8,5% người trưởng thành Việt Nam mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ, nhiều trường hợp chưa được phát hiện

Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn đang ảnh hưởng đến khoảng 8,5% người trưởng thành tại Việt Nam, tương đương hàng triệu người mắc bệnh. Tuy nhiên, phần lớn người bệnh chưa được chẩn đoán do các triệu chứng chủ yếu xuất hiện trong lúc ngủ và thường bị xem nhẹ.

Theo thống kê của Bộ Y tế, hội chứng ngưng thở khi ngủ hiện gặp ở khoảng 8,5% người trưởng thành Việt Nam, trong đó có khoảng 2,3 triệu trường hợp ở mức độ trung bình đến nặng. Bệnh phổ biến hơn ở nam giới và những người thừa cân, béo phì.

Trên phạm vi toàn cầu, ước tính có khoảng 1 tỷ người mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ ở các mức độ khác nhau, trong đó hơn 400 triệu người mắc bệnh ở mức độ trung bình đến nặng. Tuy nhiên, theo thống kê của Hội Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM), có tới 80% trường hợp chưa được chẩn đoán do các biểu hiện thường chỉ xảy ra trong khi ngủ.

Theo TS.BS Phan Thanh Thủy, Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, hội chứng ngưng thở khi ngủ được chia thành ba nhóm gồm ngưng thở tắc nghẽn, ngưng thở trung ương và ngưng thở hỗn hợp. Trong đó, ngưng thở tắc nghẽn là thể bệnh phổ biến nhất.

Những người có nguy cơ cao bao gồm nam giới, người hút thuốc lá, người thừa cân hoặc béo phì với chỉ số BMI trên 23 kg/m², người có cổ ngắn, hàm nhỏ hoặc có tiền sử gia đình mắc chứng ngủ ngáy và ngưng thở khi ngủ.

Các dấu hiệu thường gặp của bệnh là ngủ ngáy, buồn ngủ quá mức vào ban ngày, cảm giác ngủ không sâu giấc, mệt mỏi sau khi thức dậy hoặc mất ngủ. Người bệnh cũng có thể tỉnh giấc giữa đêm do khó thở, thở hổn hển hoặc cảm giác nghẹt thở. Trong nhiều trường hợp, người thân là người đầu tiên phát hiện bệnh khi nhận thấy người bệnh thường xuyên ngáy to hoặc xuất hiện những cơn ngừng thở trong lúc ngủ.

Hội chứng ngưng thở khi ngủ có mối liên quan chặt chẽ với nhiều bệnh lý tim mạch và chuyển hóa. Bệnh xuất hiện ở khoảng 35% bệnh nhân tăng huyết áp, 50% bệnh nhân rung nhĩ, 50% bệnh nhân suy tim và lên tới 80% người mắc tăng huyết áp kháng trị. Một phân tích tổng hợp tại châu Á cũng cho thấy 73,7% bệnh nhân đột quỵ có kèm theo hội chứng ngưng thở khi ngủ.

Các chuyên gia cảnh báo, một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh là nguy cơ đột tử trong khi ngủ do giảm nghiêm trọng độ bão hòa oxy trong máu, rối loạn nhịp tim hoặc nhồi máu cơ tim cấp.

Theo TS.BS Phan Thanh Thủy, những người đã được chẩn đoán mắc tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim sung huyết, rung nhĩ, đái tháo đường type 2, rối loạn nhận thức, rối loạn tâm trạng hoặc từng bị tai biến mạch não nên được tầm soát hội chứng ngưng thở khi ngủ nếu xuất hiện ít nhất một trong ba dấu hiệu gồm ngủ ngáy, buồn ngủ quá mức vào ban ngày hoặc được người khác ghi nhận có các cơn ngừng thở trong lúc ngủ.

Để chẩn đoán chính xác, người bệnh cần được thăm khám chuyên khoa và thực hiện các kỹ thuật như đo đa ký hô hấp hoặc đa ký giấc ngủ. Dựa trên kết quả đánh giá và mức độ bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp.

Các biện pháp điều trị hiện nay bao gồm giảm cân, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và tăng cường vận động nhằm duy trì cân nặng hợp lý đối với người thừa cân, béo phì. Trong trường hợp có bất thường về cấu trúc đường hô hấp trên như amidan quá phát, hàm nhỏ hoặc tụt hàm dưới, người bệnh có thể được chỉ định phẫu thuật.

Ngoài ra, một số phương pháp khác như sử dụng dụng cụ đẩy hàm dưới ra trước, kích thích dây thần kinh XII hoặc thở máy áp lực dương liên tục (CPAP) cũng được áp dụng. Trong đó, CPAP hiện là phương pháp điều trị không xâm lấn được sử dụng phổ biến và mang lại hiệu quả cao.

Các chuyên gia khuyến cáo, những người thường xuyên ngủ ngáy, buồn ngủ quá mức vào ban ngày hoặc được người thân phát hiện có các cơn ngừng thở khi ngủ cần chủ động đến cơ sở y tế để được thăm khám. Việc phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp hạn chế nguy cơ biến chứng tim mạch, đột quỵ và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác đối với sức khỏe.

Theo Đại Đoàn Kết


Tin liên quan

Tin mới