Cần có giải pháp đồng bộ từ tuyển sinh, đào tạo đến đãi ngộ để giải quyết bài toán thiếu điều dưỡng

Áp lực công việc lớn, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cùng những hạn chế về cơ hội phát triển nghề nghiệp đang khiến ngành Điều dưỡng gặp khó khăn trong thu hút và giữ chân nhân lực.

Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân ngày càng gia tăng, việc phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là đội ngũ điều dưỡng đang được quan tâm hơn bao giờ hết. Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã tiếp tục khẳng định quyết tâm xây dựng hệ thống y tế hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Trước đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt khoảng 25 điều dưỡng trên 1 vạn dân và đến năm 2030 đạt khoảng 33 điều dưỡng trên 1 vạn dân.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy nguồn nhân lực điều dưỡng tại Việt Nam vẫn còn thiếu hụt đáng kể cả về số lượng và cơ cấu phân bổ giữa các tuyến, vùng miền. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân, đồng thời hiện thực hóa các mục tiêu phát triển ngành y tế trong thời gian tới.

Khối lượng công việc lớn nhưng đãi ngộ chưa tương xứng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thầy thuốc Nhân dân, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cho biết: Trong hệ thống y tế hiện đại, điều dưỡng không chỉ là người thực hiện y lệnh mà còn giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình chăm sóc người bệnh.

Theo đó, đây là lực lượng trực tiếp thực hiện các kỹ thuật chuyên môn, chăm sóc và hỗ trợ người bệnh trong sinh hoạt hằng ngày, đồng thời theo dõi, đánh giá diễn biến sức khỏe, tâm lý người bệnh để phối hợp với bác sĩ đưa ra những điều chỉnh điều trị kịp thời. Bên cạnh đó, điều dưỡng còn là cầu nối giữa các bộ phận trong bệnh viện, tham gia quản lý quy trình chăm sóc người bệnh từ khi tiếp nhận đến khi xuất viện, điều phối nhân lực, vật tư và trang thiết bị y tế nhằm bảo đảm hoạt động khám, chữa bệnh diễn ra hiệu quả.

Ngoài nhiệm vụ chăm sóc, đội ngũ này còn hướng dẫn người bệnh và người nhà về chế độ dùng thuốc, dinh dưỡng, chăm sóc sau điều trị, tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe cộng đồng và nghiên cứu, đề xuất các sáng kiến nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Tuy nhiên, với vai trò và trách nhiệm lớn, đội ngũ điều dưỡng hiện đang đối mặt với nhiều áp lực. Theo Tiến sĩ Trương Tuấn Anh, tại nhiều cơ sở y tế, một điều dưỡng phải chăm sóc số lượng lớn người bệnh trong khi vẫn phải dành nhiều thời gian cho hồ sơ, thủ tục hành chính. Áp lực công việc càng gia tăng khi họ thường xuyên làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, đối mặt với các tình huống khẩn cấp và không ít trường hợp phải chịu áp lực từ người bệnh hoặc người nhà người bệnh.

Trong khi đó, chế độ đãi ngộ hiện nay vẫn chưa thực sự tương xứng với khối lượng công việc, trách nhiệm chuyên môn và rủi ro nghề nghiệp mà điều dưỡng phải gánh vác. Thu nhập tại nhiều cơ sở y tế còn thấp, trong khi cơ chế tiền lương chủ yếu dựa trên thâm niên và bằng cấp, chưa phản ánh đầy đủ năng lực thực hành cũng như áp lực công việc thực tế tại từng vị trí.

"Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều điều dưỡng có kinh nghiệm chuyển sang khu vực tư nhân hoặc rời bỏ nghề", thầy Tuấn Anh chia sẻ.

639661651-1657036952266404-7742083676354020053-n.jpg

Thầy thuốc Nhân dân, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Ảnh: website nhà trường.

Theo quan điểm của Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Việt Nam hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng nghiêm trọng. Số điều dưỡng trên 10.000 dân của Việt Nam thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của khu vực và thế giới.

Nếu tại nhiều quốc gia, một bác sĩ thường có từ 3-4 điều dưỡng hỗ trợ thì ở Việt Nam tỷ lệ này chưa đến 2 điều dưỡng/bác sĩ. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải công việc, làm giảm thời gian chăm sóc trực tiếp cho người bệnh và gia tăng nguy cơ xảy ra sai sót chuyên môn.

