗ trợ đi bộ khi đi qua phòng, khả năng di chuyển từ ghế hoặc giường, khả năng leo cầu thang 10 bậc, số lần ngã, chu vi bắp chân, chu vi vòng cánh tay, phân loại SARC-CalF, khối lượng cơ, khối lượng cơ chi, khối lượng cơ chi/chiều cao2, sức mạnh cơ, khả năng thực hiện đi bộ, phân loại AWGS2.
Nhóm biến số về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh: chiều cao, cân nặng thường có, cân nặng hiện tại, BMI, huyết sắc tố, phân loại GLIM.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:
Công cụ thu thập: công cụ thu thập số liệu là bộ công cụ theo mẫu có sẵn. Bộ công cụ gồm có các phần: Phần thông tin chung, phiếu sàng lọc nguy cơ SARC-Calf, phiếu đánh giá thiểu cơ AWGS2, phiếu đo khối lượng cơ theo BIA, phiếu đánh giá tình dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học, phiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo GLIM, phiếu thu thập chỉ số huyết học từ hồ sơ bệnh án vào viện của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn khai thác thông tin người bệnh theo bộ câu hỏi phần thông tin chung. Sàng lọc thiểu cơ bằng đánh giá khả năng nâng vật nặng 4,5kg, khả năng hỗ trợ đi bộ khi đi qua phòng, khả năng di chuyển từ ghế hoặc giường, khả năng leo cầu thang 10 bậc, số lần ngã, đo chu vi bắp chân bằng thước dây với sai số 0,1cm; sử dụng máy đo phân tích cơ thể Inbody 370S để lấy kết quả khối lượng cơ, khối lượng cơ chi với đơn vị là kg với sai số 0,1 kg, đo sức mạnh cơ chi bằng máy đo đo N-force Electronic Hand Grip Strength Dynamometer Meter HG-200 với sai số 0,1 kg, bài kiểm tra thời gian đi bộ đánh giá dựa trên thời gian đi bộ một quảng đường 6m. Người bệnh được khai thác tiền sử dinh dưỡng, khám lâm sàng cà đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa bộ công cụ GLIM. Các chỉ số xét nghiệm sinh hóa được ghi chép từ hồ sơ bệnh án vào viện của người bệnh.
Người bệnh được khám và đánh giá nguy cơ dinh dưỡng bằng Bộ câu hỏi dựa trên công cụ có sẵn theo hướng dẫn của Hiệp hội Sarcopenia Châu Á AWGS, đánh giá nguy cơ thiểu cơ bằng bộ công cụ SARC-Calf, nghi ngờ thiểu cơ 11-20 điểm. Chẩn đoán Sarcopenia theo AWGS: Sarcopenia được chẩn đoán khi dựa theo các tiêu chuẩn (1) +(2) hoặc (1) + (3) dưới đây; khi bệnh nhân có cả 3 tiêu chuẩn thì được gọi là sarcopenia nặng:
+ Tiêu chuẩn (1): Giảm khối lượng cơ khi : nam <7,0kg/m2, nữ <5,7kg/m2 đo băng phương pháp phân tích điện trở kháng điện sinh học BIA bằng cân máy Inbody 370S.
+ Tiêu chuẩn (2): Giảm sức mạnh cơ: nam < 28kg; nữ <18kg. Đo cơ lực bàn tay sử dụng máy đo N-force Electronic Hand Grip Strength Dynamometer Meter HG-200
+ Tiêu chuẩn (3): Khả năng thực hiện động tác giảm: tốc độ đi bộ ≤ 1m/s. Sử dụng kiểm tra đi bộ 6 mét
Người bệnh được đánh giá tình trang dinh dưỡng theo BMI dựa trên tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới WHO: BMI ≥ 25,0: thừa cân/ béo phì; 18,5 ≤ BMI ≤ 24,99: bình thường; BMI <18,5: thiếu năng lượng trường diễn. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM 2018: Suy dinh dưỡng vừa, suy dinh dưỡng nặng. Thiếu máu theo giá trị hematocrit <130g/l được coi là thiếu máu.
Xử lý và phân tích số liệu: Số liệu được làm sạch, sau đó nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và được xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0.
Phân tích đơn biến: so sánh các tỷ lệ dùng phép kiểm (chi- square test) hoặc phép kiểm chính xác Fisher (Fisher’s exact test). Kết quả đạt được có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Tỷ suất chênh OR được dùng để xác định các yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng với mức ý nghĩa 95%.
Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu này được triển khai sau khi được thông qua hội đồng khoa học bệnh viện Hữu nghị Việt Đức theo quyết định số 115/QĐ-VĐ ký ngày 10 tháng 01 năm 2025.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung của người bệnh
Trong thời gian thu thập số liệu từ tháng 5 đến tháng hết tháng 8 năm 2025, kết quả chúng tôi thu thập được 96 người bệnh tim mạch nhập viện để chuẩn bị phẫu thuật có các đặc điểm sau đây:
Bảng 1.Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=96)
|
Đặc điểm |
Thông tin chung |
Tần số (n) |
Tỷ lệ % |
|
Tuổi |
18-39 |
13 |
13,5 |
|
40-59 |
36 |
37,5 |
|
|
≥ 60 |
47 |
49,0 |
|
|
Trung bình:57,35 ±12,71 |
|||
|
Giới |
Nam |
46 |
47,9 |
|
Nữ |
50 |
52,1 |
|
|
Trình độ học vấn |
<PTTH |
57 |
59,4 |
|
≥PTTH |
39 |
40,6 |
|
|
Nghề nghiệp |
Cán bộ viên chức |
9 |
9,4 |
|
Nông dân |
59 |
61,5 |
|
|
Bộ đội |
2 |
2,1 |
|
|
Hưu trí |
4 |
12,5 |
|
|
Nội trợ |
2 |
2,1 |
|
|
Khác |
12 |
12,5 |
|
|
Vùng sinh sống |
Nông thôn |
59 |
61,5 |
|
Thành thị |
37 |
38,5 |
|
|
Bệnh |
Bệnh van tim |
69 |
71,9 |
|
Bệnh mạch vành |
11 |
11,5 |
|
|
PĐMCN |
6 |
6,3 |
|
|
U nhày nhĩ T |
6 |
6,3 |
|
|
Bệnh tim phối hợp |
4 |
4,2 |
|
Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 57,35 ± 12,71 tuổi. Trong đó độ tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ gần một nửa đôi tượng nghiên cứu. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có giới tính nữ cao hơn giới tính nam, chiếm 52,1 %. Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu từ dưới PTTH trở xuống chiếm tỷ lệ cao hơn trình độ từ PTTH trở lên 59,4% so với 40,6%. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nông dân, chiếm 61,5%. Về khu vực sống, đối tượng nghiên cứu đến từ nông thôn chiếm 61,5% cao hơn so khu vực thành thị (38,5%).
Đối tượng nghiên cứu khi vào trung tâm Tim mạch và lồng ngực chủ yếu mắc các bệnh về van tim chiếm 71,9%, tiếp theo là bệnh mạch vành chiếm 11,5%, u nhày nhĩ T và phồng động mạch chủ ngực cùng chiếm 6,3%, thấp nhất là nhóm bệnh khác chiếm 4,2%.
Bảng 2. Đặc điểm cận lâm sàng của người bệnh Tim mạch lúc nhập viện
|
Đặc điểm |
Thông tin chung |
Tần số (n) |
Tỷ lệ % |
|
Hemoglobin (n=96) |
<130 |
27 |
28,1 |
|
≥ 130 |
69 |
71,9 |
|
|
Trung bình: 137,4 ± 16,9 |
|||
Từ kết quả bảng 2 cho thấy tỷ lệ người bệnh có mức Hemoglobin <130g/L chiếm 28,1%.
Biểu đồ 1. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh Tim mạch (n=96)

Kết quả của biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM cho là 54,2%, theo chỉ số BMI là 10,4%.
