MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI NGHIỆN INTERNET CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Kết quả: Toàn bộ sinh viên đều sử dụng Internet trong 3 tháng gần đây với số giờ dùng trung bình là 7,8 ± 3,4 giờ; Phần lớn sinh viên sử dụng Internet vào mục đích kết nối mạng xã hội với 54,2%, lướt web (21,9%) và chơi game online (5,1%), chỉ có 18,8% sử dụng với mục đích học tập; 73,6% sinh viên có nguy cơ nghiện Internet và 45,6% sinh viên đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện Internet theo thang điểm CIAS. Sinh viên có căng thẳng tâm lý chiếm 57,2%. Các số yếu tố liên quan đến nghiện Internet có ý nghĩa thống kê là: giới tính, thời gian sử dụng Internet, và mức độ căng thẳng tâm lý.
Kết luận: Tỷ lê sinh viên có nguy cơ nghiện Internet cao (73,6%); 45,6% sinh viên đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện Internet theo thang điểm CIAS. Từ kết quả trên, cần khuyến khích sàng lọc mức độ quy mô rộng hơn và cần có chương trình hỗ trợ toàn diện nhằm nâng cao nhận thức về hậu quả có hại của việc sử dụng Internet quá mức.
Từ khóa: Nghiện Internet, căng thẳng tâm lý, sinh viên y.
ABSTRACT
Objective: (i) To describe the current state of Internet addiction and (ii) to identify factors related to Internet addiction among students at Hanoi Medical University.
Methodology: A cross-sectional descriptive study was conducted on 811 students from the first to the sixth year at Hanoi Medical University.
Results: In total, all students have used the Internet in the last 3 months with an average usage time of 7.8 ± 3.4 hours; The majority of students use the Internet for the purpose of connecting to social networks with 54.2%, surfing the web (21.9%) and playing online games (5.1%), only 18.8% use it for learning purposes; 73.6% of students are at risk of Internet addiction and 45.6% of students meet the criteria for diagnosis of Internet addiction according to the CIAS scale. Students with psychological stress account for 57.2%. The statistically significant factors related to Internet addiction include gender, Internet usage time, and psychological distress levels.
Conclusion: The percentage of students at risk of Internet addiction is high (73.6%); 45.6% of students met the criteria for diagnosis of Internet addiction according to the CIAS scale. Based on the above results, broader screening should be encouraged and a comprehensive support program should be in place to raise awareness of the harmful consequences of excessive Internet use.
Keywords: Internet addiction, psychological stress, medical students.
1.GIỚI THIỆU
Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công việc và giải trí. Tuy nhiên, việc lạm dụng Internet có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần, thể chất, mối quan hệ và chất lượng cuộc sống [1]. Thanh thiếu niên và sinh viên là nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc rối loạn sử dụng Internet làm gia tăng các vấn đề về sức khỏe, giáo dục và tương tác xã hội [18]. Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng Internet ở bậc đại học ngày càng tăng kéo theo nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất, tinh thần và xã hội [9]. Nghiên cứu tại Canada cho thấy 1/3 sinh viên y khoa nghiện Internet có nguy cơ cao mắc trầm cảm, lo âu, rối loạn chú ý và suy giảm chức năng nhận thức [16]. Ngoài ra, khảo sát tại bảy quốc gia cũng ghi nhận mối liên quan giữa nghiện Internet và chất lượng giấc ngủ kém ở sinh viên y khoa [15], cùng với nguy cơ rối loạn trầm cảm và lo âu [4]. Tại Việt Nam nghiên cứu trên sinh viên Y Đa khoa từ trường Đại học Y Dược Huế năm 2018 và Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2019 cũng chỉ ra có tới 36,9% và 38,5% sinh viên nghiện Internet [2,3]. Sinh viên y khoa là đối tượng chịu nhiều áp lực học tập cả ở trường và trên lâm sàng. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sử dụng Internet và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến nguy cơ nghiện Internet của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-
- Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên đại học hệ chính quy từ Y1 đến Y6 trên tất cả 9 chuyên ngành đào tạo của trường Đại học Y Hà Nội.
