Đại biểu Quốc hội đề nghị cấm kinh doanh khí N2O (bóng cười) ngoài mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học

Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, chiều 3/8, Quốc hội thảo luận tại Tổ về 03 nội dung: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh tham dự tại Tổ 10, gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La.

Toàn cảnh thảo luận Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La)

Quản lý thương mại điện tử qua biên giới vừa đảm bảo chặt chẽ, đủ linh hoạt thuận lợi cho hoạt động thông quan

Góp ý hoàn thiện Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, đại biểu Hoàng Văn Nghiệm đồng tình với sự cần thiết sửa đổi luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc tái thiết kế quy trình quản lý hải quan và tái cấu trúc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, đảm bảo ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại và tích hợp việc xử lý dữ liệu, ra quyết định phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy cơ quan hải quan các cấp theo hướng tinh gọn và đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả.

Cho ý kiến về một số nội dung cụ thể của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, đại biểu cho rằng, dự thảo Luật đã mở rộng đối tượng người khai hải quan, bổ sung thêm các chủ thể mới như doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính viễn thông quốc tế, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, chủ quản nền tảng thương mại điện tử, người thực hiện dịch vụ quá cảnh, trung chuyển hàng hóa… Tuy nhiên, theo đại biểu, dự thảo mới chỉ bổ sung các chủ thể này về tư cách pháp lý, mà chưa quy định đầy đủ nghĩa vụ của từng đối tượng.

Đại biểu Hoàng Văn Nghiệm - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La phát biểu

Trong khi đó, tại Điều 18 của dự thảo luật đã quy định về quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung đảm bảo tính đồng nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo rà soát, bổ sung các quy định về nghĩa vụ đối với các chủ thể mới để đảm bảo tính đồng bộ, khả thi của dự thảo Luật và nâng cao tính hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan.

Đối với quy định về quản lý tuân thủ, đại biểu cho rằng, để thuận lợi trong quá trình thực hiện, cần nghiên cứu kỹ, bổ sung đánh giá thực tế cơ chế về xây dựng tiêu chí đánh giá quản lý tuân thủ, nhằm tạo thuận lợi về các thủ tục hành chính trong việc thực hiện thủ tục hải quan. Đồng thời, xem xét lược bỏ cụm từ "khuyến khích nâng cao ý thức, năng lực tuân thủ", xem xét bỏ cụm từ "khuyến khích"; nếu sử dụng cụm từ "khuyến khích" đưa vào dự thảo luật dễ dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, cũng như quá trình thực hiện.

Cho ý kiến vào khoản 14 Điều 4 và Điều 16a của dự thảo luật, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình nhất trí với việc bổ sung “doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trừ trường hợp chủ hàng có yêu cầu khác; chủ quản nền tảng thương mại điện tử; người thực hiện dịch vụ quá cảnh, trung chuyển hàng hóa” vào nhóm người khai hải quan và quy định riêng Điều 16a để quản lý loại hình này. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung quy định rõ ràng hơn về phương thức kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa Hệ thống xử lý dữ liệu Hải quan với Hệ thống định danh quốc gia (VNeID), cũng như cơ chế phối hợp với các sàn thương mại điện tử xuyên biên giới không có trụ sở tại Việt Nam. Bởi nếu không có sự ràng buộc kỹ thuật và pháp lý cụ thể, quy định này sẽ rất khó triển khai trong thực tế.

Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu

Đối với quy định kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, khoản 3 Điều 16a quy định tổ chức, cá nhân người Việt Nam khi mua bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải xác thực định danh điện tử theo quy định. Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh đồng tình với nội dung quy định của dự thảo, nhưng đề nghị tiếp tục nghiên cứu theo hướng việc xác thực định danh điện tử được thực hiện một lần đối với mọi tài khoản của tổ chức, cá nhân khi đăng ký hoặc tham gia nền tảng thương mại điện tử; sau khi hoàn thành xác thực, thông tin định danh sẽ được áp dụng thống nhất cho các giao dịch phát sinh trên tài khoản đó và được quản lý theo chủ thể đã được định danh.