Bảng 3. Phân loại tình trạng thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật theo SARC
|
Đặc điểm |
Phân loại |
Không n(%) |
Nghi ngờ thiêu cơ n(%) |
p |
|
Giới |
Nam |
29(63,0) |
17(37,0) |
0,001 |
|
Nữ |
17(34,0) |
33(66,0) |
||
|
Trình độ |
<PTTH |
19(33,3) |
38(66,7) |
0,001 |
|
≥PTTH |
27(69,2) |
12(30,8) |
||
|
Nơi ở |
Nông thôn |
27(45,8) |
32(54,2) |
0,59 |
|
Thành thị |
19(51,4) |
18(48,6) |
||
|
Chẩn đoán bệnh |
Bệnh van tim |
32(46,4) |
37(53,6) |
0,79 |
|
Bệnh mạch vành |
7(63,6) |
4(36,4) |
||
|
PĐMCN |
2(33,3) |
4(66,7) |
||
|
U nhày nhĩ T |
3(50,0) |
3(50,0) |
||
|
Bệnh tim phối hợp |
2(50) |
2(50,0) |
||
|
Hb |
<130 |
13(48,1) |
14(51,9) |
0,97 |
|
≥ 130 |
33(47,8) |
36(52,2) |
||
|
BMI |
Thừa cân |
13(86,7) |
2(13,3) |
0,004 |
|
Bình thường |
30(42,3) |
41(57,7) |
||
|
CED |
3(30,0) |
7(70,0) |
||
|
GLIM |
Bình thường |
33(63,5) |
19(36,5) |
0,004 |
|
Suy dinh dưỡng vừa |
6(30,0) |
14(70,0) |
||
|
Suy dinh dưỡng nặng |
7(29,2) |
17(70,8) |
||
|
Tổng |
46(47,9) |
50(52,1) |
|
|
Sử dụng bộ công cụ SARC-C để đánh giá nguy cơ thiểu cơ của người bệnh Tim mạch trước phẫu thuật, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ là 52,1%. Giới nữ có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ là 66,7% cao hơn nam giới 37%, trình độ dưới PTTH có nguy cơ thiểu cơ cao hơn trình độ từ PTTH trở lên (66,7% và 30,8%). Các sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê(p<0,05).
Người bệnh ở nông thôn có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao hơn so với ở thành thị (54,2% so với 48,6%). Người bệnh u nhày nhĩ T có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao nhất (66,7%), người bệnh mạch vành có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ thấp nhât (36,4%). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Người bệnh thiếu năng lượng trường diễn có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao nhất 70%, người bệnh thừa cân có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ thấp nhât. Người bệnh suy dinh dưỡng nặng và vừa có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ rất cao 70,8% và 70%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thốngkê (p<0,05).
Bảng 4. Mối liên quan giữa thiểu cơ theo SARC –C và tình trạng dinh dưỡng theo BMI, tình trạng dinh dưỡng theo GLIM và một số yếu tố khác
|
Yếu tố |
Nguy cơ thiểu cơ |
Không thiểu cơ |
Đơn biến |
Hồi quy logistic |
||
|
p |
OR 95%CI |
p |
OR 95%CI |
|||
|
Nữ |
33 (66,0) |
17(34,0) |
0,004 |
3,31 (1,43-7,65) |
0,035 |
1,02 (1,075-7,195) |
|
Nam |
17(37,0) |
29(63,0) |
||||
|
<PTTH |
38(66,7) |
19(33,3) |
0,001 |
4,5 (1,88-10,80) |
0,010 |
1,30 (1,36- 9,86) |
|
≥PTTH |
12(30,8) |
27(69,2) |
||||
|
Bệnh van tim |
37(53,6) |
32(46,4) |
0,62 |
1,25 (0,51-3,04) |
0,424 |
0,45 (0,52-4,75) |
|
Bệnh tim khác |
13(48,1) |
14(51,9) |
||||
|
BMI<18,5 |
7(70,0) |
3(30,0) |
0,23 |
2,33 (0,57-9,63) |
0,419 |
0,73 (0,36 – 12,00) |
|
BMI≥18,5 |
43(50,0) |
43(50,0) |
||||
|
Suy dinh dưỡng |
31(70,5) |
13(29,5) |
0,001 |
4,14 (1,75-9,78) |
0,009 |
1,44 (1,43 – 12,49) |
|
Không suy dinh dưỡng |
19(36,5) |
33(63,5) |
||||
Kết quả cho thấy nữ giới có nguy cơ bị thiểu cơ cao hơn nam giới gấp 3,31 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,02 lần với phân tích đa biến có ý nghĩa thông kê với p<0,05. Suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM có nguy cơ bị thiểu cơ gấp 4,14 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,44 lần với phân tích đa biến có ý nghĩa thống kê với p<0,05
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu cử chúng tôi, sàng lọc nguy cơ thiểu cơ bằng bộ công cụ SARC-C cho thấy 52,1% người bệnh có nguy cơ thiểu cơ, phản ánh tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao ở nhóm người bệnh tim mạch trước phẫu thuật. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Anastasi Ivanes tại Moldova năm 2024, trong đó ghi nhận 56,8% người bệnh suy tim mạn tính có nguy cơ thiểu cơ [6]. Sự tương đồng này cho thấy nguy cơ thiểu cơ là một vấn đề phổ biến ở người bệnh tim mạch, đặc biệt trong bối cảnh bệnh lý mạn tính và suy giảm chức năng kéo dài. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân cho thấy tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ là 30,5% thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi. Sự khác biệt này do đối tượng nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân là người bệnh mạn tính, ổn định [7]. Nghiên cứu của Anastasi Ivanes cũng ghi nhận tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ ở nữ cao hơn nam và người bệnh có trình độ học vấn thấp hơn có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao hơn [6]. Điều này có thể giải thích bởi nữ giới có khối lượng và sức mạnh cơ thấp hơn nam giới. Người bệnh có trình độ học vấn thấp thường hạn chế tiếp cận các kiến thức về dinh dưỡng, vận động và chăm sóc sức khỏe.