-
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Trường Đại học Y Hà Nội, số 1, Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2022 đến tháng 06/2023.
-
- Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang.
-
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể.
n= Z21-α/2.p.(1-p)d2
.DE
Thay vào công thức với p=0,431 (Tỉ lệ nghiện Internet theo nghiên cứu của Ko và cộng sự sử dụng thang đo CIAS trên sinh viên y khoa tại Đài Loan [9]), ta có cỡ mẫu là n=754. Nghiên cứu lấy thêm 10% cỡ mẫu để đề phòng hao hụt mẫu nên cỡ mẫu là 830. Trên thực tế có 811 sinh viên tham gia vào nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng trong nghiên cứu này.
-
- Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu bằng cách hướng dẫn sinh viên tham gia điền trực tiếp bộ câu hỏi được thiết kế sẵn.
Bộ câu hỏi khảo sát gồm 3 phần:
- Đặc điểm chung: được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu bao gồm các biến số: tuổi, giới, ngành học, năm học, điểm tổng kết kì học vừa rồi, khó khăn về kinh tế, thời gian đi làm trong tuần, nơi ở, số người ở cùng, tiền sử lạm dụng chất kích thích, người tâm sự khi buồn chán, số giờ sử dụng Internet mỗi ngày, mục đích sử dụng.
- Mức độ căng thẳng tâm lý (The five-item Brief Symptom Rating Scale –BSRS-5) được phát triển bởi Lee và cộng sự [11] đã được Hường và cộng sự đánh giá tính giá trị ở Việt Nam với độ tin cậy tốt (Cronbach’s alpha = 0,72) [13]. Bộ công cụ bao gồm 5 triệu chứng của căng thẳng tâm lý gồm Mất ngủ, Lo âu, Trầm cảm, Kích thích, Tự ti và câu hỏi cuối dùng để sàng lọc về ý tưởng tự sát. Các câu hỏi được đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý trong 1 tuần vừa qua với điểm số từ 0 đến 4 (0 - Hoàn toàn không, 1 - Một chút, 2 - Vừa phải, 3 - Nhiều, 4 - Rất nhiều). Tổng điểm BSRS-5 được tính tổng từ câu hỏi số 1 tới 5 và với đánh giá sàng lọc tại cộng đồng và bệnh viện đa khoa. Mức điểm ≥
6 được coi là có căng thẳng tâm lý và cần được hỗ trợ can thiệp (theo khuyến cáo của tác giả bộ công cụ). - Thang đánh giá nghiện Internet (Chen Internet Addiction Scale – CIAS) của tác giả Sue-Huei Chen [5] lần đầu tiên được sự đồng ý của tác giả sử dụng tại Việt Nam. Sau quá trình dịch thuật theo quy trình dịch thuật chuẩn của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization for Standarlization -ISO 9001:2015) bộ công cụ được thống nhất phiên bản cuối và được đánh giá bởi hội đồng chuyên môn gồm 5 chuyên gia có kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành sức khỏe tâm thần ít nhất là 10 năm (2 bác sĩ, 2 điều dưỡng, 1 nhân viên tâm lý) với chỉ số CVI = 1. Bộ công cụ được thử nghiệm trên 30 sinh viên với độ tin cậy Cronbach’s alpha = 0,92 trước khi tiến hành thu thập số liệu.
- Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu được nhập, làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.
Thống kê mô tả: Các biến được trình bày dưới dạng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, số lượng và tỷ lệ để mô tả đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Hồi quy logistic đơn biến và đa biến được thực hiện để xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng nghiện Internet, với mức ý nghĩa p < 0,05. Trước khi đưa vào mô hình hồi quy đa biến, kiểm định đa cộng tuyến được thực hiện. Do biến tuổi có hệ số phóng đại phương sai (VIF > 4), nên chỉ số này bị loại khỏi mô hình.
-
- Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ mô tả thực trạng, không can thiệp hay gây bất kỳ tác hại nào cho đối tượng. Quá trình nghiên cứu thực hiện nghiêm chỉnh các quy định trong nghiên cứu y sinh học.
