KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐỨC GIANG VỀ PHÒNG NGỪA TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN NĂM 2023

Tình trạng tổn thương do vật sắc nhọn vẫn là nguy cơ đáng lưu ý đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, với tỷ lệ ghi nhận 16,8%. Nghiên cứu cho thấy mặc dù đa số nhân viên có kiến thức và thái độ tích cực về phòng ngừa, song kiến thức chưa đầy đủ vẫn làm gia tăng nguy cơ mắc, trong khi thái độ không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Kết quả nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc nâng cao kiến thức thông qua đào tạo và tập huấn định kỳ nhằm giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp cho nhân viên y tế.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả kiến thức và thái độ của nhân viên y tế (NVYT) tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (TTDVSN) và phân tích mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với tỷ lệ mắc TTDVSN.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 416 NVYT từtháng 3/2023 đến tháng 11/2024. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi tự điền và phân tích bằng phần mểm SPSS 20.0. Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan đến TTDVSN.

Kết quả: Tỷ lệ NVYT từng bị TTDVSN là 16,8%. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đạt là 70,0% và thái độ tích cực là 63,9%. NVYT có kiến thức không đạt có nguy cơ mắc TTDVSN cao hơn so với nhóm có kiến thức đạt (OR = 1,59; 95% CI: 1,03 - 2,71; p < 0,05). Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thái độ và tỷ lệ mắc TTDVSN (OR = 1,32; 95% Cl: 0,78 -2,22; p > 0,05).

Kết luận: Kiến thức đẩy đủ giúp giảm nguy cơ mắc TTDVSN.Việc tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn định kỳ là cần thiết để nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng ngừa cho NVYT.

Từ khóa: Kiến thức, thái độ, tổn thương do vật sắc nhọn, phòng ngừa, nhân viên y tế, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang.

ABSTRACT

Objectives: To describe the knowledge and attitudes of healthcare workers (HCWs) at Duc Giang General Hospital regarding the prevention of sharp object injuries (SOls) and analyze the relationship between knowledge, attitudes, and the incidence of SOls.

Methods: A cross-sectional study was conducted on 416 HCWs from March 2023 to November 2024. Data were collected using self-administered questionnaires and analyzed using SPSS 20.0. Logistic regression analysis was applied to identify factors associated with SOls.

Results: The incidence of SOls among HCWs was 16.8%. The proportion of HCWs with adequate knowledge was 70.0%, and 63.9% had positive attitudes. HCWs with inadequate knowledge had a significantly higher risk of SOls compared to those with adequate knowledge (OR = 1.59; 95% C: 1.03 -2.71; p < 0.05). No statistically significant association was observed between attitudes and the incidence of SOIs (OR = 1.32; 95% CI: 0.78- 2.22; p > 0.05).

Conclusions: Adequate knowledge reduces the risk of SOIs. Regular training programs are essential to improve HCWs'awareness and preventive practices.

Keywords: Knowledge, attitudes, sharp object injuries, prevention, healthcare workers, Duc Giang General Hospital.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tồn thương do vật sắc nhọn là một trong những rủi ro nghề nghiệp phổ biến nhất đối với NVYT, đặc biệt là điều dưởng, hộ sinh và kỹ thuật viên y. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có hơn hai triệu NVYT trên toàn cầu bị phơi nhiễm nghề nghiệp do TTDVSN trong tổng số 35 triệu NVYT [9]. Tại Hoa Kỳ, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) ghi nhận hơn 385.000 trường hợp TTDVSN mỗi năm [6].

TTDVSN không chỉ gây tổn thương thể chất mà còn làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm qua đường máu như viêm gan B, viêm gan C và HIV/AIDS. Hậu quả của TTDVSN ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần và thể chất của NVYT, đồng thời làm suy giảm hiệu quả công việc tại các cơ sở y tế.