Người bệnh trước phẫu thuật phồng động mạch chủ ngực trong nghiên cứu của chúng tôi có nguy cơ thiểu cơ cao nhất (66,7%). Kết quả này có thể liên quan đến nhóm người bệnh này có thời gian mắc bệnh kéo dài, kèm theo nhiều bệnh đồng mắc như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch và suy giảm chức năng vận động trước phẫu thuật
Một điểm khác biệt giữa hai nghiên cứu là tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ ở nhóm người bệnh thừa cân. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Anastasi Ivanes (13,3% so với 42,8%). Điều này có thể giải thích do đặc điểm nhân trắc học và cấu trúc cơ thể của châu Âu và châu Á khác nhau do điểm cắt BMI thừa cân ở châu Âu và chấu Á khác nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy SARC-C là công cụ sàng lọc nguy cơ thiểu cơ phù hợp, khả thi và có giá trị trong môi trường lâm sàng, giúp phát hiện tỷ lệ lớn người bệnh có nguy cơ thiểu cơ trước phẫu thuật tim mạch. Những khác biệt quan sát được giữa các nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét đặc điểm dân số, bối cảnh lâm sàng và công cụ đánh giá khi so sánh kết quả và xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp.
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM là một yếu tố liên quan chặt chẽ với nguy cơ thiểu cơ ở người bệnh tim mạch trước phẫu thuật. Người bệnh suy dinh dưỡng theo GLIM có nguy cơ bị thiểu cơ gấp 4,14 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,44 lần với phân tích đa biến, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Trong nghiên cứu của Laetitia cho thấy người bệnh suy dinh dưỡng theo GLIM có nguy cơ thiểu cơ cao gấp 4,02 lần tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi. Ngoài ra, một nghiên cứu cũng chỉ ra rằngnhững người bệnh suy dinh dưỡng theo GLIM có nguy cơ sarcopeniacao hơn gần 3,2 lần sau 5 năm so với nhóm không suy dinh dưỡng [8]. Những bằng chứng này cho thấy việc đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng là cần thiết, tuy nhiên chưa đủ, nhất là đối với người bệnh tim mạch, cần được kết hợp với phương pháp đánh giá sâu hơn về khối lượng và chức năng cơ nhằm dự đoán sớm các kết cục sức khỏe bất lợi,
Bên cạnh đó, nữ giới được ghi nhận là một yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ thiểu cơ. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới có nguy cơ thiểu cơ cao hơn nam giới gấp 3,31 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,02 lần với phân tích đa biến, với ý nghĩa thông kê p<0,05. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Anastasi Ivanes và cộng sự, trong đó tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ ở nữ cao hơn so với nam [6]. Tương tự, một nghiên cứu khác của Prapromporn tại Thái Lan trên người bệnh tim mạch cũng cho thấy giới tính nữ có nguy cơ thiểu cơ cao gấp 2,77 lần so với nam [9]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân (2024) cũng cho thấy phụ nữ có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao hơn nam giới [10]. Những kết quả này cho thấy giới nữ là nhóm đối tượng cần được quan tâm đặc biệt trong sàng lọc và can thiệp sớm tình trạng thiểu cơ, nhất là ở bệnh nhân tim mạch.
Hạn chế nghiên cứu: Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại một trung tâm duy nhất với cỡ mẫu còn hạn chế, do đó kết quả chủ yếu chỉ phản ánh được thực trạng và các mối liên quan, chưa đủ cơ sở để đánh giá được mối quan hệ nhân quả giữa thiểu cơ với kết cục phẫu thuật và hồi phục sau mổ. Việc mở rộng cỡ mẫu và phối hợp triển khai nghiên cứu tại nhiều trung tâm tim mạch là cần thiết nhằm nâng cao tính khái quát của kết quả. Trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi dự kiến bổ sung và chuẩn hóa phương pháp đánh giá thiểu cơ bằng cách kết hợp thang điểm SARC-CalF với BIA, các chỉ số sinh hóa đồng thời đối chiếu với CT/DXA nhằm giảm thiểu sai lệch và tăng độ chính xác trong chẩn đoán.