3. KẾT QUẢ
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N=811)
|
Đặc điểm chung |
Số lượng (n) |
Tỷ lệ (%) |
|
|
Nhóm tuổi |
18 - 20 tuổi |
347 |
42,8 |
|
21 - 22 tuổi |
343 |
42,2 |
|
|
23 - 28 tuổi |
121 |
15 |
|
|
Tuổi trung bình Min-Max |
18 - 28 |
||
|
Giới tính |
Nữ |
546 |
67,3 |
|
Nam |
265 |
32,7 |
|
|
Chuyên ngành |
Bác sĩ |
467 |
57,6 |
|
Cử nhân |
344 |
42,4 |
|
|
Năm học |
Năm 1 - 2 |
341 |
42 |
|
Năm 3 - 6 |
470 |
58 |
|
|
Điểm tổng kết học kì trước |
< 7 điểm |
403 |
49,7 |
|
≥ 7 điểm |
408 |
50,3 |
|
|
Khó khăn về kinh tế |
Không |
416 |
51,3 |
|
Có |
395 |
48,7 |
|
|
Làm thêm |
Không |
410 |
50,6 |
|
Có |
401 |
49,4 |
|
|
Nơi ở hiện tại |
Kí túc xá |
438 |
54 |
|
Thuê nhà trọ bên ngoài |
268 |
33 |
|
|
Ở với gia đình |
105 |
13 |
|
|
Ảnh hưởng bởi cồn, chất kích thích |
Không |
658 |
81,1 |
|
Có |
153 |
18,9 |
|
|
Người tâm sự |
Không |
171 |
21 |
|
Có |
640 |
79 |
|
|
Giờ dùng Internet hàng ngày |
≤4 |
128 |
15,8 |
|
>4 - ≤6 |
209 |
25,8 |
|
|
>6 - ≤8 |
202 |
24,9 |
|
|
> |
272 |
33,5 |
|
|
Mục đích sử dụng |
Học tập |
153 |
18,9 |
|
|
Kết nối mạng xã hội |
439 |
54,1 |
|
|
Lướt web |
178 |
21,9 |
|
|
Chơi game online |
41 |
5,1 |
Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 20,94 ± 1,7. Tỷ lệ nữ giới cao gấp 2,06 lần nam giới. Số lượng sinh viên hệ Bác sĩ và hệ cử nhân lần lượt là 57,6% và 42,4%. Tỷ lệ sinh viên có khó khăn về kinh tế và sinh viên có công việc làm thêm khá tương đồng, lần lượt là 48,7% và 49,4%. Hơn một nửa sinh viên (54%) ở kí túc xá. Phần lớn sinh viên không bị ảnh hưởng bởi đồ uống có cồn hoặc chất kích thích với tỷ lệ 81,1%. Thời gian trung bình sử dụng Internet/ngày là 7,8 ±
3,4 giờ. Hầu hết sinh viên sử dụng Internet nhiều hơn 4 giờ mỗi ngày (84,2%). Hơn ½ tỷ lệ sinh viên sử dụng Internet để kết nối mạng xã hội (54,1%), tỷ lệ sinh viên sử dụng Internet để học chiếm tỷ lệ thấp với 18,9%.
Biểu đồ 3.1. Mức độ căng thẳng tâm lý (N=811)

Theo kết quả từ biểu đồ 3.1, có tới hơn ½ sinh viên báo cáo có căng thẳng tâm lý (tổng điểm ≥
6) với 57,2% (n=464) và 42,7% (n=347) không có căng thẳng tâm lý.
Bảng 3.2. Phân bố nghiện Internet của sinh viên theo thang CIAS (N=811).
|
Phân loại |
n |
% |
|
|
Sàng lọc |
Không có nguy cơ (CIAS<58) |
214 |
26,4 |
|
Nguy cơ nghiện (CIAS≥ |
597 |
73,6 |
|
|
Chẩn đoán |
Không nghiện (CIAS<64) |
441 |
54,4 |
|
Nghiện (CIAS≥ |
370 |
45,6 |
|
Theo khuyến cáo của tác giả bộ công cụ CIAS, tiêu chuẩn sàng lọc sinh viên có nguy cơ nghiện Internet với mức điểm phân loại ≥
58 điểm, có tới gần ¾ tỉ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu có nguy cơ nghiện Internet với tỉ lệ 73,6% (n=597). Bên cạnh đó, theo tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện Internet với mức điểm phân loại ≥
64 điểm, gần ½ sinh viên tham gia nghiên cứu có đủ tiêu chuẩn nghiện Internet với tỉ lệ 45,6% (n=370).
