Vì sao nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không muốn gắn bó với nghề điều dưỡng?

Mặc dù nhu cầu tuyển dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh luôn ở mức cao, nhưng vẫn có không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa tìm được việc làm phù hợp hoặc không tiếp tục gắn bó với nghề.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt khoảng 25 điều dưỡng trên 1 vạn dân và đến năm 2030 đạt khoảng 33 điều dưỡng trên 1 vạn dân.

Tuy nhiên, theo thống kê hiện nay, cả nước mới có khoảng 150.000 điều dưỡng đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và tư nhân. Nếu chỉ tính lực lượng điều dưỡng trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh, mật độ điều dưỡng mới đạt khoảng 14-15 người/1 vạn dân, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu đề ra. [1]

Thực trạng này đặt ra bài toán cấp thiết về đào tạo, tuyển dụng và giữ chân đội ngũ điều dưỡng, nhất là trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi và áp lực lên hệ thống y tế ngày càng lớn.

Bất cập trong việc thu hút, sử dụng và giữ chân nhân lực

Theo Tiến sĩ Phan Thị Hồng Nhung - Phụ trách Khoa Y Dược, Trường Đại học Tân Trào, tình trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng hiện nay cần được nhìn nhận như một vấn đề mang tính hệ thống, không chỉ liên quan đến công tác tuyển sinh, đào tạo mà còn gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực, chính sách tuyển dụng, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Hiện nay, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của xã hội đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của già hóa dân số, sự gia tăng các bệnh mạn tính và nhu cầu chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, chăm sóc tại cộng đồng. Điều này khiến khối lượng công việc của điều dưỡng ngày càng lớn và phức tạp hơn. Trong khi đó, tỷ lệ điều dưỡng trên dân số hiện vẫn còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu đề ra, tạo áp lực nhân lực tại nhiều cơ sở y tế, đặc biệt ở tuyến cơ sở, vùng khó khăn và các đơn vị có cường độ chăm sóc cao.

Theo cô Nhung, yêu cầu đối với nghề điều dưỡng hiện nay cũng cao hơn nhiều so với trước đây. Điều dưỡng không chỉ thực hiện các kỹ thuật chăm sóc mà còn tham gia theo dõi, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường của người bệnh, hướng dẫn người bệnh và gia đình trong quá trình điều trị, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn người bệnh. Trong bối cảnh y học hiện đại, điều dưỡng được xem là một nghề chuyên môn với tính độc lập tương đối, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, kỹ năng thực hành, năng lực giao tiếp, đạo đức nghề nghiệp và khả năng xử lý tình huống.

Tuy nhiên, công việc của điều dưỡng thường gắn với áp lực trực ca, trực đêm, cường độ làm việc cao và nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp. Trong khi đó, thu nhập, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ tại nhiều nơi vẫn chưa thực sự tương xứng với trách nhiệm và áp lực thực tế. Đây là một trong những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển nguồn nhân lực y tế thời gian tới.

z7873605682268-72b80830f8abf90097082ef4a09d036b.jpg

Trong bối cảnh y học hiện đại, điều dưỡng được xem là một nghề chuyên môn với tính độc lập tương đối. Ảnh minh họa: Trường Đại học Tân Trào.

Trong khi đó, theo cô Nguyễn Thị Kim Ngọc - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, thực trạng nhân lực điều dưỡng hiện nay đang tồn tại một nghịch lý đáng suy ngẫm. Mặc dù cả nước có mấy chục cơ sở đào tạo ngành Điều dưỡng, nhu cầu tuyển dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh luôn ở mức cao, đặc biệt tại tuyến y tế cơ sở và các địa phương còn khó khăn, nhưng vẫn có không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa tìm được việc làm phù hợp hoặc không tiếp tục gắn bó với nghề.

Theo cô Ngọc, điều này cho thấy bài toán nhân lực điều dưỡng không đơn thuần nằm ở số lượng người được đào tạo. Thực tế đang đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại sự kết nối giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động, giữa kỳ vọng nghề nghiệp của người học với điều kiện làm việc thực tế tại các cơ sở y tế.

"Chúng ta đang chứng kiến tình trạng cơ sở y tế thiếu điều dưỡng, nhưng một bộ phận sinh viên tốt nghiệp lại không lựa chọn làm nghề hoặc rời bỏ nghề sau một thời gian ngắn. Đây là dấu hiệu cho thấy những bất cập trong việc thu hút, sử dụng và giữ chân nhân lực điều dưỡng cần được đánh giá đầy đủ", cô Ngọc nhận định.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia phát triển như Nhật Bản, Đức đang gia tăng nhu cầu tuyển dụng điều dưỡng, nhân lực điều dưỡng Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội làm việc ở môi trường quốc tế với mức thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn hơn trong nước. Thế nhưng, theo cô Ngọc, xu hướng dịch chuyển nhân lực này cũng đặt ra những lo ngại nhất định đối với hệ thống y tế trong nước, nhất là khi Việt Nam vẫn đang thiếu hụt số lượng lớn điều dưỡng so với nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng của người dân.