KẾT LUẬN
Tình trạng thiểu cơ trên người bệnh tim mạch trước phẫu thuật có tỷ lệ cao. Sàng lọc nguy cơ thiểu cơ theo SARC-C có 52,1% người bệnh được xác định có nguy cơ thiểu cơ. Giới nữ cơ nguy cơ thiểu cơ cao hơn, người có trình độ từ dưới PTTH có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao hơn, người bệnh mắc bệnh tim phối hợp có tỷ lệ nguy cơ thiểu cơ cao hơn.
Những người bệnh suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM có nguy cơ bị thiểu cơ gấp 4,14 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,44 lần với phân tích đa biến có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Nữ giới có nguy cơ bị thiểu cơ cao hơn nam giới gấp 3,31 lần với phân tích đơn biến và gấp 1,02 lần với phân tích đa biến có ý nghĩa thông kê với p<0,05.
Người bệnh tim mạch trước phẫu thuật cần được sàng lọc nguy cơ thiểu cơ một cách thường quy nhằm phát hiện sớm các trường hợp có nguy cơ sao. Công cụ SARC-C là phương pháp sáng lọc đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện và không đòi hỏi nhân viên dinh dưỡng chuyên nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/cardiovascular-diseases-(cvds).
2.Damluji A.A., Alfaraidhy M., AlHajri N. và cộng sự. (2023). Sarcopenia and Cardiovascular Diseases. Circulation, 147(20), 1534–1553.
3.Yin J., Lu X., Qian Z. và cộng sự. (2019). New insights into the pathogenesis and treatment of sarcopenia in chronic heart failure. Theranostics, 9(14), 4019–4029.
4.Van Gassel R.J.J., Baggerman M.R., và van de Poll M.C.G. (2020). Metabolic aspects of muscle wasting during critical illness. Curr Opin Clin Nutr Metab Care, 23(2), 96–101.
5. Nishikawa H., Asai A., Fukunishi S. và cộng sự. (2021). Screening Tools for Sarcopenia. Vivo Athens Greece, 35(6), 3001–3009.
6.Ivanes A., Mazur-Nicorici L., Salaru V. và cộng sự. (2025). Sarcopenia and frailty: risk profiles in patients with chronic heart failure. Mold J Health Sci, 12(3), 80–85.
7.Nguyen T.V., Nguyen T.D., Cao Dinh H. và cộng sự. (2024). Association between SARC-F scores and risk of adverse outcomes in older patients with cardiovascular disease: a prospective study at a tertiary hospital in the south of Vietnam. Front Med, 11, 1406007.
8.Laetitia Leangeles, Olivier.B và cộng sự (2021). Malnutritrion, assessed by the Globan Leadership Initiative on Malnutrition (GLIM) criteria but not by the mini nutritional assessment (MNA), predicts the incidence of sarcopeina over a 5-year in SarcophAge cohort. Aging Clin Exp Res 33(6): 1507-1517.
9.Prapromporn. P và cộng sự (2022). Prevalence and impact of sarcopenia in heart failure: A cross-sectional study. The open cardiovascular medicine journal. 16.
10.Nguyen T.N., Nguyen T.N., Nguyen A.T. và cộng sự. (2020). Prevalence of sarcopenia and its associated factors in patients attending geriatric clinics in Vietnam: a cross-sectional study. BMJ Open, 10(9), 630.
Status of Sarcopenia Among Cardiovascular Patients Prior to Surgery at Cardiovascular and Thoracic Surgery Center, Viet Duc Friendship Hospital in 2025
Abstract
Objectives: This study aimed to assess the status of sarcopenia and to identify factors associated with sarcopenia among cardiovascular patients prior to surgery at Cardiovascular and Thoracic Surgery Center, Viet Duc Friendship Hospital.
Methods: A cross-sectional study was conducted among 96 cardiovascular patients scheduled for surgery at the Cardiovascular and Thoracic Surgery Center, Viet Duc Friendship Hospital, from March 2024 to December 2025. Sarcopenia risk was screened using the SARC-C questionnaire. Muscle mass was assessed by bioelectrical impedance analysis (BIA), and muscle strength and physical performance were evaluated using handgrip strength and the 6-meter gait speed test, respectively, in accordance with the Asian Working Group for Sarcopenia (AWGS 2019) diagnostic criteria. Multivariate logistic regression analysis was performed to identify factors associated with sarcopenia.