Bảng 3.3. Các yếu tố liên quan tới nghiện Internet của sinh viên
|
|
||||||
|
Đặc điểm |
Hồi quy Logistic Đơn biến |
Hồi quy Logistic Đa biến |
||||
|
B |
OR (95% CI) |
p |
B |
OR (95% CI) |
p
|
|
|
Tuổi |
||||||
|
18 – 20 |
|
1 |
|
- |
- |
- |
|
21 – 22 |
0,72 |
1,08 (0,77-1,51) |
0,67 |
- |
- |
- |
|
23 – 28 |
0,24 |
1,27 (0,78-2,06) |
0,33 |
- |
- |
- |
|
Giới tính |
||||||
|
Nam |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Nữ |
0,29 |
1,33 (0,96-1,84) |
0,09 |
0,36 |
1,44 (1,00-2,07) |
0,05 |
|
Ngành học |
||||||
|
Bác sĩ |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Cử nhân |
0,13 |
1,13 (0,82-1,56) |
0,44 |
0,19 |
1,20 (0,82-1,77) |
0,34 |
|
Năm học |
||||||
|
Năm 1-2 |
|
1 |
|
|
|
|
|
Năm 3-6 |
0,001 |
1,00 (0,73-1,37) |
0,997 |
0,05 |
1,05 (0,73-1,49) |
0,81 |
|
Điểm tổng kết kì học trước |
||||||
|
< 7 |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
≥ |
-0,03 |
0,97 (0,71-1,32) |
0,83 |
-0,005 |
1,00 (0,70-1,42) |
0,98 |
|
Khó khăn về kinh tế |
||||||
|
Không |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Có |
0,49 |
1,64 (1,19-2,25) |
0,002 |
0,26 |
1,29 (0,91-1,83) |
0,15 |
|
Đi làm thêm |
||||||
|
Không |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Có |
0,25 |
1,28 (0,94-1,76) |
0,12 |
-0,18 |
0,98 (0,69-1,39) |
0,92 |
|
Nơi ở |
||||||
|
Kí túc xá |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Thuê trọ bên ngoài |
-0,005 |
0,995 (0,70-1,41) |
098 |
0,01 |
1,01 (0,47-2,19) |
0,98 |
|
Ở với gia đình, họ hàng |
-0,13 |
0,60 (0,55-1,41) |
0,60 |
-0,09 |
0,92 (0,42-1,99) |
0,83 |
|
Số người sống cùng |
||||||
|
≤ |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
≥ |
0,02 |
1,02 (0,75-1,40) |
0,88 |
0,004 |
1,00 (0,49-2,08) |
0,99 |
|
Ảnh hưởng bởi cồn, chất kích thích |
||||||
|
Không |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Có |
0,617 |
1,85 (1,18-2,90) |
0,007 |
0,43 |
1,54 (0,95-2,51) |
0,08 |
|
Người tâm sự |
||||||
|
Không |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
Có |
0,07 |
1,07 (0,74-1,57) |
0,71 |
-0,04 |
0,96 (0,63-1,46) |
0,86 |
|
Giờ dùng Internet hàng ngày |
||||||
|
≤ |
|
1 |
|
|
1 |
|
|
>4 - ≤
|
0,80 |
2,22 (1,39-3,54) |
0,001 |
0,74 |
2,10 (1,28-3,43) |
0,003 |
|
>6 - ≤
|
0,88 |
2,42 (1,50-3,89) |
0,00 |
0,80 |
2,22 (1,34-3,68) |
0,002 |
|
> |
1,02 |
2,78 (1,76-4,38) |
0,00 |
0,83 |
2,28 (1,41-3,71) |
0,001 |
|
Mục đích sử dụng |
||||||
|
Học tập |
0,56 |
1 |
|
|
1 |
|
|
Kết nối mạng xã hội |
0,54 |