Với quy mô dân số trên 100 triệu người, nhu cầu nhân lực điều dưỡng của Việt Nam ước tính vào khoảng 260.000 người. Tuy nhiên, hiện cả nước mới có khoảng 140.000 điều dưỡng đang làm việc trong hệ thống y tế. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các chuyên gia, nếu không có những giải pháp đột phá về đào tạo, thu hút và đãi ngộ nhân lực, Việt Nam có thể thiếu từ 40.000 đến 50.000 điều dưỡng vào năm 2030.

Thầy Tuấn Anh cho biết, trên thực tế, một bộ phận sinh viên điều dưỡng sau khi tốt nghiệp không tiếp tục gắn bó với nghề do lo ngại áp lực công việc, trong khi mức thu nhập khởi điểm còn tương đối thấp so với nhiều ngành nghề khác có cùng thời gian đào tạo, chưa tạo được động lực đủ lớn để thu hút và giữ chân nhân lực.

Bên cạnh đó, cơ hội phát triển nghề nghiệp của điều dưỡng vẫn còn những hạn chế nhất định. Hiện nay, ngành Điều dưỡng vẫn chưa có chương trình đào tạo chuyên khoa cấp II, trong khi các chương trình đào tạo chuyên sâu ngắn hạn ở các lĩnh vực như hồi sức tích cực, gây mê hồi sức hay chăm sóc giảm nhẹ còn chưa nhiều, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn tại các cơ sở khám, chữa bệnh.

“Không chỉ tiền lương và phụ cấp chưa tương xứng với khối lượng công việc, cơ hội thăng hạng chức danh nghề nghiệp cũng như tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn của điều dưỡng tại nhiều đơn vị còn hạn chế hơn so với một số ngành nghề khác trong lĩnh vực y tế. Đây là những yếu tố khiến không ít điều dưỡng thiếu động lực để gắn bó lâu dài với nghề”, Tiến sĩ Trương Tuấn Anh nhận định.

Đồng quan điểm, Điều dưỡng Phùng Thị Hải Yến - Trưởng khoa Điều dưỡng Hộ sinh, Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ cũng cho rằng, áp lực nghề nghiệp, chế độ đãi ngộ, nhận thức xã hội về nghề và sự đa dạng lựa chọn việc làm hiện nay là những nguyên nhân chính khiến ngành Điều dưỡng gặp khó khăn trong thu hút người học.

Theo đó, điều dưỡng là lực lượng trực tiếp chăm sóc, theo dõi người bệnh 24/7, thường xuyên làm việc theo ca, trực đêm, trực lễ, Tết và chịu áp lực từ cả người bệnh lẫn người nhà người bệnh.

Bên cạnh đó, mức lương khởi điểm, phụ cấp nghề nghiệp và phụ cấp trực của điều dưỡng mới ra trường tại nhiều cơ sở y tế công lập còn khá khiêm tốn so với khối lượng công việc và trách nhiệm phải đảm nhận.

Ngoài ra, một bộ phận xã hội vẫn chưa nhìn nhận đầy đủ về vai trò của điều dưỡng, còn tồn tại quan niệm đây chỉ là lực lượng hỗ trợ bác sĩ thay vì một ngành nghề độc lập, giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Cùng với đó, sự xuất hiện của nhiều ngành nghề và cơ hội việc làm mới khiến học sinh có thêm lựa chọn sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, đặc biệt là những công việc được cho là ít áp lực hơn hoặc có thu nhập ổn định trong thời gian ngắn.

“Trong khoảng 3-5 năm gần đây, công tác tuyển sinh ngành Điều dưỡng của nhà trường có nhiều biến động và không ít thời điểm gặp khó khăn. So với một số ngành thuộc khối sức khỏe như Dược, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học hay Phục hồi chức năng, ngành Điều dưỡng thường nhận được sự quan tâm lớn ở giai đoạn đầu nhưng tỷ lệ thí sinh quyết định nhập học lại thấp hơn kỳ vọng”, cô Yến thông tin.

707695588-999477672731824-8843124588514094310-n.jpg

Điều dưỡng là lực lượng trực tiếp chăm sóc, theo dõi người bệnh 24/7. Ảnh minh họa: Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ

Làm gì để giữ chân điều dưỡng giỏi trước sức hút từ thị trường quốc tế?

Hiện nay, nhu cầu tuyển dụng điều dưỡng viên Việt Nam tại các quốc gia như Nhật Bản, Đức đang ngày càng gia tăng nhờ chính sách đãi ngộ hấp dẫn. Xu hướng này không chỉ mở ra cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp cho người lao động mà còn đặt ra những thách thức đối với việc đào tạo và giữ chân nguồn nhân lực điều dưỡng chất lượng cao tại Việt Nam.

Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh, việc điều dưỡng Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế là tín hiệu tích cực, góp phần khẳng định chất lượng đào tạo của ngành Điều dưỡng trong nước. Bởi các quốc gia như Đức, Nhật Bản đều có những tiêu chuẩn khắt khe về chuyên môn, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp. Việc điều dưỡng viên Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu này và làm việc hiệu quả ở nước ngoài không chỉ nâng cao uy tín của giáo dục y tế Việt Nam mà còn mở ra cơ hội để nguồn nhân lực y tế trong nước hội nhập sâu hơn với thị trường lao động toàn cầu.

Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực, xu hướng điều dưỡng làm việc ở nước ngoài cũng đặt ra không ít thách thức. Theo thầy, điều đáng lo ngại không nằm ở số lượng nhân lực dịch chuyển mà ở chất lượng của lực lượng này. Phần lớn những người đủ điều kiện làm việc tại các quốc gia phát triển đều là điều dưỡng trẻ, có chuyên môn tốt, trình độ ngoại ngữ cao và khả năng thích ứng nghề nghiệp tốt. Điều này có thể khiến các cơ sở khám, chữa bệnh trong nước đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, việc gia tăng số lượng điều dưỡng làm việc ở nước ngoài cũng tạo áp lực cho hệ thống đào tạo khi phải liên tục bổ sung nguồn nhân lực thay thế trong bối cảnh nhu cầu điều dưỡng trong nước vẫn đang ở mức cao. Trong khi đó, Nhà nước và xã hội đã đầu tư đáng kể cho quá trình đào tạo một điều dưỡng viên đạt chuẩn. Nếu nguồn nhân lực này làm việc ở nước ngoài trong thời gian dài mà không có cơ chế quay trở lại cống hiến, đây cũng là sự thất thoát nguồn lực cần được quan tâm.

Để giải quyết vấn đề này, theo Tiến sĩ Trương Tuấn Anh, cần chuyển từ tư duy hạn chế dịch chuyển lao động sang nâng cao khả năng giữ chân nhân lực. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường phối hợp với bệnh viện và đơn vị sử dụng lao động để xây dựng mô hình đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn, tạo cơ hội việc làm ngay từ quá trình thực tập.

Theo thầy Tuấn Anh, mô hình này đã được Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định triển khai trong những năm gần đây và cho thấy hiệu quả tích cực khi ngày càng nhiều sinh viên được tuyển dụng tại các cơ sở thực hành.

Ngoài ra, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương, phụ cấp nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ phù hợp với tính chất công việc của điều dưỡng. Đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ này được học tập, nâng cao trình độ thông qua các chương trình đào tạo sau đại học, đào tạo chuyên khoa và các khóa bồi dưỡng chuyên môn. Tích cực nghiên cứu các chính sách thu hút điều dưỡng viên trở về nước sau thời gian làm việc ở nước ngoài nhằm tận dụng kinh nghiệm, kỹ năng và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trong nước.

648797819-1669285434374889-3202516735296514617-n.jpg

Các cơ sở đào tạo ngành Điều dưỡng cần đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp từ bậc trung học phổ thông. Ảnh: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

Để thu hút người học lựa chọn ngành Điều dưỡng và giữ chân nhân lực sau đào tạo, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách vĩ mô đến hoạt động đào tạo.

Trước hết cần xây dựng chiến lược truyền thông ở cấp quốc gia nhằm thay đổi những quan niệm chưa đầy đủ về nghề điều dưỡng, khẳng định vị thế của điều dưỡng là những chuyên gia chăm sóc giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế hiện đại. Mặt khác, nghiên cứu áp dụng các cơ chế hỗ trợ đặc thù như miễn, giảm học phí hoặc hỗ trợ chi phí sinh hoạt cho sinh viên ngành Điều dưỡng, có chính sách ưu tiên tuyển dụng đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc hoặc cam kết công tác lâu dài tại vùng khó khăn.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện chế độ tiền lương, phụ cấp và các chính sách đãi ngộ để điều dưỡng có thu nhập tương xứng với khối lượng công việc, trách nhiệm và tính chất đặc thù của nghề. Đồng thời, mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp thông qua việc tăng cường đào tạo sau đại học, đào tạo chuyên sâu như thạc sĩ, tiến sĩ và chuyên khoa cấp II đối với ngành Điều dưỡng.

Đối với các cơ sở đào tạo, Tiến sĩ Trương Tuấn Anh nhấn mạnh sự cần thiết của việc đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp từ bậc trung học phổ thông, giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ về cơ hội nghề nghiệp trong nước và quốc tế. Các trường cũng cần đa dạng hóa phương thức tuyển sinh, mở rộng nguồn tuyển và phát triển các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội.