Các nghiên cứu cho thấy NVYT có kiến thức hạn chế về phòng ngừa TTDVSN và có thái độ chưa tích cực trong tuân thủ các biện pháp an toàn có nguy cơ cao hơn [7]. Do đó, việc nâng cao kiến thức và thái độ phòng ngừa của NVYT đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tỷ lệ TTDVSN và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, với quy mô 660 giường bệnh và hơn 990 NVYT, là một trong những cơ sở y tế hạng I trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Do đặc thù công việc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và các dụng cụ sắc nhọn, NVYT tại đây đối mặt với nguy cơ cao bị TTDVSN.Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá cụ thể về kiến thức và thái độ của NVYT đối với việc phòng ngừa TTDVSN. Nghiên cứu này được thực hiện với hai muc tiêu:

1. Mô tả kiến thức và thái độ về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2023.

2. Xác định các yếu tố liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn trong nhóm NVYT này. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học giúp xây dựng các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức, từ đó giảm thiều nguy cơ TTDVSN và đảm bảo an toàn nghề nghiệp cho NVYT.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá mức độ kiến thức và thái độ của nhân viên y tế (NVYT) đối với việc phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (TTDVSN) và xác định các yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc TTDVSN.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

  • NVYT (điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y) đang làm việc tại 25 khoa lâm sàng và 6 khoa cận lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang tại thời điểm thu thập số liệu.
  • Có thời gian công tác từ 12 tháng trở lên.
  • Đồng ý tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • NVYT đang trong thời gian nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ không lương hoặc đi học dài hạn tại thời điểm thu thập số liệu.  
  • NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.3.Thời gian và địa điểm nghiền cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2024.

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

• Cỡ mẫu được tính theo công thức nghiên cứu một tỷ lệ

Trong đó:

• n là cỡ mẫu cần thiết.

• Z = 1,96 (với mức ý nghĩa thống kê 95%).

•p là tỷ lệ NVYT có kiến thức đạtvề phòng ngừa TTDVSN (ước tính từ nghiên cứu trước, khoảng 70%).

• d là sai số chấp nhận (5%).

Sau khi tính toán và dự phòng 10% tỷ lệ không hoàn thành khảo sát, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 400 NVYT. Trong nghiên cứu này, 416 NVYT đã tham gia.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ NVYT đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn tham gia vào nghiên cứu.

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

• Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền, gồm 3 phần:

1. Thông tin chung: Giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, thời gian công tác, tiển sử tiêm phòng viêm gan B.

2. Kiến thức về phòng ngừa và xử trí TTDVSN: Gồm 10 câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm tối đa là 10. NVYT có tổng điểm ≥ 8 được coi là có kiến thức đạt, dưới 8 điểm là không đạt.

3. Thái độ đối với phòng ngừa TTDVSN: Được đánh giá qua 7 câu hỏi theo thang điểm Likert 5 mức. Tổng điểm tối đa là 35, trong đó NVYT có tổng điểm ≥ 28 được coi là có thái độ tích cực, dưới 28 điểm là chưa tích cực.

2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

• Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.

• Sử dụng thống kê mô tả (tần suất, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn) để phân tích đặc điểm mẫu nghiền cứu.

• Kiểm định Chi bình phương (x²) được sử dụng đề so sánh tỷ lệ giữa các nhóm.

• Phân tích hồi quy logistic đơn biến được áp dụng để xác định các yếu tố liên quan đến nguy cơ bị TTDVSN, tính toán OR (Odds Ratio) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).