1,74 (1,17-2,59) |
0,006 |
0,38 |
1,46 (0,95-2,23) |
0,08 |
|
Lướt web |
0,84 |
1,71 (1,06-2,75) |
0,03 |
0,48 |
1,62 (0,97-2,68) |
0,06 |
|
Chơi game online |
0,58 |
2,32 (1,00-5,36) |
0,05 |
0,80 |
2,22 (0,91-5,46) |
0,08 |
|
Mức độ căng thẳng tâm lý |
||||||
|
Không (< |
|
1 |
p<0,01 |
|
1 |
p<0,01 |
|
Có (≥ |
1,08 |
2,94 (2.13-4,06) |
p<0,01 |
0,96 |
2,61 (1,85-3,66) |
p<0,01 |
Kết quả hồi quy đa biến ở Bảng 3.3 cho thấy có 3 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê tới nguy cơ nghiện Internet. Sinh viên nữ có nguy cơ nghiện Internet cao hơn so với sinh viên nam (OR= 1,44). Sinh viên sử dụng Internet từ 4 -6 giờ có nguy cơ nghiện internet cao hơn so với sinh viên sử dụng Internet < 4 giờ (OR= 2,10). Nguy cơ nghiện Internet ở những sinh viên sử dụng Internet từ 6- 8 giờ và >
8 giờ cao hơn so với sinh viên sử dụng Internet <
4 giờ (OR lần lượt là 2,22 và 2,28). Nguy cơ nghiện Internet ở những sinh viên có căng thẳng tâm lý cao hơn so với sinh viên không có căng thẳng tâm lý (OR=2,61).
4. BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu trung bình là 20,94 ±
1,7 tuổi. Nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với các nghiên cứu trên đối tượng sinh viên ngành y trên thế giới với độ tuổi trung bình từ 20 đến 23
tuổi [14]. Trong nghiên cứu của Langarizadeh và cộng sự tuổi của sinh viên cũng dao dộng trong khoảng từ 19 đến 28 tuổi [10]. Tỷ lệ sinh viên nữ tham gia nghiên cứu là 67,3%, tỷ lệ này tương đồng với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước như của Hồ Thị Linh Đan [2] và Malaysia của Radeef trên đối tượng sinh viên ngành y, với tỉ lệ nữ cũng cao hơn 2,7 lần so với nam giới [14].
Sinh viên sử dụng Internet với mục đích kết nối mạng xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,2%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Linh Phương Doan và cộng sự với 43,9% và 47,4% số sinh viên sử dung Internet với mục đích trò chuyện trực tuyến và cập nhật tin tức [17].Tương tự trong nghiên cứu của Ali và cộng sự tỷ lệ này là 80,2% [2]. Trung bình sinh viên sử dụng Internet 7,8 ±
3,4 giờ, với số sinh viên sử dụng Internet phổ biến nhất là từ 4 giờ đến 12 giờ mỗi ngày. Kus và cộng sự chỉ ra kết quả tương đồng với số giờ sử dụng với mỗi ngày trong tuần là 7,79 giờ và số giờ sử dụng Internet với ngày cuối tuần là 8,47 giờ [16]. Tương tự, nghiên cứu của Gs Wu và cộng sự ở Đài Loan, số người sử dụng Internet dưới 13 giờ chiếm 71,2% và trên 13 giờ là 28,8% [17].