Nêu quan điểm về việc bổ sung mới Điều 16a - quy định về Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, đại biểu Trần Thị Hiền - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình tán thành với sự cần thiết phải bổ sung quy định này; đồng thời đề nghị Chính phủ rà soát, có thể bổ sung một số quy định mang tính nguyên tắc ngay trong dự thảo Luật, đồng thời lưu ý xây dựng văn bản quy định chi tiết theo nhiệm vụ được giao.

Đại biểu Trần Thị Hiền – Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu

Đại biểu cho biết, khoản 1 Điều 16a dự thảo luật quy định hàng hóa qua thương mại điện tử phải làm thủ tục hải quan là một nguyên tắc bắt buộc. Tuy nhiên, đặc thù của hàng hóa thương mại điện tử là số lượng đơn kiện rất lớn, nhưng giá trị từng đơn vị nhỏ lẻ và yêu cầu tốc độ luân chuyển nhanh. Nếu áp dụng quy trình kiểm tra, giám sát như hàng hóa xuất nhập khẩu truyền thống sẽ có thể gây ách tắc nghiêm trọng tại cửa khẩu. Do đó, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung nguyên tắc áp dụng phương thức quản lý phù hợp đối với hàng hóa thương mại điện tử có giá trị nhỏ, số lượng giao dịch lớn trên cơ sở quản lý rủi ro và ứng dụng công nghệ thông tin, ví dụ như “thủ tục hải quan điện tử rút gọn”. Quy định theo hướng này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tránh gây ùn tắc trong thông quan và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới.

Tại khoản 2 Điều 16a của dự thảo luật yêu cầu các chủ thể (chủ quản nền tảng, doanh nghiệp vận chuyển) cung cấp thông tin là công cụ cốt lõi để hải quan áp dụng quản lý rủi ro. Cho ý kiến về nội dung này, đại biểu Trần Thị Hiền – Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình đề nghị tiếp tục làm rõ trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý đối với các nền tảng thương mại điện tử nước ngoài không có hiện diện thương mại (không có pháp nhân) tại Việt Nam nếu họ từ chối cung cấp dữ liệu. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc về việc cơ quan hải quan có trách nhiệm bảo mật dữ liệu thông tin cá nhân của người tiêu dùng được các nền tảng chia sẻ, nhằm bảo đảm đồng bộ với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 16a quy định việc bắt buộc "xác thực định danh điện tử", đại biểu cho rằng, đây là biện pháp mạnh và cần thiết, nhưng phải được quy định chặt chẽ hơn để bảo đảm đơn giản hóa thủ tục, quy trình thực hiện, không làm phát sinh rào cản hành chính. Tán thành ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, việc xác thực định danh điện tử chỉ thực hiện một lần và sử dụng thống nhất cho mọi giao dịch phát sinh trên nền tảng thương mại điện tử, đại biểu Trần Thị Hiền đề nghị cân nhắc các phương án như: chỉ bắt buộc xác thực định danh đối với các giao dịch vượt quá một ngưỡng giá trị nhất định hoặc cho phép xác thực gián tiếp thông qua hệ thống thanh toán (ngân hàng, ví điện tử); bảo đảm thuận lợi, hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Toàn cảnh thảo luận Tổ 10

Một số đại biểu cũng đánh giá cao dự thảo luật sửa đổi đã cắt giảm mạnh thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được quy định tại các Điều 20, Điều 61, Điều 63. Tuy nhiên, một số quy định có thể làm phát sinh nghĩa vụ mới như: xác thực định danh điện tử đối với giao dịch xuyên biên giới; cung cấp dữ liệu của nền tảng; doanh nghiệp vận chuyển; kết nối hệ thống kho bãi; đánh giá lại kiểm định; lưu giữ và xuất trình dữ liệu kiểm tra sau thông quan. Do đó, đại biểu đề nghị cập nhật đầy đủ danh mục thủ tục, thời gian, tần suất, số lượng đối tượng và chi phí thực hiện; so sánh phương án khai thác dữ liệu sẵn có với phương án yêu cầu cung cấp mới. Cùng với đó, cần ghi nhận nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại dữ liệu đã được cơ quan nhà nước tiếp nhận và có thể khai thác; mặc định sử dụng hồ sơ điện tử, công khai trạng thái xử lý và thời hạn còn lại; một đầu mối tiếp nhận, một lần thanh toán và một kết quả có thể tái sử dụng. Trường hợp dữ liệu thiếu hoặc không thống nhất giữa các cơ quan trách nhiệm phối hợp thuộc cơ quan nhà nước, không chuyển toàn bộ gánh nặng chứng minh sang doanh nghiệp.