• Mức ý nghĩa thống kê được xác định tại p < 0,05.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi tiến hành thu thập số liệu, đã có 416 NVYT tham gia nghiên của chúng tôi và tỷ lệ tham gia nghiên cứu là 95,86% (416/434).n=Z2 (1-a/2) xp(1-p)/d2

Bảng 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=416)

Đặc điểm

Phân loại

Số lượng (N)

Tỷ lệ (%)

Giới tính

Nam

103

24,8

 

Nữ

313

75,2

Nhóm tuổi

20 – 29 tuổi

82

19,7

 

30 – 39 tuổi

244

58,7

 

40 – 49 tuổi

87

20,9

 

≥ 50 tuổi

3

0,7

Tuổi trung bình ± ĐLC

34,5 ± 5,6

 

 

Nghề nghiệp

Điều dưỡng

334

80,3

 

Hộ sinh

31

7,5

 

Kỹ thuật viên

51

12,3

Trình độ học vấn

Đại học – Sau ĐH

105

25,3

 

Cao đẳng

304

73,1

 

Trung cấp

7

1,7

Thời gian công tác

< 05 năm

19

4,6

 

5 – < 10 năm

173

41,6

 

10 – < 15 năm

125

30,0

 

≥ 15 năm

99

23,8

Tiêm phòng viêm gan B

Đã tiêm

220

52,9

 

Tiêm chưa đủ mũi

94

22,6

 

Chưa tiêm

102

24,5

Trong tổng số416 người tham gia trả lời phiếu khảo sát, NVYT nữ chiếm tỷ lệ 75,2% (n=313), độ tuổi trung bình của NVYT là 34,5 ± 5,66.Tỷ lệ NVYT là điều dưỡng chiếm tỷ lệ đông nhất 80,3% (n=334), tiếp theo là kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ 12,3% (n=51) và thấp nhất là hộ sinh 7,5% (n=31). Đa phần là NVYT có trình độ cao đẳng (73,1%), có thời gian công tác từ 5 năm đến dưới 10 năm (41,6%).

Biểu đồ1. Tỷ lệ tổn thương do vật sắc nhọn ở NVYT

Khảo sát trên 416 NVYT được hỏi cho thấy NVYT trả lời đã từng gặp TTDVSN trong năm 2023 là 70 người chiểm tỷ lệ là 16,8%.

Bảng 2. Tỷ lệ tổn thương do vật sắc nhọn ở NVYT theo nghề nghiệp (n=70)

Đặc điểm nghề nghiệp

TTDVSN Có N (%)

TTDVSN Không N (%)

Điều dưỡng

60 (18,0)

274 (82,0)

Hộ sinh

4 (12,9)

27 (87,1)

Kỹ thuật viên

6 (11,8)

45 (88,2)

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều dưỡng là nhóm nghể nghiệp có tỷ lệ TTDVSN cao nhất (18,0%), ở hộ sinh là 12,9% và kỹ thuật viên là 11,8%.

Bảng 3. Kiến thức chung về tổn thương do vật sắcnhọn (n=416)

 

Kiến thức chung về tổn thương do vật sắc nhọn

Trả lời đúng

 

Số lượng (N)

Tỷ lệ (%)

Bệnh lây truyền qua đường máu khi bị TTDVSN

313

75,2

Tiêm an toàn

243

58,4

Dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn

409

98,3

Dự phòng ngừa chuẩn

410

98,6

Đậy nắp kim tiêm

223

53,6

Xử lý kim tiêm sau sử dụng

404

97,1

Quy định về mức chứa tối đa của thùng đựng vật sắc nhọn

341

82,0

Xử trí vết thương do VSN

272

65,4

Báo cáo sau khi bị tổn thương

372

89,4

Điều trị dự phòng

374

89,9

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NVYT trả lời đúng cao nhất thuộc về nhóm kiến thức: phòng ngừa chuẩn (98,6%), dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn (98,3%), xử lý kim tiêm (97,1%). Tỷ lệ NVYT trả lời đúng thấp nhất thuộc về nhóm kiến thức: xử trí vết thương do VSN (65,4%), định nghĩa về tiêm an toàn (58,4%) và đậy nắp kim tiêm (53,6%).