Trên thực tế, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến điều dưỡng lựa chọn làm việc ở nước ngoài xuất phát từ sự chênh lệch đáng kể về thu nhập, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Do đó, nếu muốn giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao, cần có những chính sách đủ sức cạnh tranh, trong đó việc cải thiện thu nhập và nâng cao vị thế nghề nghiệp của điều dưỡng đóng vai trò then chốt.

"Tuyển sinh đầu vào rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là đầu ra của người học. Khi người lao động nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp ổn định, mức thu nhập tương xứng với công sức và trách nhiệm nghề nghiệp, họ sẽ có động lực gắn bó lâu dài với hệ thống y tế trong nước", cô Ngọc cho hay.

655636977-1467349192041563-6176042579993687751-n.jpg

Mặc dù cả nước có hàng chục cơ sở đào tạo ngành Điều dưỡng, song hệ thống y tế vẫn thiếu lực lượng này. Ảnh minh họa: Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp

Thách thức từ cuộc cạnh tranh nhân lực toàn cầu

Xu hướng điều dưỡng viên Việt Nam lựa chọn làm việc tại một số quốc gia phát triển là xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế và dịch chuyển lao động toàn cầu. Đối với người học và người lao động, đây không chỉ là cơ hội cải thiện thu nhập mà còn giúp nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong làm việc chuyên nghiệp và tích lũy kinh nghiệm trong môi trường y tế hiện đại.

Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang thiếu hụt số lượng lớn điều dưỡng, xu hướng này cũng đặt ra nhiều áp lực đối với hệ thống y tế trong nước.

Theo Tiến sĩ Phan Thị Hồng Nhung, khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng, việc một bộ phận điều dưỡng có năng lực lựa chọn làm việc lâu dài ở nước ngoài có thể khiến tình trạng thiếu nhân lực trở nên nghiêm trọng hơn, đặc biệt tại tuyến cơ sở, vùng khó khăn và các chuyên khoa có cường độ chăm sóc cao.

Dù vậy, không nên nhìn nhận xu hướng làm việc ở nước ngoài chỉ dưới góc độ "chảy máu" nhân lực. Nếu được định hướng phù hợp, đây cũng là động lực để các cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn hội nhập quốc tế. Theo cô Nhung, chương trình đào tạo ngành Điều dưỡng cần tiếp tục được cập nhật theo hướng chuẩn năng lực, tăng cường thực hành lâm sàng, chú trọng ngoại ngữ chuyên ngành, kỹ năng giao tiếp, kỷ luật nghề nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa dạng.

Bên cạnh nâng cao chất lượng đào tạo, việc giữ chân nhân lực điều dưỡng trong nước cần được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Theo đó, vấn đề thu nhập, phụ cấp nghề nghiệp, điều kiện làm việc, cơ hội phát triển chuyên môn và sự ghi nhận của xã hội đối với nghề điều dưỡng là những yếu tố có tác động trực tiếp đến quyết định gắn bó lâu dài của người lao động. Khi người điều dưỡng được bảo đảm môi trường làm việc ổn định, có cơ hội phát triển nghề nghiệp và mức đãi ngộ tương xứng, hệ thống y tế trong nước sẽ có thêm điều kiện để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

Để giải quyết tình trạng thiếu hụt điều dưỡng, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Nhung cho rằng cần có giải pháp đồng bộ từ tuyển sinh, đào tạo đến sử dụng và đãi ngộ nhân lực. Nếu chỉ tăng quy mô tuyển sinh mà không nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện môi trường làm việc và chính sách giữ chân người lao động thì khó tạo ra chuyển biến bền vững.

Trước hết, cần truyền thông đầy đủ hơn về vai trò và giá trị của nghề điều dưỡng để người học và xã hội có nhận thức đúng đắn. Khi người học lựa chọn ngành nghề trên cơ sở hiểu đúng về nghề, khả năng gắn bó lâu dài cũng sẽ cao hơn.

Ở khâu đào tạo, các cơ sở giáo dục cần tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng phát triển năng lực, tăng cường thực hành lâm sàng, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của hệ thống y tế. Đồng thời, cần đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường với bệnh viện, cơ sở y tế và đơn vị sử dụng lao động nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực hành nghề nghiệp.

Về chính sách, bên cạnh các giải pháp hỗ trợ người học như học bổng, miễn giảm học phí hay đặt hàng đào tạo đối với những địa bàn còn thiếu nhân lực, điều quan trọng hơn là cải thiện thu nhập, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho điều dưỡng viên sau khi tốt nghiệp.

“Muốn thu hút người học vào ngành Điều dưỡng cần giúp xã hội hiểu đúng giá trị của nghề. Muốn nâng cao chất lượng nhân lực cần đào tạo thực chất, gắn với thực hành, và muốn giữ chân điều dưỡng viên thì phải có chính sách đãi ngộ, sử dụng và phát triển nghề nghiệp tương xứng”, cô Nhung nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương - Trưởng khoa Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y khoa Vinh cũng cho rằng, Việt Nam đang thiếu hụt nhân lực điều dưỡng ở mức đáng lo ngại, đặc biệt tại các bệnh viện công. So với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tỷ lệ điều dưỡng trên bác sĩ của Việt Nam vẫn ở mức thấp.