Cấm kinh doanh khí N2O (bóng cười) ngoài mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học

Góp ý vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, đại biểu Lê Văn Thế - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình đồng tình với các nội dung cơ bản của Tờ trình và Báo cáo thẩm tra. Việc sửa đổi là bước đi quan trọng, thể hiện quyết tâm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Đại biểu Lê Văn Thế - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ dự án Luật, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đánh giá tác động của việc đưa một số ngành, nghề ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; tiếp tục rà soát tên gọi, phạm vi điều chỉnh của từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để bảo đảm rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng; có cơ chế quản lý thay thế sau khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh. 

Thống nhất với việc bổ sung quy định cấm kinh doanh khí N2O (bóng cười) để sử dụng cho con người qua đường hô hấp ngoài mục đích y tế, công nghệ thực phẩm và kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học. Đây là nội dung cần thiết để tăng cường quản lý nhà nước, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng ngừa việc lạm dụng khí N2O trong thực tiễn. Tuy nhiên, để bảo đảm tính đồng bộ trong chính nội tại của điều luật, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát khoản 2 Điều 6 theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh tương ứng với điểm m khoản 1 Điều 6. Dự thảo hiện mới bổ sung điểm m vào khoản 1 Điều 6, trong khi khoản 2 đang quy định riêng cho các trường hợp tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này; nếu không điều chỉnh đồng bộ thì sẽ dễ phát sinh thiếu thống nhất trong cùng một điều luật và thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc quản lý, sản xuất, kinh doanh, sử dụng khí N2O trong các trường hợp được phép. Do vậy, đại biểu đề nghị khoản 2 Điều 6 sửa lại như sau: “2. Việc sản xuất, sử dụng sản phẩm quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, an ninh và điểm m khoản 1 Điều này trong y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học theo quy định của Chính phủ.”

Cũng quan tâm đến công tác quản lý hoạt động kinh doanh khí N2O (bóng cười), đại biểu Nguyễn Hoàng Hà - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình cho rằng, dự thảo đang quy định theo mục đích sử dụng của người mua, trong khi thực tế cùng một loại khí này có thể sử dụng trong y tế, công nghiệp, chế biến thực phẩm hoặc nghiên cứu khoa học. Như vậy có nghĩa là tại thời điểm giao dịch, người bán rất khó xác định người mua sẽ sử dụng vào mục đích nào. Theo đại biểu, nếu không có cơ chế quản lý rõ ràng, quy định này sẽ gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Hà - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu

Đại biểu cho rằng, việc cấm tuyệt đối theo mục đích sử dụng thường khó kiểm soát, cần quản lý đồng bộ từ khâu sản xuất, nhập khẩu, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng. Do đó, Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung cơ chế quản lý đồng bộ đối với toàn bộ chuỗi cung ứng khí N2O, bao gồm rõ đối tượng được phép mua, trách nhiệm của đơn vị sản xuất và phân phối, cơ chế lưu giữ thông tin giao dịch, truy xuất nguồn gốc và tăng cường hậu kiểm. Có như vậy mới đảm bảo tính khả thi của chính sách và hạn chế việc lợi dụng để lách luật.

Một số đại biểu cũng đề nghị cơ quan soạn thảo quan tâm đến khoản 1 Điều 5 về điều khoản chuyển tiếp đối với hợp đồng kinh doanh khí N2O. Theo đại biểu, quy định hợp đồng ký trước ngày luật có hiệu lực là cần thiết để đảm bảo việc thực hiện quy định cấm. Tuy nhiên, dự thảo mới dừng ở việc cho phép các bên thanh lý hợp đồng, chưa làm rõ, đầy đủ cơ chế xử lý đối với hàng tồn kho, nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các hợp đồng đang thực hiện ra sao. Đây là vấn đề rất thực tế, nếu không làm rõ sẽ dễ phát sinh tranh chấp dân sự, lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện. Vì vậy, Cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung Chính phủ quy định về nội dung này để vừa đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan vào cuối khoản 1 Điều 5 của dự thảo luật.

Theo Cổng Thông tin điện tử Quốc hội

 


Tin liên quan

Tin mới