Bảng 4. Phân bốđiểm trung bình kiến thứcvề TTDVSN (n=416)

Tổng điểm kiến thức (10 điểm)

Số lượng (N)

Tỷ lệ (%)

≤ 5 điểm

16

3,8

> 5- < 8 điểm

109

26,2

≥ 8 điểm

291

70

Điểm trung bình và độ lệch chuẩn

8,08±1,32; Min:4; Max: 10

Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy NVYT có điểm kiến thức ≥ 8 điểm chiếm tỷ lệ cao nhất là 70,0%; NVYT có điểm kiến thức ≤ 5 điểm chiếm tỷ lệ rất thấp là 3,8%. Điểm trung bình kiến thức của NVYT là 8,08 ± 1,32 dao động từ 4– 10 điểm.

Bảng 5. Thái độ của NVYT vềtổn thương do vật sắc nhọn (n=416)

TT

Nội dung thăm dò

Tiêu cực (%)

Trung tính (%)

Tích cực (%)

1

Cần phải tiêm phòng vắc xin Viêm gan B để phòng bệnh

1,2

0,2

98,6

2

Cảm thấy lo lắng về tổn thương do vật sắc nhọn

4,5

1,2

94,3

3

Tổn thương do vật sắc nhọn là có thể phòng ngừa được

4,3

1,9

93,8

4

Cần tập trung hơn khi chăm sóc bệnh nhân

1,9

1,2

96,9

5

Tổn thương do vật sắc nhọn là việc không đáng quan ngại

13,0

5,0

82,0

6

Tất cả tổn thương do vật sắc nhọn phải được báo cáo ngay lập tức

4,1

4,1

91,9

7

TTDVSN có thể bị lãng quên

43,8

3,8

52,4

Qua bảng 5 thống kê chúng tôi nhận thấy tỷ lệ NVYT có thái độ tích cực cao nhất thuộc về thái độ đối với tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B là 98,2% và thái độ đối với việc cần tập trung khi làm việc là 96,9%.

Tỷ lệ NVYT có thái độ tích cực thấp nhất thuộc về nhóm thái độ đối với việc TTDVSN có thể bị lãng quên 52,4%.

Bảng 6. Phân bố điểm trung bình thái độ về TTDVSN (n=416)

Tổng điểm thái độ (35 điểm)

Số lượng (N)

Tỷ lệ (%)

Thái độ tích cực ($\ge$ 28 điểm)

266

63,9

Thái độ chưa tích cực (< 28 điểm)

150

36,1

Điểm trung bình và độ lệch chuẩn

28,7±3,4; Range: 11-35

Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy NVYT có thái độ tích cực (≥ 28 điểm) chiếm tỷ lệ là 63,9%; NVYT có thái độ chưa tích cực (< 28 điểm) chiếm tỷ lệ là 36,1%. Điểm trung bình thái độ của NVYT là 28,7 ± 3,4 dao động từ 11 - 35 điểm.

Bảng 7. Mối liên quan giữa thái độ và TTDVSN (n=416)

Các đặc điểm

Phân loại

Có n (%)

Không n (%)

OR

95% CI

Thái độ đối với TTDVSN

Tích cực

41 (15,4)

225 (84,6)

1

 

 

Chưa tích cực

29 (19,3)

121 (80,7)

1,32

0,78 – 2,22

Nhận xét: Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thái độ đối với TTDVSN và TTDVSN (OR = 1,32; 95% C: 0,78-2,22).

Bảng 8. Mối liên quan giữa kiến thức và TTDVSN (n=416)

Các đặc điểm

Phân loại

Có n (%)

Không n (%)

OR

95% CI

Thái độ đối với TTDVSN

Tích cực

41 (15,4)

225 (84,6)

1

 

Chưa tích cực

29 (19,3)

121 (80,7)

1,32

0,78 – 2,22

Có mối liên quan giữa kiến thức và nguy cơ bị TTDVSN, cụ thể, nhóm NVYT có kiến thức không đạt (< 8 điểm) có nguy cơ bị TTDVSN cao hơn so với nhóm có kiến thức đạt (≥ 8 điểm) (OR = 1,59; 95% CI: 1,03- 2,71).

4. BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, nữ giới chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số nhân viên y tế (NVYT) tham gia (75,2%), với độ tuổi trung bình là 34,5 tuổi. Nhóm NVỴT trẻ (30 - 39 tuổi) chiếm đa số (58,7%). Điều dưỡng là nhóm nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (80,3%), tiếp theo là kỹ thuật viên (12,3%) và hộ sinh (7,5%).Trình độ chuyên môn của NVYT chủ yếu là cao đẳng (73,1%).

Về kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (TTDVSN), 75,2% NVYT trong nghiên cứu trả lời đúng về các bệnh lây truyền qua đường máu khi bị TTDVSN. T lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Hoàng Trung Tiến (2019) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng (51,9%) và nghiên cứu của Lê Hải Yến (2019) tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên (70,4%) [5]. Việc hiểu rõ mức độ nguy hiểm của TTDVSN và các bệnh lây truyền có thể giúp NVYT thực hiện tốt hơn các biện pháp phòng ngừa, từ đó giảm nguy cơ lây nhiễm.

Tuy nhiên, kiến thức về xử trí vết thương do vật sắc nhọn còn hạn chế. Trong nghiên cứu này, 65,4% NVYT có kiến thức đúng về xử trí vết thương, thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Hải Yến (2019) tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên (75,9%) và nghiên cứu của Nguyễn Thị Son (2022) tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương (76,2%) [3,4]. Điều này cho thấy cần tăng cường hơn nữa việc đào tạo vềquy trình xửtrí sau khi bị TTDVSN nhằm nâng cao nhận thức và thực hành an toàn cho NVYT.

Đánh giá chung về kiến thức, 70,0% NVYT trong nghiên cứu đạt điểm kiến thức ≥ 8 điểm, cao hơn mức trung bình trong một số nghiên cứu trước đây, nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Trung Tiến (2019) (80,5%) và Lê Thanh Mộng (2021) (82,7%) [5]. Kết quả này cho thấy vẫn còn một tỷ lệ đáng kể NVYT có kiến thức chưa đẩy đủ, làm tăng nguy cơ bị TTDVSN trong thực hành lâm sàng.

Về thái độ, hầu hết NVYT có thái độ tích cực đối với phòng ngừa TTDVSN. Tỷ lệ NVYT đồng ý rằng cần phải tiêm phòng vắc xin viêm gan B để phòng bệnh đạt 98,6%, tương tự với nghiên cứu của Mohammed và cộng sự (2018) tại Nigeria (92%) và nghiên cứu của Trần Đình Bình (2020) tai Bênh viên Đại học Y Dược Huế (99,4%) [8,1]. Ngoài ra, 91,9% NVYT cho rằng mọi tồn thương do vật sắc nhọn cần được báo cáo ngay lập tức, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Son (2022) tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương (76,2%) [4]. Thái độ tích cực là yếu tố quan trọng giúp NVYT chủ động trong phòng ngừa và xử trí TTDVSN, từ đó giảm thiều nguy cơ lây nhiễm.

Tuy nhiên, khi phân tích mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và tỷ lệ bị TTDVSN, nghiên cứu cho thấy nhóm NVYT có kiến thức không đạt có nguy cơ bị TTDVSN cao hơn so với nhóm có kiến thức đạt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR = 1,59; 95% Cl: 1,03 - 2,71; р < 0,05). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Hải Yến (2019), trong đó NVYT có kiến thức không đạt có nguy cơ bị TTDVSN cao gấp 2,8 lần so với nhóm có kiến thức đạt [3]. Điều này khẳng định rằng nâng cao kiến thức có vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ bị TTDVSN.