Theo thầy Dưỡng, để thu hút người học theo đuổi ngành Điều dưỡng cần có chiến lược dài hạn. Đây là lĩnh vực có đặc thù công việc vất vả, áp lực lớn nhưng thu nhập còn khiêm tốn. Bên cạnh đó, nhận thức của xã hội về vai trò của điều dưỡng vẫn chưa đầy đủ, khiến vị thế nghề nghiệp chưa được đánh giá đúng trong hệ thống y tế.

Chưa kể, trong bối cảnh nhiều ngành nghề mới xuất hiện với cơ hội việc làm và thu nhập hấp dẫn hơn, sức hút của ngành Điều dưỡng đối với người trẻ ngày càng giảm.

Đề cập đến xu hướng nhiều quốc gia sẵn sàng đưa ra mức lương và chế độ đãi ngộ hấp dẫn để tuyển dụng điều dưỡng Việt Nam, thầy Dương nhận định điều này sẽ tác động không nhỏ đến nguồn nhân lực trong nước. Thực tế, tỷ lệ sinh viên điều dưỡng sau tốt nghiệp lựa chọn làm việc tại các nước phát triển chiếm một tỷ lệ đáng kể. Trong khi đó, nguồn tuyển sinh trong nước đang có dấu hiệu suy giảm, cùng với việc hình ảnh nghề nghiệp, chế độ đãi ngộ và sự ghi nhận dành cho điều dưỡng chưa tương xứng, càng làm giảm sức hấp dẫn của ngành.

mg-0965.jpg

Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương - Trưởng khoa Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y khoa Vinh. Ảnh: website nhà trường.

Để nâng cao sức hút của ngành Điều dưỡng và giữ chân đội ngũ nhân lực sau đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương cho rằng cần có những chính sách đồng bộ từ khâu đào tạo đến sử dụng lao động. Trước hết, các cơ sở y tế cần bố trí, sử dụng điều dưỡng đúng với vị trí, năng lực và phạm vi chuyên môn được đào tạo, qua đó phát huy đầy đủ vai trò của lực lượng này trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Song song với đó, cần tăng cường các hoạt động tôn vinh, ghi nhận đóng góp của điều dưỡng, góp phần nâng cao vị thế nghề nghiệp và thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò quan trọng của ngành.

Theo thầy Dương, một trong những nguyên nhân khiến nhiều người trẻ chưa lựa chọn hoặc không gắn bó lâu dài với nghề điều dưỡng là thu nhập và chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với khối lượng công việc cũng như áp lực nghề nghiệp. Vì vậy, việc cải thiện chính sách tiền lương, phụ cấp nghề nghiệp, chế độ phúc lợi, bảo đảm môi trường làm việc an toàn, giảm áp lực quá tải là những giải pháp cần được quan tâm.

“Khi điều dưỡng được bảo đảm đời sống và có cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng, họ sẽ yên tâm gắn bó lâu dài với ngành”, thầy nhấn mạnh.

Bên cạnh các chính sách dành cho người đang hành nghề, thầy Dương cũng cho rằng cần có cơ chế hỗ trợ ngay từ khâu tuyển sinh và đào tạo để tăng sức hấp dẫn của ngành. Nhà nước, địa phương hoặc các cơ sở y tế có thể nghiên cứu triển khai các chương trình học bổng, hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho sinh viên theo học Điều dưỡng.

Đồng thời mở rộng mô hình đào tạo theo địa chỉ sử dụng, trong đó đơn vị tuyển dụng tham gia đặt hàng đào tạo và cam kết tiếp nhận sinh viên sau khi tốt nghiệp. Cách làm này không chỉ giúp người học yên tâm về cơ hội việc làm mà còn góp phần giải quyết nhu cầu nhân lực cho các cơ sở y tế, đặc biệt ở những địa phương đang thiếu hụt điều dưỡng.

“Trên thực tế, các chính sách hỗ trợ tuyển sinh hay cam kết việc làm chỉ có thể tạo sức hút ban đầu đối với người học. Để giữ chân nhân lực một cách bền vững, yếu tố cốt lõi vẫn là xây dựng được môi trường làm việc chuyên nghiệp, chế độ đãi ngộ cạnh tranh và lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng. Khi lực lượng điều dưỡng cảm thấy được tôn trọng, được ghi nhận và có thu nhập tương xứng với những đóng góp của mình, ngành Điều dưỡng mới có thể duy trì được nguồn nhân lực ổn định trong bối cảnh cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt, cả trong nước lẫn quốc tế”, Tiến sĩ Dương cho hay.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/pho-cuc-truong-cuc-quan-ly-kham-chua-benh-can-dong-bo-nhieu-giai-phap-de-dat-33-dieu-duongvan-dan-post260275.gd

 

Theo Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam


Tin mới