Nghiên cứu cho thấy 73,6% sinh viên có nguy cơ nghiện Internet (CIAS ≥ 58), trong đó 45,6% đủ tiêu chuẩn nghiện (CIAS ≥ 64). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ko et al. tại Đài Loan (43,1%) và Ali et al. tại Hàn Quốc (47,7%), nhưng cao hơn so với Langarizadeh et al. (31,2%) và Hồ Thị Linh Đan (36,9%) [3,10,14]. Đáng chú ý, tỷ lệ này cao gấp 4 lần so với nghiên cứu của Wu et al. trên người trưởng thành trong cộng đồng [17]. Sự khác biệt có thể do yếu tố môi trường, đặc điểm đối tượng và các tác động khác.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguy cơ nghiện Internet ở sinh viên nữ cao gấp 1,44 lần so với sinh viên nam (95% CI=1,00-2,07; p=0,05). Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận kết quả tương đồng như nghiên cứu của Gedam (p=0,033) [7]. Sự khác biệt này có thể do nữ giới có nhu cầu bày tỏ và quan tâm đến nhiều lĩnh vực hơn nam giới, trong khi Internet cung cấp phương tiện thuận lợi để đáp ứng những nhu cầu này. Ngoài ra, sự phát triển của các dịch vụ trực tuyến như mua sắm, kết bạn, chia sẻ tâm sự cũng thu hút nữ giới nhiều hơn. Khi không kiểm soát tốt hành vi sử dụng, họ có nguy cơ nghiện Internet cao hơn.
So sánh kết quả trong nghiên cứu này với những nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy sự tương đồng, sinh viên có thời gian sử dụng Internet càng cao thì tỷ lệ nghiện Internet càng cao. Với tỷ lệ sinh viên sử dụng Internet trên 8 giờ cao gấp 2,28 lần sinh viên sử dụng dưới 4 giờ. Tương tự nghiên cứu của Mboya và cộng sự năm 2020, tỉ lệ nghiện Internet ở những sinh viên sử dụng Internet trên 5 giờ (40,2%) cao gấp 2,05 lần so với nhóm sử dụng ít hơn 5 giờ (19,6%) (95% CI=1,44-2,90) [12]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, sinh viên sử dụng Internet chủ yếu vào kết nối mạng xã hội, lướt web, thời gian sử dụng Internet dài trung bình 7,8 giờ mỗi ngày là hệ quả của triệu chứng rối loạn kiểm soát thời gian sử dụng, sự ưu tiên sử dụng Internet, những triệu chứng quan trọng trong chẩn đoán nghiện Internet.
Nghiên cứu này chỉ ra nguy cơ nghiện Internet ở những sinh viên có căng thẳng tâm lý có cao gấp 2,61 lần so với sinh viên không có căng thẳng tâm lý (95% CI=1,85-3,66; p=0,00). Tương tự nghiên cứu của Wu và cộng sự cho thấy những người nghiện Internet có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần cao hơn (65,0%), và có ý tưởng tự sát trong 1 tuần qua là 47,0%, Gedam chỉ ra mối liên quan giữa nghiện Internet và trầm cảm ở sinh viên y (p<0,05) [7,17]. Căng thẳng tâm lý như trầm cảm, lo âu có thể dẫn đến lạm dụng Internet như một cách trốn tránh cảm xúc tiêu cực, thay thế các hành vi nghiện chất. Những người thiếu kết nối xã hội, kỹ năng giao tiếp kém dễ tìm đến mối quan hệ ảo để thỏa mãn nhu cầu tương tác. Ngoài ra, tính bảo mật, ẩn danh và khả năng truy cập dễ dàng của Internet khiến họ dần lệ thuộc. Một số người có tính nhạy cảm cao, lo sợ bị chỉ trích hoặc bỏ lỡ thông tin, dẫn đến hành vi kiểm tra mạng xã hội liên tục, làm tăng nguy cơ nghiện Internet.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI
Nghiên cứu trên 811 sinh viên thu được kết quả: toàn bộ sinh viên đều sử dụng Internet trong 3 tháng gần đây với số giờ dùng trung bình là 7,8 ± 3,4 giờ; Phần lớn sinh viên sử dụng Internet vào mục đích kết nối mạng xã hội với 54,2%, lướt web (21,9%) và chơi game online (5,1%), chỉ có 18,8% sử dụng với mục đích học tập;73,6% sinh viên có nguy cơ nghiện Internet và 45,6% sinh viên đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện Internet theo thang điểm CIAS. Sinh viên có căng thẳng tâm lý chiếm đến 57,2% (n=464).
Các yếu tố: giới tính nữ, thời gian sử dụng internet >4 giờ/ngày và căng thẳng tâm lý có liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ nghiện internet ở sinh viên.