Results: According to SARC-C screening, 52.1% of patients were identified as being at risk of sarcopenia. Cardiovascular patients with malnutrition defined by the Global Leadership Initiative on Malnutrition (GLIM) criteria had a significantly higher risk of sarcopenia (odds ratio [OR] = 4.14 in univariate analysis and OR = 1.44 in multivariate analysis; p < 0.05). Female sex was also associated with an increased risk of sarcopenia compared with male sex (OR = 3.31 in univariate analysis and OR = 1.02 in multivariate analysis; p < 0.05).
Conclusions: Sarcopenia is common among cardiovascular patients prior to surgery. Routine screening for sarcopenia is recommended to facilitate early identification of high-risk individuals. The SARC-C questionnaire is a simple, rapid, and feasible screening tool that can be implemented without the need for specialized nutrition personnel.
Keywords: Sarcopenia; cardiovascular disease; preoperative patients; SARC-C; Viet Duc Friendship Hospital.
1. Khoa Dinh dưỡng, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
2. Khoa Ung bướu, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Email: thanhbinh79vn@gmail.com
Điện thoại: 0355155459
Tin mới
-
Tình trạng thiểu cơ ở người bệnh tim mạch trước phẫu thuật đang là yếu tố nguy cơ...25/03/2026 18:30
-
Điều dưỡng khoa Nhi: Những “bản lĩnh thép” phía sau tâm hồn dịu dàng
Trong hệ thống y tế, điều dưỡng khoa Nhi giữ một vai trò đặc biệt không thể thay...25/03/2026 11:24 -
Ca tay chân miệng ở TPHCM tăng gần gấp đôi, 2 trường hợp tử vong trong tuần
Số ca mắc tay chân miệng tại TPHCM tăng mạnh, vượt ngưỡng cảnh báo. Thành phố ghi nhận...25/03/2026 08:36 -
Bộ Y tế: Truy xuất nguồn gốc thực phẩm khiến hàng chục người nhập viện sau ăn bánh mì ở Quảng Ngãi
Chiều 24/3, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết đã có văn bản gửi Sở...25/03/2026 08:42 -
ĐẠI HỌC PHENIKAA THÔNG BÁO TUYỂN SINH THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG 2026
Căn cứ Kế hoạch số 19/KH-ĐHP-ĐT ngày 30 tháng 01 năm 2026 về việc tuyển sinh sau đại...24/03/2026 15:30 -
Bệnh viện đa khoa Đức Giang: Mô hình tiêu biểu trong nuôi con bằng sữa mẹ được quốc tế ghi nhận
Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Đức Giang vinh dự là bệnh viện công lập đầu tiên của Hà...24/03/2026 09:49 -
Sắp xếp lại hệ thống y tế công lập: Tập trung nguồn lực cho các bệnh viện đầu ngành
Việc tái cơ cấu hệ thống y tế công lập đang được triển khai theo hướng tinh gọn,...24/03/2026 09:26 -
9 bệnh truyền nhiễm nào Bộ Y tế đề xuất phải cách ly y tế chỉ sau vài giờ phát hiện?
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của...24/03/2026 09:13 -
Sa sút trí tuệ gia tăng: Áp lực điều trị lớn
Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, sa sút trí tuệ đang nổi lên...23/03/2026 17:52 -
THỰC TRẠNG NHIỂM KHUẨN CATHETER TINH MẠCH TRUNGTÂM TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024
Nhiễm khuẩn liên quan catheter tĩnh mạch trung tâm tại Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đa...23/03/2026 15:23 -
CHĂM SÓC ĐIỂU DƯỠNG VÀ KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN NGƯỜI BỆNH GHÉP THẬN TẠI ĐƠN VỊ HỐI SỨC GHÉP TẠNG, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
Nghiên cứu trên 12 ca ghép thận tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cho thấy vai trò...23/03/2026 14:03 -
Những ai sẽ được khám sức khỏe định kỳ miễn phí trong năm 2026?
Bộ Y tế đề xuất trong năm 2026, sẽ khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người...23/03/2026 09:04 -
MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG GIAI ĐOẠN 2022-2024
Hoạt động nghiên cứu khoa học của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang giai đoạn...22/03/2026 22:47 -
Một người đàn ông trẻ ra đi, dâng tặng lại sự sống cho 6 người khác
Một người đàn ông trẻ chết não do tai nạn giao thông đã hiến tạng cho 6 người...22/03/2026 17:22