Đặc biệt, công tác đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu sử dụng nhân lực của các cơ sở y tế. Theo đó, các trường cần tăng cường hợp tác với bệnh viện và doanh nghiệp trong đào tạo, cấp học bổng cho sinh viên gắn với cam kết việc làm sau tốt nghiệp, cũng như đẩy mạnh các mô hình đào tạo theo đặt hàng và đào tạo theo nhu cầu thực tế của đơn vị sử dụng lao động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và giải quyết hiệu quả bài toán thiếu hụt nhân lực điều dưỡng.

Trong khi đó, theo cô Phùng Thị Hải Yến, để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực điều dưỡng hiện nay, cần có giải pháp đồng bộ từ công tác tuyển sinh, đào tạo đến chính sách đãi ngộ nghề nghiệp.

Cụ thể, công tác tuyển sinh cần được đẩy mạnh, tăng cường tư vấn để người học hiểu rõ lộ trình đào tạo, cơ hội việc làm, khả năng thăng tiến và giá trị nhân văn của nghề Điều dưỡng. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế nghề nghiệp và thu hút người học.

Về đào tạo, cần xây dựng lộ trình học tập rõ ràng, tăng cường đào tạo kỹ năng thực hành, tạo hứng thú cho người học thông qua các học phần gắn với thực tiễn nghề nghiệp. Cũng như đẩy mạnh truyền thông về hình ảnh, vai trò của người điều dưỡng trong hệ thống y tế, từng bước xóa bỏ định kiến cho rằng điều dưỡng chỉ là lực lượng hỗ trợ bác sĩ, tăng cường tuyên truyền về cơ hội việc làm và triển vọng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Để tăng sức hút cho ngành Điều dưỡng, cần có các chính sách hỗ trợ thiết thực đối với người học và người hành nghề. Trong đó, việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng, đặt hàng đào tạo cùng với chế độ lương, thưởng và phúc lợi phù hợp sẽ góp phần tạo động lực cho người học lựa chọn và gắn bó lâu dài với nghề.

“Hiện nay, Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ cũng như nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe đang áp dụng chính sách giảm 70% học phí đối với một số ngành theo quy định, trong đó có ngành Điều dưỡng. Chính sách này đã góp phần thu hút đông đảo sinh viên, đặc biệt là học sinh đến từ vùng sâu, vùng xa và những người có hoàn cảnh khó khăn.

Bên cạnh đó, các chương trình học bổng theo học kỳ hoặc năm học cũng tạo thêm động lực cho sinh viên theo đuổi ngành học. Đặc biệt, mô hình đào tạo theo địa chỉ sử dụng, được nhiều bệnh viện và doanh nghiệp đang thiếu nhân lực triển khai, không chỉ giúp tăng sức hút của ngành Điều dưỡng mà còn góp phần giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực cho hệ thống y tế”, cô Yến chia sẻ.

708243797-999477489398509-5175271948519138816-n.jpg

Cần xây dựng lộ trình học tập rõ ràng, tăng cường đào tạo kỹ năng thực hành đối với ngành Điều dưỡng. Ảnh: Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ.

Thời gian qua, Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng sức hút tuyển sinh đối với ngành Điều dưỡng.

Theo đó, nhà trường đã thành lập ban tuyển sinh chuyên trách, đẩy mạnh tư vấn trực tiếp tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và các địa phương lân cận. Đồng thời, công tác tuyển sinh được xác định là nhiệm vụ chung của toàn thể cán bộ, giảng viên, người lao động trong nhà trường, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám hiệu.

Bên cạnh hoạt động tuyển sinh trực tiếp, nhà trường cũng tăng cường tuyển sinh trực tuyến thông qua các nền tảng số và mạng xã hội, đẩy mạnh truyền thông về hình ảnh người điều dưỡng, cơ hội việc làm và triển vọng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Về chất lượng đào tạo, nhà trường chú trọng chuẩn hóa chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và phát triển đội ngũ giảng viên. Công tác đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp được tăng cường ngay từ giai đoạn học tập tại trường trước khi sinh viên tham gia thực hành, thực tập tại các cơ sở y tế.

Ngoài ra, Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, đặc biệt là sử dụng các video và học liệu mô phỏng nhằm giúp sinh viên nâng cao kỹ năng thực hành. Đồng thời, tăng cường đào tạo lâm sàng tại bệnh viện và chú trọng trang bị các kỹ năng mềm cần thiết để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong thực tiễn.

 

Theo Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam


Tin mới