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị: (i) Cần triển khai các chương trình sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm nguy cơ nghiện Internet ở sinh viên, đặc biệt là nhóm có căng thẳng tâm lý, giúp can thiệp kịp thời; (ii) Nhà trường nên tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng quản lý thời gian và nâng cao nhận thức về tác động tiêu cực của lạm dụng Internet, đồng thời khuyến khích sinh viên sử dụng Internet cho mục đích học tập; (iii) Cần thiết lập hoặc mở rộng các dịch vụ tư vấn tâm lý trong trường đại học nhằm hỗ trợ sinh viên kiểm soát căng thẳng, giảm nguy cơ lệ thuộc vào Internet như một cơ chế đối phó không lành mạnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Các rối loạn tâm thần liên quan tới Internet. Bệnh viện Quân Y 103. Published October 9, 2020. http://benhvien103.vn/cac-roi-loan-tam-than-lien-quan-toi-internet/.
- Hồ Thị Linh Đan và cộng sự (2018). Thực trạng nghiện Internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế năm 2018. Tạp chí Y tế Công cộng số 56 tháng 9/2011. 25-35
- Nguyễn Thị Minh Ngọc và cộng sự (2019). Thực trạng nghiện internet và một số yếu tố liên quan của sinh viên y đa khoa Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2019. Tạp chí Y học Dự phòng tập 29 số 9 năm 2019. 165
- Ali R, Mohammed N, Aly H. Internet addiction among medical students of Sohag University, Egypt. Journal of Egyptian Public Health Association. 2017;92(2):86-95. doi:10.21608/EPX.2018.8946.
- Chen SH, Weng LJ, Su YJ, Wu HM, Yang PF. Development of a Chinese Internet Addiction Scale and Its Psychometric Study. Chinese Journal of Psychology. 2003;45:279-294.
- Doan LP, Le LK, Nguyen TT, et al. Social Media Addiction among Vietnam Youths: Patterns and Correlated Factors. International Journal of Environmental Research and Public Health. 2022;19(21):14416. doi:10.3390/ijerph192114416
- Gedam SR, Shivji IA, Goyal A, Modi L, Ghosh S. Comparison of internet addiction, pattern and psychopathology between medical and dental students. Asian Journal of Psychiatry. 2016;22:105-110. doi:10.1016/j.ajp.2016.06.007.
- Ko CH, Yen JY, Chen SH, Yang MJ, Lin HC, Yen CF. Proposed diagnostic criteria and the screening and diagnosing tool of Internet addiction in college students. ComprehensivePsychiatry. 2009;50(4):378-384. doi:10.1016/j.comppsych.2007.05.019.
- Kuss DJ, Griffiths MD, Binder JF. Internet addiction in students: Prevalence and risk factors. Computers in Human Behavior. 2013;29(3):959-966. doi:10.1016/j.chb.2012.12.024.
- Langarizadeh M, Naghipour M, Tabatabaei SM, Mirzaei A, Vaghar ME. Prediction of internet addiction based on information literacy among students of Iran University of Medical Sciences. Electron Physician. 2018;10(2):6333-6340. doi:10.19082/6333.
- Lee MB, Liao SC, Lee YJ, et al. Development and verification of validity and reliability of a short screening instrument to identify psychiatric morbidity. J Formos Med Assoc. 2003;102(10).
- Mboya IB, Leyaro BJ, Kongo A, Mkombe C, Kyando E, George J. Internet addiction and associated factors among medical and allied health sciences students in northern Tanzania: a cross-sectional study. BMC Psychol. 2020;8(1):73. doi:10.1186/s40359-020-00439-9.
- Pham Thi Thu Huong. Suicidal tendency, psychological factors, and community integration in Vietnamese patients with refractory depression: a short-term follow-up study. Thesis. 2023. http://tdr.lib.ntu.edu.tw/jspui /handle/123456789/83273
- Radeef AS, Faisal GG. Prevalence of Internet Addiction and its association with depression, anxiety and stress among Medical Students in Malaysia.
- Tahir MJ, Malik NI, Ullah I, et al. Internet addiction and sleep quality among medical students during the COVID-19 pandemic: A multinational cross-sectional survey. Mortazavi F, ed. Plos one. 2021;16(11):e0259594. doi:10.1371/journal.pone.0259594.