Trong khi đó, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thái độ và tỷ lệ bị TTDVSN (OR = 1,32; 95% Cl: 0,78-2,22; p > 0,05). Kết quả này khác biệt so với một số nghiên cứu trước đó cho thấy thái độ chưa tích cực có thể làm tăng nguy cơ TTDVSN [3]. Điều này có thể do các yếu tố khác như môi trường làm việc, mức độ tuân thủ quy trình an toàn và chính sách báo cáo sự cố tại bệnh viện ảnh hưởng đến nguy cơ TTDVSN nhiều hơn là yếu tố thái đô đơn thuần. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức và đào tạo định kỳ cho NVYT về phòng ngừa TTDVSN. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng các chương trình can thiệp nhằm cải thiện an toàn nghề nghiệp trong bệnh viện.

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NVYT bị TTDVSN tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang là 16,8%. Phần lớn NVYT có kiến thức đạt (70,0%) và thái độ tích cực (63,9%) trong phòng ngừa TTDVSN. Nhóm NVYT có kiến thức không đạt có nguy cơ mắc TTDVSN cao hơn đáng kể so với nhóm có kiến thức đạt, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về các biện pháp phòng ngừa. Tuy nhiên, không tìm thấy mỗi liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thái độ và tỷ lệ mắc TTDVSN, điều này gợi ý rằng thái độ tích cực không hoàn toàn đảm bảo việc thực hiện tốt các biện pháp an toàn.

Để nâng cao an toàn nghế nghiệp cần: (i) Tăng cường tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn định kỳ nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng ngừa TTDVSN cho NVYT; (ii) Thực hiện các biện pháp giám sát và đánh giá việc tuân thủ quy trình phòng ngừa TTDVSN; (ii) Khuyến khích báo cáo sự cố và xây dựng môi trường làm việc an toàn đề giảm thiều nguy cơ tốn thương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Đình Bình, Trần Doãn Hiếu, Nguyễn Viêt Tứ, etc (2020), Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế đối với sự phơi nhiễm, lây nhiễm với máu và dịch tiết từ bênh nhân tai Bênh viện Đại học Y Dược Huế. Tạp Chí Dược Lâm Sàng 108,15(7):161-169.

2. Lê Thanh Mộng, Lý Thị Ngọc Yến, Lưu Mỹ Ngọc Phương (2022). Kiến thức về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyển của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng năm 2021.Tạp Chí Khoa Học Điều Dưỡng. 38:9-14.

3. Nguyễn Đức Quế, Lê Hải Yến (2021). Kiến thức phòng chống tổn thương do vật sắc nhọn ở điều dưỡng, hộ sinh tại 7 khoa lâm sàng Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên. Tạp Chí Khoa Học Và Công Nghệ Đại Học Thái Nguyên. 226(05):208-213.

4. Nguyễn Thị Son và cộng sự (2023). Kiến thức, thái độ về xử trí tổn thương do vật sắc nhọn của nhân viên y t tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2022. Tạp Chí Học Cộng Đồng Việt Nam. 64(6):145-150

5. Hoàng Trung Tiến, Đỗ Minh Sinh (2019). Kiến thức và thực hànhdự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019. Tạp Chí Khoa Học Điều Dưỡng. 2(3).

6. Centers for Disease Control and Prevention (2019). STOP STICKS CAMPA IGN-Sharps Injuries.

7. Gaudel N.G, Neupane T.G (2023). Needle Stick Injury among Nurses and Prevention Strategies: A Literature Review. Laurea Univ Appl Sci.

8. Mohammed P et al (2018). Knowledge, attitude, self-efficacy and practice of standard precaution measures by nursing and midwifery students in Damaturu, North-Eastern Nigeria. Int J Adv Community Med. 1(2):41-46.

9. World Health Organization (2019). Needlestick Injuries.

 

HOÀNG THỊ THỦY DƯƠNG, PHẠM QUỐC TUẢN, NGÔ THỊ HIẾU MINH

 


Tin mới