- Van Ameringen M, Simpson W, Patterson B, Turna J, Khalesi Z. Internet addiction or psychopathology in disguise? Results from a survey of college-aged internet users. European Neuropsychopharmacology. 2018;28(6):762. doi:10.1016/j.euroneuro.2017.10.003
- Wu CY, Lee MB, Liao SC, Chang LR. Risk Factors of Internet Addiction among Internet Users: An Online Questionnaire Survey. Plos one. 2015;10(10):e0137506. doi:10.1371/journal.pone.0137506
- Wallace P. Internet addiction disorder and youth. EMBO reports. 2014;15(1):12-16. doi:10.1002/embr.201338222
Tin mới
-
Nhân kỷ niệm 53 năm ngày phát hiện Sâm Ngọc Linh (19/3/1973 - 19/3/2026), Trường Đại học Tôn...27/03/2026 15:15
-
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI NGHIỆN INTERNET CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TÓM TẮT Mục tiêu: (i) Mô tả thực trạng nghiện Internet và (ii) phân tích một số yếu...27/03/2026 14:45 -
Architorino tạo ấn tượng tại Triển lãm Quốc tế VIETBUILD Hà Nội lần thứ nhất 2026
Tham gia Triển lãm lần này Công ty TNHH Torino Việt Nam mang đến nững sản phẩm được...27/03/2026 13:09 -
KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐỨC GIANG VỀ PHÒNG NGỪA TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN NĂM 2023
Tình trạng tổn thương do vật sắc nhọn vẫn là nguy cơ đáng lưu ý đối với nhân...27/03/2026 13:13 -
Gần 25.000 ca mắc tay chân miệng, tăng gấp 5 lần: Bộ Y tế chỉ đạo khẩn
Bộ Y tế sáng 27/3 cho biết, theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, gần 3 tháng...27/03/2026 09:29 -
THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2023
Công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa...27/03/2026 00:40 -
KẾT QUẢ CAN THIỆP GIÀM VIÊM TĨNH MẠCH TRONG CHĂM SÓC CATHETER TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI KHOA THẦN KINH, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
Các biện pháp cải tiến trong chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Khoa Thần kinh, Bệnh...26/03/2026 16:22 -
NĂNG LỰC VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG QUẢN LÝ CỦA ĐIỂU DƯỠNG TRƯỞNG KHOA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2024
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2024 cho thấy phần lớn điều dưỡng trưởng...26/03/2026 15:53 -
Đại hội đại biểu Hội Điều dưỡng tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2030
Ngày 26-3, Hội Điều dưỡng tỉnh Khánh Hòa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm...26/03/2026 14:55 -
Giao tiếp điều dưỡng - Nghệ thuật “chạm” đến trái tim người bệnh
Trong mọi bệnh viện, nơi nhịp tim, hơi thở và từng tia hy vọng được đặt cược mỗi...26/03/2026 13:29 -
Tiêu chuẩn bác sĩ tuyến cuối từ thực tế tuyển dụng chuyên ngành đặc thù
Kết quả tuyển dụng tại BV Bệnh Nhiệt đới TP.HCM vừa qua cho thấy sự kiên định về...26/03/2026 13:30 -
Thực trạng thiểu cơ của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại Trung tâm Phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025
Tình trạng thiểu cơ ở người bệnh tim mạch trước phẫu thuật đang là yếu tố nguy cơ...25/03/2026 18:30 -
Điều dưỡng khoa Nhi: Những “bản lĩnh thép” phía sau tâm hồn dịu dàng
Trong hệ thống y tế, điều dưỡng khoa Nhi giữ một vai trò đặc biệt không thể thay...25/03/2026 11:24 -
Ca tay chân miệng ở TPHCM tăng gần gấp đôi, 2 trường hợp tử vong trong tuần
Số ca mắc tay chân miệng tại TPHCM tăng mạnh, vượt ngưỡng cảnh báo. Thành phố ghi nhận...25/03/2026 08:36














